Chuyển đến nội dung chính
← Tụng Kinh

187. Kinh thuyết trí (MA187)

Bản dịch

Nội dung bài kinh

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng:

“Nếu các Tỳ-kheo đến trước các ngươi nói lên trí mà mình đã chứng đắc, biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’ Các ngươi nghe rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành.

“Sau khi đã khen vị ấy là đúng và hoan hỷ phụng hành rồi, các ngươi nên hỏi Tỳ-kheo ấy như vầy, ‘Này Hiền giả, Thế Tôn đã nói năm thủ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Này Hiền giả, biết thế nào, thấy thế nào năm thủ uẩn này để được biết là không còn chấp thủ, mà dứt sạch các lậu, tâm giải thoát?’

“Tỳ-kheo đã dứt sạch các lậu và biết được rằng phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp lại như vầy, ‘Này chư Hiền, sắc thủ uẩn là không hiệu quả, là không hư, không đáng ham muốn, không bằng hữu, cũng không thể dựa, là pháp biến dịch. Tôi biết như vậy. Nếu đối với sắc thủ uẩn mà có tham dục, có ô nhiễm, có đắm trước, có trói buộc, trói buộc sai sử, tất cả đều bị tận trừ, ly dục, diệt, tịch tĩnh, do đó biết là không còn chấp thủ, dứt sạch các lậu, tâm giải thoát. Cũng như vậy, thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn là không hiệu quả, là không hư, là không đáng ham muốn, không bằng hữu, cũng không thể dựa, là pháp biến dịch. Tôi biết như vậy. Nếu đối với thức thủ uẩn mà có tham dục, có ô nhiễm, có đắm trước, có trói buộc, trói buộc sai sử, thảy đều bị tận trừ, ly dục, diệt, tịch tĩnh, do đó biết là không còn chấp thủ, dứt sạch các lậu, tâm giải thoát. Này chư Hiền, đối với năm thủ uẩn, tôi biết như vậy, thấy như vậy, được rõ biết là không còn chấp thủ, dứt sạch các lậu, tâm được giải thoát.’

“Tỳ-kheo đã dứt sạch các lậu và biết được rằng phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp lại như vậy. Và các ngươi sau khi nghe rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành.

“Khi đã khen là đúng và hoan hỷ phụng hành rồi, lại hỏi Tỳ-kheo ấy như vầy, ‘Này Hiền giả,Thế Tôn đã nói bốn loại thức ăn, chúng sanh nhờ đó mà được tồn tại và được trưởng dưỡng. Những gì là bốn? Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế. Hai là xúc thực. Ba là ý tư thực. Bốn là thức thực.’

“‘Này Hiền giả, biết thế nào, thấy thế nào bốn loại thực này để rõ biết là không còn chấp thủ, đã dứt sạch các lậu, tâm giải thoát?’

“Tỳ-kheo đã dứt sạch các lậu và biết được phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp như vầy, ‘Này chư Hiền, đối với đoàn thực, ý tôi không coi trọng, không coi rẻ, không đam mê, không ràng buộc, không nhiễm, không đắm, được giải thoát, giải thoát một cách rốt ráo, tâm không còn điên đảo; biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’ Cũng như vậy, đối với xúc thực, ý tư thực và thức thực, ý tôi không coi trọng, không coi rẻ, không đam mê, không ràng buộc, không nhiễm, không đắm, được giải thoát, giải thoát một cách rốt ráo, tâm không còn điên đảo; biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’ Này chư Hiền, tôi biết như vậy, tôi thấy như vậy đối với bốn loại thực này, rõ biết không còn chấp thủ, dứt sạch các lậu, tâm giải thoát.’

“Tỳ-kheo đã dứt sạch các lậu, biết mình phạm hạnh đã vững nên như pháp mà đáp như vậy. Các ngươi nghe rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành.

“Sau khi khen là đúng và hoan hỷ phụng hành rồi, lại hỏi Tỳ-kheo ấy như vầy, ‘Này Hiền giả, Đức Thế Tôn đã nói bốn loại tuyên thuyết. Những gì là bốn? Một là cái được thấy thì nói là cái được thấy. Hai là cái được nghe thì nói là cái được nghe. Ba là cái được thức thì nói là cái được thức. Bốn là biết cái được thì nói là cái được biết.’

“‘Này Hiền giả, biết thế nào, thấy thế nào bốn loại tuyên thuyết này để rõ được mình không còn chấp thủ, đã dứt sạch các lậu, tâm được giải thoát?’

“Tỳ-kheo các lậu đã dứt sạch, biết được mình phạm hạnh đã vững, nên như pháp mà đáp như vầy, ‘Này chư Hiền, đối với cái được thấy nói là được thấy, tôi không coi trọng, không coi rẻ, không đam mê, không ràng buộc, không nhiễm, không đắm, được giải thoát, giải thoát một cách rốt ráo, tâm không còn điên đảo; biết một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’ Này chư Hiền, tôi biết như vậy, thấy như vậy đối với bốn loại tuyên thuyết này, tôi biết rõ mình đã dứt sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thoát.’ Tỳ-kheo đã dứt sạch các lậu, tự biết phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp như vậy. Các ngươi sau khi nghe rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành.

“Sau khi khen là đúng và hoan hỷ phụng hành rồi, lại hỏi Tỳ-kheo ấy như vầy, ‘Này Hiền giả,Thế Tôn đã nói pháp sáu nội xứ, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý xứ. Này Hiền giả, biết thế nào, thấy thế nào sáu nội xứ này để biết rõ là đã dứt sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thoát?’

“Tỳ-kheo đã dứt sạch các lậu, tự biết phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp như vầy, ‘Này chư Hiền, đối với mắt và thức con mắt, pháp được biết bởi thức con mắt, tôi đều biết. Sau khi biết hai pháp, này chư Hiền, nếu đối với mắt và thức con mắt, pháp được biết bởi thức con mắt mà ái lạc đã dứt sạch; do dứt sạch, ly dục, diệt, tịch tĩnh mà tôi biết là đã dứt sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thoát. Cũng như vậy, đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý và ý thức, pháp biết bởi ý thức, tôi đều biết. Sau khi biết hai pháp, này chư Hiền, nếu đối với ý và ý thức, pháp được biết bởi ý thức, mà ái lạc đã dứt sạch; do dứt sạch, ly dục, diệt, tịch tĩnh mà đã biết là đã dứt sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thoát. Này chư Hiền, tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với nội lục xứ được biết là đã dứt sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thoát.’ Tỳ-kheo đã dứt sạch các lậu và biết mình phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp như vậy. Các ngươi sau khi nghe rồi nên khen là đúng và hoan hỷ phụng hành.

“Sau khi khen là đúng và hoan hỷ phụng hành rồi nên hỏi vị Tỳ-kheo ấy như vầy, ‘Này Hiền giả, Thế Tôn nói sáu giới: địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới và thức giới. Này Hiền giả, biết thế nào, thấy thế nào sáu giới này để rõ biết mình đã dứt sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thoát?’

“Tỳ-kheo đã dứt sạch phiền não, biết được mình phạm hạnh đã vững, nên như pháp mà đáp như vầy, ‘Này chư Hiền, tôi không thấy rằng địa giới là sở thuộc của tôi. Tôi không phải là sở thuộc của địa giới. Địa giới chẳng phải là tự ngã. Nhưng ba thủ nương địa giới mà trụ và các kết sử dựa vào đó mà sanh. Chúng bị diệt sạch, ly dục, diệt, tịch tĩnh, do đó mà biết là đã dứt sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thoát. Cũng như vậy, thủy, hỏa, phong, không và thức giới chẳng phải sở thuộc của tôi. Tôi không phải sở thuộc của thức giới. Thức giới chẳng phải là tự ngã. Nhưng ba thủ nương địa giới mà trụ và các kết sử dựa vào đó mà sanh. Chúng bị diệt sạch, ly dục, diệt, tịch tĩnh, do đó mà biết là đã dứt sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thoát. Này chư Hiền, tôi biết như vậy, thấy như vậy đối với sáu giới ấy, rõ biết mình đã dứt sạch các lậu, không còn chấp thủ, tâm được giải thoát.’ Tỳ-kheo đã dứt sạch các lậu và biết mình phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp như vậy. Các ngươi sau khi nghe rồi nên khen ngợi là đúng và hoan hỷ phụng hành.

“Sau khi khen ngợi là đúng và hoan hỷ rồi nên hỏi vị Tỳ-kheo ấy như vầy, ‘Này Hiền giả, biếtthế nào, thấy thế nào bên trong thân cùng với thức này và tất cả các tướng bên ngoài, ngã, ngã tác và kết sử mạn, thảy đều đuợc đoạn tri, nhổ tuyệt cội gốc của chúng, không còn tái sanh nữa?’ Tỳ-kheo đã dứt sạch các lậu và biết mình phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp như vầy, ‘Này chư Hiền, thuở xưa, khi tôi chưa xuất gia học đạo đã nhàm tởm sự sanh, già, bệnh, chết, khóc than, khốn khổ, sầu muộn, bi ai; tôi muốn đoạn trừ khối khổ đau to lớn này. Này chư Hiền! Sau khi đã nhàm tởm ghê sợ, tôi quán sát, tại gia là đời sống hẹp hòi, là chốn trần lao bụi bặm. Xuất gia học đạo là đời sống rộng rãi bao la. Nay ta sống đời tại gia bị xiềng xích quấn chặt, không thể trọn đời tịnh tu phạm hạnh. Vậy ta hãy vứt bỏ các tài sản nhỏ và lớn, từ giã thân tộc ít hay nhiều rồi cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình mà học đạo. Này chư Hiền! Sau đó, tôi vứt bỏ tài sản nhỏ và lớn, từ giã thân tộc ít hay nhiều, rồi cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình mà học đạo.

“Này chư Hiền! Sau khi tôi xuất gia học đạo, từ bỏ của cải họ hàng rồi, thọ lãnh cấm giới mà Tỳ-kheo phải tu tập, thủ hộ Biệt giải thoát, tôi lại cẩn thận thu nhiếp các oai nghi lễ tiết, thấy tội nhỏ nhiệm cũng thường ôm lòng lo sợ, nhớ kỹ điều cốt yếu đã học.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ sát sanh, xa lìa sát sanh, xả bỏ kiếm gậy, biết hổ, biết thẹn, nuôi lòng từ bi, làm lợi ích cho tất cả, cho đến loài côn trùng. Tôi đối với sự sát sanh, tâm đã tịnh trừ.

“Tôi từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho; chỉ lấy của đã cho, thích của đã cho, thường thích bố thí, vui vẻ không cầu mong sự đáp lại. Tô đối với sự ưa lấy của không cho, tâm đã tịnh trừ

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ sự phi phạm hạnh, tránh xa phi phạm hạnh, siêng năng tu phạm hạnh, tinh tấn với diệu hành, thanh tịnh không ô uế, từ bỏ dục vọng, dứt trừ dâm dục. Tôi đối với sự phi phạm hạnh, tâm đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói điều chân thật, ưa điều chân thật, dựa trên sự chân thật không sai chạy. Tất cả lời nói của tôi đều đáng tin cậy, không lừa dối thế gian. Tô đối với tâm nói láo, tâm đã dứt trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, tu hạnh không nói hai lưỡi, không phá hoại người khác, không nghe lời người này đem nói với người kia để phá hoại người này, không nghe lời người kia đem nói với người này để phá hoại người kia; người ly gián tôi làm cho hòa hợp, người đã sống hòa hợp, tôi làm cho họ hoan hỷ, không chia phe đảng, không thích phe đảng, không khen ngợi phe đảng. Tôi đối với sự nói hai lưỡi, tôi đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ lời nói thô ác, tránh xa lời nói thô ác, giọng điệu thô bỉ, lớn tiếng, nghịch tai, người nghe không ưa không mến, khiến họ khổ não không định tâm. Tôi đoạn trừ lời nói như vậy. Nếu có lời nói êm dịu, nhẹ nhàng, thuận tai, thông cảm đến tâm, làm cho người nghe vui vẻ, mến chuộng, sung sướng, tiếng nói rõ ràng, không làm cho người khác sợ, trái lại họ được định tâm, tôi nói lời nói như vậy. Tôi đối với sự nói lời độc ác, tâm đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ lời nói thêu dệt, tránh xa lời nói thêu dệt, nói đúng lúc, nói chân thật, nói đúng pháp, nói đúng nghĩa, nói về tịch tĩnh, ưa nói về tịch tĩnh, hợp thời, hợp lý, khéo dạy, khéo la mắng. Tôi đối với sự nói thêu dệt, tâm đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ buôn bán, tránh xa sự buôn bán, xả bỏ thói cân lường và đấu hộc, cũng không nhận hàng hóa, không chèn ép người, không mong gian lận, không vì lợi nhỏ mà lấn lướt người. Tôi đối với sự sinh hoạt buôn bán, tâm đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ không nhận đàn bà góa, con gái thơ, tránh xa việc nhận đàn bà góa, con gái thơ. Đối với việc nhận đàn bà góa, con gái thơ, tâm tôi đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ không nhận nô tỳ, tránh xa việc nhận nô tỳ. Đối với việc nhận nô tỳ, tâm tôi đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ không nhận voi, ngựa, bò, dê; tránh xa việc nhận voi, ngựa, bò, dê. Đối với việc nhận voi, ngựa, trâu, dê, tâm tôi đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ không nhận gà, heo; tránh xa việc nhận gà, heo. Đối với việc nhận gà, heo, tâm tôi đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ không nhận ruộng nương, hàng quán; tránh xa việc nhận ruộng nương, hàng quán. Đối với việc nhận ruộng nương, hàng quán, tâm tôi đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ không nhận lúa giống, lúa mạch, đậu; tránh xa việc nhận lúa giống, lúa mạch, đậu. Đối với việc nhận lúa giống, lúa mạch, đậu, tâm tôi đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ rượu, tránh xa rượu. Đối với việc uống rượu, tâm tôi đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ không dùng giường cao, rộng lớn; tránh xa giường cao, rộng lớn. Đối với việc dùng giường cao, rộng lớn, tâm tôi đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ không trang sức vòng hoa, chuỗi ngọc, hương liệu, dầu thơm; tránh xa không trang sức vòng hoa, ngọc ngà, hương thoa, phấn sáp. Đối với việc trang sức vòng hoa, chuỗi ngọc, hương thoa, phấn sáp, tâm tôi đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ không ca múa, xướng hát và đi xem nghe; tránh xa sự ca múa, xướng hát và đi xem nghe. Đối với sự ca múa, xướng hát và đi xem nghe, tâm tôi đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ không nhận vàng bạc, tránh xa việc nhận vàng bạc. Đối với việc nhận vàng bạc, tâm tôi đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi từ bỏ sự ăn quá ngọ, tránh xa sự ăn quá giữa trưa, ăn đúng giữa trưa, không ăn ban đêm, không ăn phi thời, học ăn đúng thời. Đối với sự ăn quá giữa trưa, tâm tôi đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi đã thành tựu Thánh giới này, thân lại tu hành sự tri túc, áo cốt để che thân, ăn cốt đủ để nuôi thân. Tôi đến chỗ nào mang theo y bát, không có luyến tiếc, ví như chim nhạn cùng với hai cánh bay liệng trong không theo hai cánh, tôi cũng như vậy.

“Này chư Hiền, tôi đã thành tựu Thánh giới thân này và cực tri túc, rồi lại thủ hộ các căn, hường niệm tưởng sự khép kín, niệm tưởng muốn minh đạt, thủ hộ tâm mà được thành tựu, hằng khởi chánh tri. Khi mắt thấy sắc, tôi không chấp thủ tướng của sắc, không đắm nhiễm vị của sắc. Do nguyên nhân gì mà khi nhãn căn không được thủ hộ thì trong tâm sanh tham lam, ưu sầu, ác bất thiện pháp, tôi hướng đến kia mà thủ hộ căn con mắt. Cũng vậy, tai, mũi, lưỡi, thân; khi ý biết pháp, tôi không chấp thủ tướng của pháp, không đắm nhiễm vị của pháp. Do nguyên nhân gì mà khi ý căn không được thủ hộ thì trong tâm sanh tham lam, ưu sầu, ác bất thiện pháp, tôi hướng đến kia mà thủ hộ ý căn.

“Này chư Hiền, tôi đã thành tựu Thánh giới thân này và cực tri túc, Thánh thủ hộ các căn, lại biết rõ chân chánh sự ra vào, khéo quán sát phân biệt sự co, duỗi, cúi, ngước, nghi dung chững chạc, khéo đắp Tăng-già-lê và mang các y bát; đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, nghỉ, nói năng thảy đều biết rõ chân chánh.

“Này chư Hiền, tôi đã thành tựu Thánh giới thân này và cực tri túc, và cũng thành tựu Thánh thủ hộ các căn, chân chánh biết sự ra vào, rồi lại sống cô độc tại nơi xa vắng, ở trong rừng vắng, trong rừng sâu, dưới gốc cây, những nơi trống vắng yên tĩnh, sườn non, động đá, đất trống, lùm cây, hoặc đến trong rừng, hoặc giữa bãi tha ma. Tôi sau khi ở trong rừng vắng, hoặc đến gốc cây, những chỗ không nhàn yên tĩnh, trải ni-sư-đàn, ngồi xếp kiết già, chánh thân chánh nguyện, hướng niệm nội tâm, đoạn trừ tâm tham lam, không có não hại, thấy tài vật và các nhu dụng sinh sống của người khác mà không khởi tâm tham lam muốn khiến về mình. Tôi đối với tham lam, tâm được tịnh trừ. Cũng vậy, đối với sân nhuế, thùy miên, trạo hối, đoạn trừ nghi hoặc, đối với các thiện pháp không còn do dự. Tôi đối với sự nghi hoặc, tâm đã tịnh trừ.

“Này chư Hiền, tôi đã đoạn trừ năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, ly dục, ly ác bất thiện pháp, có giác có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, cho đến, chứng đắc Tứ thiền, thành tựu an trụ.

“Này chư Hiền, tôi đã đắc định tâm như vậy, thanh tịnh không ô uế, không phiền nhiệt, nhu nhuyến, an trú vững vàng, được bất động tâm, hướng đến chứng ngộ trí lậu tận thông. Này chư Hiền, tôi biết như thật rằng, ‘Đây là Khổ’, biết như thật: ‘Đây là Khổ tập’, biết như thật: ‘Đây là Khổ diệt’, và biết như thật: ‘Đây là Khổ diệt đạo.’ Biết như thật, ‘Đây là lậu’, ‘Đây là lậu tập’, ‘Đây là lậu diệt’, và ‘Đây là lậu diệt đạo.’ Biết như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu và vô minh lậu. Khi đã giải thoát liền biết mình đã giải thoát và biết một cách như thật rằng, ‘Sự sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.’ Này chư Hiền, tôi biết như vậy, thấy như vậy đối với bên trong thân cùng với thức này và tất cả các tướng bên ngoài, ngã, ngã tác và kết sử mạn, thảy đều được đoạn tri, nhổ tuyệt cội gốc của chúng, không còn tái sanh nữa.’ Tỳ-kheo đã dứt sạch các lậu và tự biết phạm hạnh đã vững ấy nên như pháp mà đáp như vậy. Các ngươi sau khi nghe rồi, nên khen ngợi là đúng và hoan hỷ phụng hành.

“Sau khi khen ngợi là đúng và hoan hỷ phụng hành rồi, nên nói với vị Tỳ-kheo ấy như vầy, ‘Này Hiền giả, khi Hiền giả vừa nói, chúng tôi đã đẹp lòng, đã hoan hỷ, nhưng chúng tôi muốn theo Hiền giả để tăng tiến càng tăng tiến, mong cầu trí tuệ và ứng đối biện tài. Vì vậy chúng tôi hỏi Hiền giả, rồi lại hỏi nữa.’”

Phật thuyết như vậy, các Tỳ-kheo nghe lời Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.

Nội dung bài kinh

雙品第一

(有五經)

(第五日誦名後誦)

(有三品半合有三十六經)

中阿含經卷第四十九

T 0732a16

T 0732a17

東晉罽賓三藏瞿曇僧伽提婆譯

T 0732a18

T 0732a19

說智阿夷那  拘樓明聖道

T 0732a20

東園論小空  大空最在後

T 0732a21

T 0732a22

我聞如是:

一時,佛遊舍衛國,在勝林給孤

T 0732a23

獨園。

爾時,世尊告諸比丘:「若有比丘來向

T 0732a24

汝說已所得智,我生已盡,梵行已立,所作已

T 0732a25

辦,不更受有,知如真者,汝等聞之,當善然

T 0732a26

可,歡喜奉行。善然可彼,歡喜奉行已,當復

T 0732a27

如是問彼比丘:『賢者!世尊說五盛陰,色盛

T 0732a28

陰,覺、想、行、識盛陰。賢者!云何知、云何見此五

T 0732a29

盛陰,得知無所受,漏盡心解脫耶?』

「漏盡比

T 0732b01

丘得知梵行已立,法者應如是答:『諸賢!色

T 0732b02

盛陰非果、空虛、不可欲、不恒有、不可倚、變

T 0732b03

易法,我知如是。若於色盛陰有欲、有染、有

T 0732b04

著、有縛、縛著使者,彼盡、無欲、滅、息、止,得知

T 0732b05

無所受,漏盡心解脫;如是覺、想、行、識盛陰,非

T 0732b06

果、空虛、不可欲、不恒有、不可倚、變易法,我

T 0732b07

知如是。若於識盛陰有欲、有染、有著、有

T 0732b08

縛、縛著使者,彼盡、無欲、滅、息、止,得知無所

T 0732b09

受,漏盡心解脫。諸賢!我如是知、如是見此五

T 0732b10

盛陰,得知無所受,漏盡心解脫。』漏盡比丘

T 0732b11

得知梵行已立,法者應如是答。

「汝等聞

T 0732b12

之,當善然可,歡喜奉行。善然可彼,歡喜奉行

T 0732b13

已,當復如是問彼比丘:『賢者!世尊說四食,

T 0732b14

眾生以此得存長養。云何為四?一曰摶食

T 0732b15

麤細,二曰更樂,三曰意念,四曰識也。賢者!云

T 0732b16

何知、云何見此四食,得知無所受,漏盡心解

T 0732b17

脫耶?』

「漏盡比丘得知梵行已立,法者應如

T 0732b18

是答:『諸賢!我於摶食,意不高不下,不

T 0732b19

倚不縛,不染不著,得解得脫,盡得解脫,

T 0732b20

心離顛倒,生已盡,梵行已立,所作已辦,不更

T 0732b21

受有,知如真。如是更樂、意念、識食,不高不

T 0732b22

下,不倚不縛,不染不著,得解得脫,盡得

T 0732b23

解脫,心離顛倒,生已盡,梵行已立,所作已辦,

T 0732b24

不更受有,知如真。諸賢!我如是知,如是見

T 0732b25

此四食,得知無所受,漏盡心解脫。』漏盡比丘

T 0732b26

得知梵行已立,法者應如是答。

「汝等聞

T 0732b27

之,當善然可,歡喜奉行。善然可彼,歡喜奉行

T 0732b28

已,當復如是問彼比丘:『賢者!世尊說四說。

T 0732b29

云何為四?一曰見見說,二曰聞聞說,三曰

T 0732c01

識識說,四曰知知說。賢者!云何知、云何見此

T 0732c02

四說,得知無所受,漏盡心解脫耶?』

「漏盡比

T 0732c03

丘得知梵行已立,法者應如是答:『諸賢!我

T 0732c04

於見見說,不高不下,不倚不縛,不染不

T 0732c05

著,得解得脫,盡得解脫,心離顛倒,生已盡,

T 0732c06

梵行已立,所作已辦,不更受有,知如真。如

T 0732c07

是聞聞、識識、知知說,不高不下,不倚不

T 0732c08

縛,不染不著,得解得脫,盡得解脫,心離

T 0732c09

顛倒,生已盡,梵行已立,所作已辦,不更受有,

T 0732c10

知如真。諸賢!我如是知、如是見此四說,得

T 0732c11

知無所受,漏盡心解脫。』漏盡比丘得知梵

T 0732c12

行已立,法者應如是答。

「汝等聞之,當善然

T 0732c13

可,歡喜奉行。善然可彼,歡喜奉行已,當復

T 0732c14

如是問彼比丘:『賢者!世尊說內六處,眼處,

T 0732c15

耳、鼻、舌、身、意處。賢者!云何知、云何見此內六

T 0732c16

處,得知無所受,漏盡心解脫耶?』

「漏盡比丘

T 0732c17

得知梵行已立,法者應如是答:『諸賢!我

T 0732c18

於眼及眼識,眼識知法俱知,二法知已。諸

T 0732c19

賢!若眼及眼識,眼識知法,樂已盡,彼盡、無欲、

T 0732c20

滅、息、止,得知無所受,漏盡心解脫,如是耳、

T 0732c21

鼻、舌、身、意及意識,意識知法俱知,二法知已。

T 0732c22

諸賢!若意及意識,意識知法,樂已盡,彼盡、無

T 0732c23

欲、滅、息、止,得知無所受,漏盡心解脫。諸賢!

T 0732c24

我如是知、如是見此內六處,得知無所受,

T 0732c25

漏盡心解脫。』漏盡比丘得知梵行已立,法

T 0732c26

者應如是答。

「汝等聞之,當善然可,歡喜奉

T 0732c27

行。善然可彼,歡喜奉行已,當復如是問彼

T 0732c28

比丘:『賢者!世尊說六界,地界、水界、火界、風界、

T 0732c29

空界、識界。賢者!云何知、云何見此六界,得

T 0733a01

知無所受,漏盡心解脫耶?』

「漏盡比丘得知

T 0733a02

梵行已立,法者應如是答:『諸賢!我不見地

T 0733a03

界是我所,我非地界所,地界非是神,然謂

T 0733a04

三受依地界住,識使所著,彼盡、無欲、滅、息、

T 0733a05

止,得知無所受,漏盡心解脫。如是水、火、風、空、

T 0733a06

識界,非是我所,我非識界所,識界非是神,

T 0733a07

然謂三受依識界住,識使所著,彼盡、無欲、

T 0733a08

滅、息、止,得知無所受,漏盡心解脫。諸賢!我

T 0733a09

如是知、如是見此六界,得知無所受,漏盡

T 0733a10

心解脫。』漏盡比丘得知梵行已立,法者應

T 0733a11

如是答。

「汝等聞之,當善然可,歡喜奉行。善

T 0733a12

然可彼,歡喜奉行已,當復如是問彼比丘:

T 0733a13

『賢者!云何知、云何見,此內身共有識及外諸

T 0733a14

相,一切我、我作及慢使斷知,拔絕根本,終

T 0733a15

不復生?』

「漏盡比丘得知梵行已立,法者應

T 0733a16

如是答:『諸賢!我本未出家學道時,厭生老

T 0733a17

病死、啼泣困苦、愁慼憂悲,欲斷此大苦陰。

T 0733a18

諸賢!我厭患已而作是觀,在家至狹,塵勞

T 0733a19

之處,出家學道,發露曠大。我今在家,為鎖所

T 0733a20

鎖,不得盡形壽淨修梵行,我寧可捨少

T 0733a21

財物及多財物,捨少親族及多親族,剃除鬚

T 0733a22

髮,著袈裟衣,至信、捨家、無家、學道。諸賢!我

T 0733a23

於後時捨少財物及多財物,捨少親族及

T 0733a24

多親族,剃除鬚髮,著袈裟衣,至信、捨家、無家、

T 0733a25

學道。諸賢!我出家學道,捨族相已,受比丘

T 0733a26

要,修習禁戒,守護從解脫,又復善攝威儀

T 0733a27

禮節,見纖介罪,常懷畏怖,受持學要。

「『諸

T 0733a28

賢!我離殺,斷殺,棄捨刀杖,有慚有愧,有

T 0733a29

慈悲心,饒益一切乃至蜫蟲,我於殺生淨

T 0733b01

除其心。我離不與取,斷不與取,與而後取,

T 0733b02

樂於與取,常好布施,歡喜無恡,不望其報,

T 0733b03

我於不與取淨除其心。諸賢!我離非梵行,

T 0733b04

斷非梵行,勤修梵行,精勤妙行,清淨無穢,

T 0733b05

離欲斷婬,我於非梵行淨除其心。諸賢!

T 0733b06

我離妄言,斷於妄言,真諦言,樂真諦,住真

T 0733b07

諦,不移動,一切可信,不欺世間,我於妄言

T 0733b08

淨除其心。諸賢!我離兩舌,斷於兩舌,行不

T 0733b09

兩舌,不破壞他,不此聞語彼,欲破壞此,

T 0733b10

不彼聞語此,欲破壞彼,離者欲合,合者歡

T 0733b11

喜,不作群黨,不樂群黨,不稱群黨,我於

T 0733b12

兩舌淨除其心。

「『諸賢!我離麤言,斷於麤言。

T 0733b13

若有所言,辭氣麤獷,惡聲逆耳,眾所不喜,

T 0733b14

眾所不愛,使他苦惱,令不得定,斷如是

T 0733b15

言。若有所說,清和柔潤,順耳入心,可喜可

T 0733b16

愛,使他安樂,言聲具了,不使人畏,令他

T 0733b17

得定,說如是言,我於麤言淨除其心。諸

T 0733b18

賢!我離綺語,斷綺語,時說、真說、法說、義說、止

T 0733b19

息說,樂止息諍事,順時得宜,善教善呵,我

T 0733b20

於綺語淨除其心。諸賢!我離治生,斷於治

T 0733b21

生,棄捨稱量及斗斛,亦不受貨,不縛束人,

T 0733b22

不望折斗量,不以小利侵欺於人,我於

T 0733b23

治生淨除其心。

「『諸賢!我離受寡婦、童女,斷

T 0733b24

受寡婦、童女,我於受寡婦、童女淨除其心。

T 0733b25

諸賢!我離受奴婢,斷受奴婢,我於受奴婢

T 0733b26

淨除其心。諸賢!我離受象、馬、牛、羊,斷受象、

T 0733b27

馬、牛、羊,我於受象、馬、牛、羊淨除其心。諸賢!

T 0733b28

我離受雞、猪,斷受雞、猪,我於受雞、猪淨

T 0733b29

除其心。諸賢!我離受田業、店肆,斷受田業、

T 0733c01

店肆,我於受田業、店肆淨除其心。諸賢!我

T 0733c02

離受生稻、麥、豆,斷受生稻、麥、豆,我於受

T 0733c03

生稻、麥、豆淨除其心。諸賢!我離酒,斷酒,我

T 0733c04

於飲酒淨除其心。諸賢!我離高廣大床,斷

T 0733c05

高廣大床,我於高廣大床淨除其心。諸賢!

T 0733c06

我離華鬘、瓔珞、塗香、脂粉,斷華鬘、瓔珞、塗

T 0733c07

香、脂粉,我於花鬘、瓔珞、塗香、脂粉淨除其

T 0733c08

心。諸賢!我離歌舞倡伎及往觀聽,斷歌舞倡

T 0733c09

伎及往觀聽,我於歌舞倡伎及往觀聽淨除

T 0733c10

其心。諸賢!我離受生色像寶,斷受生色像

T 0733c11

寶,我於受生色像寶淨除其心。諸賢!我離

T 0733c12

過中食,斷過中食,一食、不夜食、學時食,我於

T 0733c13

過中食淨除其心。

「『諸賢!我已成就此聖戒

T 0733c14

身,復行知足,衣取覆形,食取充軀,我所往

T 0733c15

處,衣鉢自隨,無有顧戀。猶如鴈鳥與兩翅

T 0733c16

俱飛翔空中,我亦如是。諸賢!我已成就此

T 0733c17

聖戒身及極知足,復守諸根,常念閉塞,念

T 0733c18

欲明達,守護念心,而得成就,恒欲起意。若

T 0733c19

眼見色,然不受相,亦不味色,謂忿諍故,

T 0733c20

守護眼根。心中不生貪伺、憂慼、惡不善法,趣

T 0733c21

向彼故,守護眼根。如是耳、鼻、舌、身,若意知

T 0733c22

法,然不受相,亦不味法,謂忿諍故,守護意

T 0733c23

根。心中不生貪伺、憂慼、惡不善法,趣向彼

T 0733c24

故,守護意根。諸賢!我已成就此聖戒身及極

T 0733c25

知足,聖護諸根,正知出入,善觀分別,屈伸低

T 0733c26

仰,儀容庠序,善著僧伽梨及諸衣鉢,行住

T 0733c27

坐臥、眠寤語默,皆正知之。

「『諸賢!我已成就

T 0733c28

此聖戒身及極知足,亦成就聖護諸根,

T 0733c29

得正知出入,獨住遠離在無事處,或至樹

T 0734a01

下空安靖處,山巖石室、露地穰

[卄/積]

,或至林

T 0734a02

中,或在塜間。諸賢!我已在無事處,或至

T 0734a03

樹下空安靖處,敷尼師檀,結跏趺坐,正身

T 0734a04

正願,及念不向,斷除貪伺,心無有諍。見

T 0734a05

他財物、諸生活具,不起貪伺,欲令我得,我

T 0734a06

於貪伺淨除其心。如是瞋恚、睡眠、調悔,

T 0734a07

斷疑度惑,於諸善法無有猶豫,我於疑

T 0734a08

惑淨除其心。諸賢!我已斷此五蓋、心穢、慧

T 0734a09

羸,離欲、離惡不善之法,至得第四禪成就

T 0734a10

遊。諸賢!我已得如是定心清淨,無穢無煩,

T 0734a11

柔軟善住,得不動心,趣向漏盡通智作證。

T 0734a12

「『諸賢!我知此苦如真,知此苦習、知此苦

T 0734a13

滅、知此苦滅道如真,知此漏、知此漏習、

T 0734a14

知此漏滅、知此漏滅道如真。彼如是知、如

T 0734a15

是見,欲漏心解脫,有漏、無明漏心解脫,解脫

T 0734a16

已便知解脫,生已盡,梵行已立,所作已

,不

T 0734a17

更受有,知如真。諸賢!我如是知、如是見,內

T 0734a18

身有識及外諸相,一切我、我行及慢使斷知,

T 0734a19

拔絕根本,終不復生。』漏盡比丘得知梵行

T 0734a20

已立,法者應如是答。

「汝等聞之,當善然可,

T 0734a21

歡喜奉行。善然可彼,歡喜奉行已,當復如

T 0734a22

是語彼比丘:『賢者!初說我等已可意歡喜,

T 0734a23

然我等欲從賢者上復上,求智慧應答辯

T 0734a24

才,以是故我等從賢者問復問耳。』」

佛說如

T 0734a25

是。彼諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。

T 0734a26

說智經第一竟

(二千八百四十六字)

T 0734a27

3

⚙️ Cài Đặt

Chế độ đọc

🖼️ Hình Nền

🎵 Nhạc Nền

☰ Mục Lục

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc