Chuyển đến nội dung chính
← Tụng Kinh

193. Kinh mâu-lê-phá-quần-na (MA193)

Bản dịch

Nội dung bài kinh

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na thường tu tập với các Tỳ-kheo-ni. Nếu có vị nào trước mặt Mâu-lê-phá-quần-na mà nói xấu các Tỳ-kheo-ni, ông liền sân hận, hằn học cho đến cãi vã. Hoặc có vị nào trước mặt Tỳ-kheo-ni nói xấu Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na các Tỳ-kheo-ni nghe vậy liền sân hận hằn học cho đến cãi vã. Một số đông các Tỳ-kheo nghe như vậy liền đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân, ngồi qua một bên thưa rằng:

“Bạch Đức Thế Tôn, Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na thường tụ tập với các Tỳ-kheo-ni. Nếu có vị nào trước mặt Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na nói xấu các Tỳ-kheo-ni, thầy ấy nghe vậy liền sân hận, hằn học cho đến cãi vã. Hoặc có vị nào trước mặt các Tỳ-kheo nói xấu Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na, các Tỳ-kheo-ni nghe vậy liền sân hận, hằn học cho đến cãi vã.”

Đức Thế Tôn nghe rồi liền bảo một Tỳ-kheo: “Hãy đến chỗ Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na mà nói rằng: Đức Thế Tôn gọi thầy.”

Một Tỳ-kheo nghe Phật dạy như vậy bèn thưa: “Kính vâng, bạch Thế Tôn”, rồi cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi ra đi.

Vị Tỳ-kheo đó đến chỗ Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na nói rằng: “Đức Thế Tôn gọi thầy.”

Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na nghe vậy liền đến chỗ Phật đảnh lễ dưới chân ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn nói:

“Phá-quần-na, có thật ngươi thường tụ hội cùng các Tỳ-kheo-ni? Và có vị nào trước mặt ngươi nói xấu các Tỳ-kheo-ni, ngươi nghe vậy liền sân hận, hằn học cho đến cãi vã. Hoặc có vị nào trước mặt các Tỳ-kheo-ni nói xấu ngươi, các Tỳ-kheo-ni ấy liền sân hận hằn học, cho đến cãi vã? Phá-quần-na, có thật vậy không?”

Phá-quần-na thưa rằng:

“Bạch Thế Tôn! Điều đó có thật.”

Thế Tôn liền hỏi:

“Phá-quần-na, ngươi há không phải là chí tín, lìa bỏ gia đình sống không gia đình mà học đạo?”

Phá-quần-na đáp:

“Đúng như vậy, bạch Thế Tôn!”

Đức Phật hỏi:

“Phá-quần-na, như vậy, ngươi chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình mà học đạo, phải học như thế này, nếu có dục, có niệm nào y cứ trên thế tục, hãy đoạn trừ. Nếu có dục, có niệm nào y trên vô dục, hãy tập, hãy tu, hãy phát triển rộng lớn. Phá-quần-na, ngươi nên học như vậy.”

Rồi Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo:

“Các ông có phải chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình mà học đạo chăng?”

Các Tỳ-kheo đáp:

“Thưa phải, bạch Thế Tôn.”

Thế Tôn lại bảo:

“Các ông chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, mà học đạo, hãy học như thế này, nếu có dục, có niệm nào y trên thế tục, hãy đoạn trừ. Nếu có dục, có niệm nào y trên vô dục, hãy tập, hãy tu, hãy phát triển rộng lớn. Các ngươi hãy học như vậy.

“Một thời, Ta đã từng nói với các Tỳ-kheo rằng, ‘Này các Tỳ-kheo, hoặc có Tỳ-kheo được nhiều người biết đến, hoặc có Tỳ-kheo ít được biết đến, tất cả các vị ấy hãy học nhất tọa thực. Học nhất tọa thực rồi, vô vi, vô cầu, không bệnh tật, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, an ổn sảng khoái.’ Các Tỳ-kheo ấy, hoặc được nhiều người biết đến, hoặc ít được người biết đến, tất cả đều học theo điều nhất tọa thực. Sau khi học theo điều nhất tọa thực, vô vi, vô cầu, không tật bệnh, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, an ổn, sảng khoái. Những Tỳ-kheo ấy hài lòng Ta. và Ta cũng không phải khuyên giáo, khiển trách nhiều. Các Tỳ-kheo nhân đó mà sanh khởi suy niệm pháp tùy pháp hành.

“Cũng như người điều khiển chiếc xe ngựa, tay trái cầm cương, tay phải cầm roi, nó theo tám con đường mà đi, muốn đến nơi nào cũng được. Các Tỳ-kheo như vậy rất hài lòng Ta, và Ta cũng không phải khuyên giáo, khiển trách nhiều. Các Tỳ-kheo nhân đó sanh khởi suy niệm pháp tùy pháp hành.

“Cũng như khoảng đất tốt có rừng cây sa-la. Người dọn rừng kia thông minh sáng suốt, không biếng nhác, tùy lúc mà dọn sửa gốc rễ cây sa-la, thường cào bừa những rác rưới và luôn luôn tưới nước, san bằng chỗ cao, lấp bằng chỗ thấp, hai bên nếu cỏ dại mọc đầy thì nhổ bỏ đi, nếu cây nào cong queo, xấu xí, không ngay thẳng, thì nhổ gốc bỏ ra ngoài, nếu có nhánh nào đâm ngang và cong, thì chắt xuống hoặc uốn lại, nếu gần biên vừa mới mọc thêm cây nào đều đặn ngay thẳng, thì tùy lúc mà sửa soạn, thường cào bừa đi những rác rưới và thường tưới nước. Như vậy, trên khu đất tốt kia rừng cây sa-la càng ngày càng sầm uất. Cũng vậy các Tỳ-kheo làm hài lòng Ta và Ta cũng khỏi phải khuyến giáo, khiển trách nhiều.

“Ta không nói các Tỳ-kheo là thiện ngữ, cung thuận, do nguyên nhân các nhu dụng sinh sống, y bát, ẩm thực, giường chõng. Vì sao vậy? Tỳ-kheo ấy nếu không nhận được các thứ ấy thì trả lại bằng sự không thiện ngữ cung thuận, mà lại bẩm thụ đức tánh không thiện ngữ cung thuận.

“Nếu có Tỳ-kheo vì viễn ly, y trên viễn ly, sống nơi viễn ly, mà thiện ngữ cung thuận, bẩm thụ đức tánh thiện ngữ cung thuận, Ta nói vị ấy thật sự là thiện ngữ cung thuận. Vì sao vậy? Ở đây, một Tỳ-kheo khéo thủ hộ, khéo an trú chỉ vì người khác không nói cộc cằn. Nếu người khác ăn nói cộc cằn thì không phẫn nộ, cũng không thù nghịch, cũng không ưu sầu, oán hận, không hằn học giận dữ, không lộ vẻ hung bạo. Các Tỳ-kheo kia sau khi thấy vậy bèn nghĩ rằng ‘Hiền giả thật là người nhẫn nhục, ôn hòa, giỏi chịu đựng, giỏi tự chủ, khéo định, khéo trầm tĩnh.’ Nếu người khác ăn nói cộc cằn thì liền hằn học, thù nghịch, ưu phiền, ôm hận, lộ vẻ hung dữ. Các Tỳ-kheo kia thấy vậy bèn nói ‘Hiền giả này ngoan cố, nóng nảy, thô lỗ, không định, không tự chủ, không trầm tĩnh.’ Vì sao vậy?

“Này các Tỳ-kheo, có một nữ gia chủ tên là Tì-đà-đề, rất giàu sang sung sướng, có nhiều tiền tài, sản nghiệp súc mục không thể kể xiết, phong hộ thực ấp, lúa gạo đầy đủ, và biết bao nhu dụng sinh sống khác. Bấy giờ nữ gia chủ Tì-đà-đề được vang danh khắp nơi với tiếng tốt như vầy: ‘Nữ gia chủ Tì-đà-đề là người nhẫn nhục, nhu thuận, ôn hòa, giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm tịnh.’

“Bấy giờ nữ gia chủ ấy có một nữ tỳ tên là Hắc hầu hạ. Nữ tỳ ăn nói dịu dàng, ít nhiều hành thiện. Hắc nữ tỳ ấy bèn nghĩ rằng ‘Chủ nhân ta, nữ gia chủ Tì-đà-đề được vang danh khắp nơi với tiếng tốt như vầy: Nữ gia chủ Tì-đà-đề là người nhu thuận, nhẫn nhục, ôn hòa, giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm tịnh. Nay ta hãy thử xem chủ nhân nữ gia chủ Tì-đà-đề thật sự có sân hay không sân.’

“Rồi Hắc nô tỳ nằm ngủ không dậy sớm. Phu nhân gọi dậy, ‘Hắc tỳ, sao ngươi không dậy sớm?’ Hắc tỳ nghe vậy bèn nghĩ rằng ‘Chủ nhân ta, nữ gia chủ Tì-đà-đề, sự thật có sân chứ không phải không sân, nhưng vì ta giỏi lo liệu việc nhà, giỏi quán xuyến và chu tất, khiến cho chủ ta nữ gia chủ Tì-đà-đề được vang danh với tiếng tốt như vầy: ‘Nữ gia chủ Tì-đà-đề là người nhẫn nhục, nhu thuận, ôn hòa, giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm tịnh.’ Nay ta hãy thử thách hơn nữa xem chủ ta, nữ gia chủ Tì-đà-đề thật sự có sân hay không sân.’

“Rồi Hắc nữ tỳ ngủ không dậy sớm. Phu nhân gọi dậy, ‘Hắc tỳ, sao ngươi dậy quá trễ vậy?’

“Hắc nữ tỳ nghe vậy bèn suy nghĩ, ‘Chủ ta, nữ gia chủ Tì-đà-đề thật sự có sân chớ không phải không sân. Nhưng vì ta khéo lo liệu việc nhà, giỏi quán xuyến và chu tất, nên chủ ta nữ gia chủ Tì-đà-đề mới có được vang danh với tiếng tốt như vầy: ‘Nữ gia chủ Tì-đà-đề là người nhẫn nhục, nhu thuận, ôn hòa, giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm tịnh.’ Nay ta lại thử thách thật lớn, xem chủ ta, nữ gia chủ Tì-đà-đề thật sự có sân hay không sân.

“Rồi Hắc nữ tỳ ngủ đến xế trưa mới dậy. Phu nhân gọi: ‘Hắc tỳ, sao ngươi ngủ đến xế trưa mới dậy? Ngươi đã không chịu làm việc, cũng không bảo người khác làm. Con Hắc tỳ này không nghe ta dạy. Con Hắc tỳ này khinh mạn ta.’ Bèn thịnh nộ, hằn học, trán nổi ba đường gân, mặt mày nhăn nhó, tự mình đến cánh cửa đang đóng, rút then cửa, tay cầm gậy đánh vào đầu nữ tỳ. Nó vỡ đầu chảy máu. Với cái đầu máu chảy, Hắc nữ tỳ chạy qua nói với hàng xóm, lớn tiếng phân bua, nói xấu đủ điều rằng: ‘Này các ngài, hãy xem việc làm của người nhẫn nhục, nhu thuận, ôn hòa, giỏi tự chế, khéo định tĩnh, khéo trầm tịnh là như vậy chăng? Người ấy mắng chửi tôi: ‘Con Hắc tỳ này không nghe lời ta dạy, con Hắc tỳ này khinh mạn ta.’ Rồi thịnh nộ, trán nổi ba đường gân, mặt mày nhăn nhó, tự mình đi đến cánh cửa đang đóng, rút then cửa, tay cầm gậy, đánh vào đầu tôi, vỡ đầu chảy máu.’ Bấy giờ, nữ gia chủ Tì-đà-đề được đồn xa với tiếng xấu như vầy: ‘Nữ gia chủ Tì-đà-đề hung dữ, nóng nảy, thô lỗ, không tự chế, không định tĩnh, không trầm tịnh.’

“Cũng vậy, ở đây, một người khéo thủ hộ, khéo đi, khéo đến, là do người khác không nói lời cộc cằn. Khi người khác không nói lời cộc cằn, vị ấy không phẫn nộ, không hằn học, không ưu phiền oán hận, không giận dữ thù nghịch, không lộ vẻ hung dữ. Các Tỳ-kheo kia thấy vậy, bèn nghĩ: ‘Hiền giả này là người nhẫn nhục, ôn hòa, giỏi chịu đựng, khéo tự chế, khéo định tĩnh, khéo tịch tịnh.’ Nếu khi có người khác nói lời cộc cằn bèn phẫn nộ, hằn học, ưu phiền oán hận, giận dữ, thù nghịch, lộ vẻ hung dữ, các Tỳ-kheo khác thấy vậy bèn nghĩ rằng: ‘Hiền giả này hung dữ, nóng nảy, thô lỗ, không định tĩnh, không tự chế, không tịch tịnh.’

“Lại nữa, có năm con đường của ngôn ngữ, hoặc nói đúng thời hay không đúng thời, hoặc nói chân thật hay không chân thật, hoặc nói dịu dàng hay cứng ngắt, hoặc nói từ hòa hay sân nhuế, hoặc nói có có nghĩa hay không có nghĩa.

Với năm con đường ngôn ngữ này, các ngươi nếu khi người khác nói mà với tâm bị biến đổi, có thể miệng phát ra lời nói cộc cằn, Ta nói các ngươi do đó mà bị suy thoái.

“Các người hãy học, với năm con đường ngôn ngữ này, khi người khác nói mà tâm không bị biến đổi, miệng không phát ra lời nói cộc cằn, hãy hướng đến kẻ thù nghịch, hãy duyên nơi kẻ thù nghịch mà khởi tâm từ mẫn, tâm tương ưng với từ biến mãn một phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương tứ duy, trên dưới, bao trùm tất cả, tâm tương ưng với từ, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Cũng vậy, bi và hỷ. Tâm tương ưng với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn, vô lượng, vô biên khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các ngươi hãy học như vậy.

“Cũng như một người cầm cái cuốc rất lớn đến và nói rằng: ‘Tôi có thể làm cho cả mặt đất nay trở thành không phải đất.’ Người ấy bèn đào chỗ này, chỗ kia, rồi nhổ nước miếng, nước tiểu để làm dơ bẩn. Khi người nói lời thô ác nói như vầy: ‘Mong cả mặt đất này không phải là đất.’ Ý ngươi nghĩ sao? Người ấy do phương tiện ấy có thể làm cho mặt đất trở thành không phải mặt đất được chăng?”

Các Tỳ-kheo trả lời rằng:

“Không thể được bạch Thế Tôn! Vì sao vậy? Vì cõi đất này rất sâu rất rộng, không thể lường được. Cho nên người kia với phương tiện ấy không thể nào làm cho cõi đất này trở thành không phải đất. Bạch Thế Tôn, người ấy chỉ tự gây phiền nhọc vô ích mà thôi.”

“Cũng vậy, với năm con đường ngôn ngữ này mà khi người khác nói, đúng thời hay không đúng thời, chân thật hay không chân thật, dịu dàng hay cứng ngắt, từ hòa hay sân nhuế, nói có nghĩa hay không có nghĩa. Các ngươi đối với năm con đường ngôn ngữ này, khi người khác nói mà tâm biến đổi, hay miệng phát ra lời nói thô ác, Ta nói các ngươi do đó mà tất phải suy thoái. Các ngươi hãy học, với năm con đường của ngôn ngữ này. Khi người khác nói mà tâm không biến đổi, miệng không phát ra lời nói thô ác, hướng đến người nói ấy, duyên nơi người nói ấy mà khởi tâm từ mẫn, như mặt đất tâm hành không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trú. Các ngươi hãy học như vậy.

“Cũng như một người cầm cây đuốc bằng cỏ rất lớn mà nói như vầy: ‘Tôi với cây đuốc bằng cỏ này đun nóng sông Hằng cho sôi sục lên.’ Các ngươi nghĩ sao? Người ấy bằng phương tiện ấy có thể làm cho sông Hằng nóng và sôi lên chăng?”

Các Tỳ-kheo trả lời rằng:

“Không thể được, bạch Thế Tôn! Vì sao vậy? Vì sông Hằng kia rất sâu, rất rộng không thể do lường được. Cho nên người ấy với phương tiện ấy không thể làm cho sông Hằng nóng và sôi sục lên được. Bạch Thế Tôn, người ấy chỉ tự gây phiền nhọc vô ích mà thôi.”

“Cũng vậy, với năm con đường ngôn ngữ này, nếu người khác nói đúng thời hay không đúng thời, nói chân thật hay không chân thật, nói dịu dàng hay cứng ngắt, nói từ hòa hay sân nhuế, nói có nghĩa hay không nghĩa; các ngươi đối với năm con đường ngôn ngữ này mà khi người khác nói, hoặc tâm biến đổi, hoặc miệng phát ra lời nói thô ác. Ta nói các ngươi do đó tất bị suy thoái. Các ngươi hãy học năm con đường ngôn ngữ này, nếu khi người khác nói mà tâm không biến đổi, miệng không phát ra lời thô ác, hướng đến người ấy, duyên nơi người ấy, khởi tâm từ mẫn, tâm hành như sông Hằng, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn, vô lượng vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các người hãy học như vậy.

“Cũng như thợ vẽ hay đệ tử của thợ vẽ, tay cầm đủ các loại màu và nói như thế này: ‘Ở nơi hư không này, tôi vẽ lên các hình tượng.’ Rồi y tô lên các loại màu. Các ngươi nghĩ sao? Thợ vẽ hay đệ tử của thợ vẽ ấy, bằng phương tiện ấy, có thể vẽ lên hư không các hình tượng, rồi tô lên các loại màu này chăng?”

Các Tỳ-kheo đáp:

“Không thể, bạch Thế Tôn! Vì sao vậy? Hư không này không phải là vật sắc, không thể thấy, không có đối ngại. Do đó, thợ vẽ hay đệ tử của thợ vẽ, bằng phương tiện ấy không thể vẽ lên hư không các hình tượng rồi tô lên các loại màu. Thợ vẽ và đệ tử của thợ vẽ chỉ tự gây phiền nhọc vô ích mà thôi.”

“Cũng vậy, bằng năm con đường ngôn ngữ này mà người khác nói, hoặc đúng thời hay không đúng thời, hoặc chân thật hay không chân thật, hoặc dịu dàng hay thô lỗ, hoặc từ hòa hay sân nhuế, hoặc có nghĩa hay không có nghĩa, các ngươi đối với năm con đường ngôn ngữ này mà khi người khác nói, tâm không biến đổi. Miệng không phát ra lời thô ác, hướng đến người khác nói, duyên nơi người khác nói, mà khởi tâm từ mẫn, tâm hành hư không, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các ngươi hãy học như vậy.

“Cũng như một cái túi bằng da mèo đã được thuộc mềm, rất mềm nhũn, hết tiếng xì xộp, không còn tiếng xì xộp, và có một người hoặc nắm hoặc đấm, hoặc lấy đá chọi, hoặc dùng gậy đánh, hoặc lấy dao chém, hoặc đập xuống đất. Các ngươi nghĩ sao? Cái túi da mèo đã được thuộc mềm, rất mềm nhũn, làm hết tiếng xì xộp, không còn tiếng xì xộp, bấy giờ lại phát ra tiếng kêu xì xộp nữa chăng?”

Các Tỳ-kheo đáp:

“Không thể được, bạch Thế Tôn! Vì sao vậy? Vì cái túi ấy bằng da mèo đã được thuộc mềm, rất mềm nhũn, làm hết tiếng xì xộp, không còn tiếng xì xộp nữa, cho nên nó không còn phát ra tiếng xì xộp nữa.”

“Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có người khác, nắm tay đấm các ngươi, hoặc vác đá chọi, hoặc xách gậy đánh, hoặc lấy dao chém các ngươi, nếu khi bị người khác nắm tay đấm, vác đá chọi, dùng gậy đánh, lấy dao chém, mà tâm biến đổi, hoặc miệng phát ra lời thô ác, Ta nói các ngươi nhân đó tất bị suy thoái. Các ngươi hãy học như vậy. Nếu bị người khác nắm tay đấm, vác đá chọi dùng gậy đánh, lấy dao chém, tâm không biến đổi, miệng không phát ra lời thô ác, hướng đến người đánh đập, duyên nơi người đánh đập mà khởi tâm từ mẫn, tâm hành như cái túi da mèo, không kết, không oán, không nhuế, không tranh, rộng rãi, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các ngươi hãy học như vậy.

“Nếu có giặc cướp đến, bằng lưỡi cưa bén, cắt xẻ tay chân chi tiết. Này các ngươi, nếu có giặc cướp đến, dùng lưỡi cưa bén mà xẻ tay chân chi tiết các ngươi mà các ngươi hoặc tâm biến đổi, hoặc miệng phát ra lời thô ác, Ta nói các ngươi nhân đó tất bị suy thoái. Các ngươi hãy học như vậy: nếu có giặc cướp đến, dùng lưỡi cưa bén cưa xẻ tay chân các ngươi chi tiết, mà tâm không biến đổi, miệng không phát ra lời thô ác, hướng đến người cắt xả ấy, duyên nơi người cắt xả ấy mà khởi tâm từ mẫn, tâm tương ưng với từ, biến mãn một phương, thành tựu an trụ. Cũng vậy, hai, ba, bốn phương, tứ duy trên dưới, bao trùm tất cả tâm tương ưng với từ, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Cũng vậy, bi và hỷ. Tâm tương ưng với xả, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, rộng lớn, vô lượng, vô biên, khéo tu tập, biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu an trụ. Các ngươi hãy học như vậy.”

Rồi bấy giờ Đức Thế Tôn tán thán các Tỳ-kheo:

“Lành thay! Lành thay! Các Tỳ-kheo luôn luôn suy niệm thí về lưỡi cưa bén cho giáo huấn của Sa-môn. Các ngươi sau khi luôn luôn suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn của Sa-môn rồi, các ngươi há còn thấy rằng: Người kia nói lời thô ác không khả ái đối với ta, sau khi ta nghe không thể chịu đựng nổi chăng?”

Các Tỳ-kheo đáp:

“Không có, bạch Thế Tôn!”

Đức Thế Tôn lại tán thán các Tỳ-kheo:

“Lành thay! Lành thay! Các ngươi hãy luôn luôn suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn. Sau khi luôn luôn suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn, các ngươi nếu sống ở phương Đông, chắc chắn được an lạc, không có các khổ nạn. Nếu sống ở phương Nam, phương Tây và phương Bắc, cũng chắc chắn được an lạc, không có các khổ hoạn.

“Lành thay! Lành thay! Các ngươi luôn luôn suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn. Các ngươi sau khi suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn, đối với các thiện pháp các ngươi đã an trụ, Ta còn không nói, huống nữa là nói đến sự suy thoái. Chỉ còn sự tăng trưởng thiện pháp ngày đêm, chứ không còn sự suy thoái nữa.

“Lành thay! Lành thay! Các ngươi hãy luôn luôn suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn; các ngươi sau khi luôn luôn suy niệm về thí dụ lưỡi cưa bén cho giáo huấn Sa-môn rồi, trong hai quả chắc chắn được một. Hoặc ngay trong đời hiện tại mà chứng đắc Cứu cánh trí, hoặc chứng A-na-hàm nếu còn hữu dư y.”

Đức Phật thuyết như vậy, các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.

Nội dung bài kinh

T 0744a06

我聞如是:

一時,佛遊舍衛國,在勝林給孤

T 0744a07

獨園。

爾時,牟犁破群那與比丘尼數共集

T 0744a08

會。若有人向牟犁破群那比丘道說比

T 0744a09

丘尼者,彼聞已,便瞋恚憎嫉,乃至鬪諍。若有

T 0744a10

人向諸比丘尼道說牟犁破群那比丘者,

T 0744a11

諸比丘尼聞已,便瞋恚憎嫉,乃至鬪諍。

眾多

T 0744a12

比丘聞已,便往詣佛,稽首佛足,却坐一面,

T 0744a13

白曰:「世尊!牟

破群那比丘與比丘尼數

T 0744a14

共集會。若有人向牟犁破群那比丘道說

T 0744a15

比丘尼者,彼聞已,便瞋恚憎嫉,乃至鬪諍。若

T 0744a16

有人向諸比丘尼道說牟犁破群那比丘

T 0744a17

者,諸比丘尼聞已,便瞋恚憎嫉,乃至鬪諍。」

T 0744a18

尊聞已,告一比丘:「汝往牟犁破群那比丘

T 0744a19

所,而語之曰:『世尊呼汝。』」

一比丘聞已:「唯然

T 0744a20

世尊!」即從坐起,稽首佛足,繞三匝而去。至

T 0744a21

牟犁破群那比丘所,而語之曰:「世尊呼汝!」

T 0744a22

牟犁破群那聞已,來詣佛所,為佛作禮,却

T 0744a23

坐一面。

世尊告曰:「破群那!汝實與比丘尼

T 0744a24

數共集會。若有人向汝道說比丘尼者,汝

T 0744a25

聞已,便嗔恚憎嫉,乃至鬪諍。若有人向諸

T 0744a26

比丘尼道說汝者,諸比丘尼聞已,便嗔

T 0744a27

恚憎嫉,乃至鬪諍。破群那!汝實如是耶?」

破群

T 0744a28

那答曰:「實爾。世尊!」

世尊復問曰:「破群那!汝

T 0744a29

非至信、捨家、無家、學道耶?」

破群那答曰:「唯然。

T 0744b01

世尊!」

世尊告曰:「破群那!是以汝至信、捨家、無

T 0744b02

家、學道者,應當學。若有欲有念依家,斷是。

T 0744b03

若有欲有念依於無欲,是習是修,是廣布

T 0744b04

也。破群那!汝當如是學。」

爾時,世尊問諸比

T 0744b05

丘曰:「汝等非至信、捨家、無家、學道耶?」

諸比

T 0744b06

丘答曰:「唯然。世尊!」

世尊復告諸比丘曰:「是

T 0744b07

以汝等至信、捨家、無家、學道者,應當學。若有

T 0744b08

欲有念依家,斷是。若有欲有念依於無欲,

T 0744b09

是習是修,是廣布也,汝等當如是學。昔時

T 0744b10

我曾告諸比丘:『汝等!若有比丘多所知識,

T 0744b11

若有比丘少所知識,彼一切盡學一坐食,

T 0744b12

學一坐食已,無為無求,無有病痛,身體輕

T 0744b13

便,氣力康強,安隱快樂。』彼諸比丘多所知識

T 0744b14

及少知識,盡學一坐食,學一坐食已,無為

T 0744b15

無求,無有病痛,身體輕便,氣力康強,安隱

T 0744b16

快樂。彼諸比丘可於我心,我亦不多教訶。

T 0744b17

諸比丘因此生念向法次法,猶如馬車,御

T 0744b18

者乘之,左手執轡,右手執策,隨八道行,

T 0744b19

在意所至。如是諸比丘可於我心,我亦不

T 0744b20

多教訶。諸比丘因此生念向法次法,猶如

T 0744b21

良地有娑羅樹林,彼治林者,聰明

慧而

T 0744b22

不懈怠,彼隨時治娑羅樹根,數數鋤糞,以

T 0744b23

水溉灌,高者掘下,下者填滿。若邊生惡草,

T 0744b24

薅除棄之,若並生曲戾惡不直者,拔根著

T 0744b25

外,若枝生橫曲,則落治之,若近邊新生

T 0744b26

調直好者,便隨時治,數數鋤糞,以水溉灌,

T 0744b27

如是彼良地娑羅樹林轉轉茂盛。如是諸比

T 0744b28

丘可於我心,我亦不多教訶。彼我不說

T 0744b29

彼善語恭順,謂因衣鉢、飲食、床榻、湯藥、諸生

T 0744c01

活具故。所以者何?彼比丘若不得是還不

T 0744c02

善語恭順,成就不善語恭順法。

「若有比丘

T 0744c03

為遠離、依遠離、住遠離,善語恭順,成就善

T 0744c04

語恭順法者,我說彼善語恭順。所以者何?或

T 0744c05

有一善護善逝行者,謂因他無惡語言

T 0744c06

也。若他不惡語言者,便不瞋恚,亦不憎嫉,

T 0744c07

不憂纏住,不憎嗔恚,不發露惡。彼諸比丘

T 0744c08

見已,便作是念:『此賢者忍辱溫和堪耐,善制

T 0744c09

善定善息。』若他惡語言者,便嗔恚憎嫉,而

T 0744c10

憂纏住憎恚發惡。彼諸比丘見已,便作是念:

T 0744c11

『此賢者惡性急弊麤獷,不定不制不息。』所以

T 0744c12

者何?

「比丘!昔時有居士婦,名鞞陀提,極大

T 0744c13

富樂,多有錢財,畜牧產業不可稱計,封戶、

T 0744c14

食邑、米穀豐饒,及若干種諸生活具。爾時,居

T 0744c15

士婦鞞陀提如是大有名稱,流布諸方,居士

T 0744c16

婦鞞陀提忍辱堪耐溫和,善制善定善息。爾

T 0744c17

時,居士婦鞞陀提有婢名黑,本侍者,有妙

T 0744c18

善言,少多行善。彼黑婢作是念:『我大家居士

T 0744c19

婦鞞陀提如是有大名稱,流布諸方,居士

T 0744c20

婦鞞陀提忍辱堪耐溫和,善制善定善息,我

T 0744c21

今寧可試大家居士婦鞞陀提,為實嗔、為

T 0744c22

實不嗔耶?』

「於是,黑婢臥不早起。夫人呼曰:

T 0744c23

『黑婢!何不早起耶?』黑婢聞已,便作是念:『我

T 0744c24

大家居士婦鞞陀提實瞋,非不瞋也。但因

T 0744c25

我善能料理家業、善經營、善持故,令我大

T 0744c26

家居士婦

陀提如是有極大名稱,流布諸

T 0744c27

方,居士婦鞞陀提忍辱堪耐溫和,善制善定

T 0744c28

善息。我今寧可復更大試大家居士婦鞞陀

T 0744c29

提,為實嗔、為實不嗔耶?』

「於是,黑婢臥極

T 0745a01

晚不起。夫人呼曰:『黑婢!何以極晚不起耶?』

T 0745a02

黑婢聞已,作是念:『我大家居士婦鞞陀提實

T 0745a03

瞋,非不瞋也。但因我善能料理家業、善經營、

T 0745a04

善持故,令我大家居士婦鞞陀提如是有

T 0745a05

極大名稱,流布諸方,居士婦鞞陀提忍辱堪

T 0745a06

耐溫和,善制善定善息耳。我今寧可復更極

T 0745a07

大試大家居士婦鞞陀提,為實瞋、為實不

T 0745a08

瞋耶?』

「於是,黑婢臥至晡時乃起。夫人呼曰:

T 0745a09

『黑婢!何以乃至晡時起,既不自作,亦不教

T 0745a10

作,此黑婢不隨我教,此黑婢輕慢於我。』便

T 0745a11

大瞋恚而生憎嫉,額三脉起,皺面自往,閉戶

T 0745a12

下關,手執大杖以打其頭,頭破血流。於是,

T 0745a13

黑婢頭破血流,便出語比隣,訟聲紛紜,多

T 0745a14

所道說:『尊等!見是忍辱行人堪耐溫和,善制

T 0745a15

善定善息行耶?罵我曰:「黑婢!何以乃至晡

T 0745a16

時起,既不自作,亦不教作,此黑婢不隨

T 0745a17

我教,此黑婢輕慢於我。」便大瞋恚而生憎

T 0745a18

嫉,額三脉起,皺面自來,閉戶下關,手執大

T 0745a19

杖以打我頭,頭破血流。』爾時,居士婦鞞陀提

T 0745a20

如是便有極大惡名,流布諸方,居士婦鞞

T 0745a21

陀提惡性急弊麤獷,不定不制不息。

「如是。

T 0745a22

或有一善護善逝行者,謂因他無惡語言

T 0745a23

也。若他不惡語言者,便不瞋恚,亦不憎

T 0745a24

嫉,不憂纏住,不增瞋恚,不發露惡。彼諸

T 0745a25

比丘見已,便作是念:『此賢者忍辱溫和堪耐,

T 0745a26

善制善定善息。』若他惡語言者,便瞋恚憎嫉

T 0745a27

而憂纏住,憎恚發惡。彼諸比丘見已,便作是

T 0745a28

念:『此賢者惡性急弊麤獷,不定不制不息。』

T 0745a29

「復次,有互言道,若他說者,或時或非時,或

T 0745b01

真或非真,或軟或堅,或慈或恚,或有義或

T 0745b02

無義。汝等!此互言道,若他說時,或心變易

T 0745b03

者,或口惡言者,我說汝等因此必衰,汝等

T 0745b04

當學此互言道。若他說時,心不變易,口無

T 0745b05

惡言,向怨家人緣彼起慈愍心,心與慈俱,

T 0745b06

遍滿一方成就遊。如是二三四方、四維上下,

T 0745b07

普周一切,心與慈俱,無結無怨,無恚無諍,極

T 0745b08

廣甚大,無量善修,遍滿一切世間成就遊。如

T 0745b09

是悲、喜心與捨俱,無結無怨,無恚無諍,極廣

T 0745b10

甚大,無量善修,遍滿一切世間成就遊,汝等

T 0745b11

當學如是。猶如有人持大鏵鍬來,而作是

T 0745b12

語:『我能令此大地,使作非地。』彼便處處掘

T 0745b13

復掘,唾溺污之,說惡語言,作如是說:『令

T 0745b14

大地非地。』於意云何?彼人以此方便,能令

T 0745b15

大地作非地耶?」

諸比丘答曰:「不也。世尊!所

T 0745b16

以者何?此大地甚深極廣而不可量,是故彼

T 0745b17

人以此方便,不能令此大地使作非地。

T 0745b18

世尊!但使彼人唐自疲勞也。」

「如是,此互言

T 0745b19

道,若他說者,或時或非時,或真或不真,或軟

T 0745b20

或堅,或慈或恚,或有義或無義。汝等!此互

T 0745b21

言道,若他說時,或心變易者,或口惡言者,我

T 0745b22

說汝等因此必衰,汝等當學此互言道。若

T 0745b23

他說時,心不變易,口無惡言,向言說者,緣

T 0745b24

彼起慈愍心,心行如地,無結無怨,無恚無諍,

T 0745b25

極廣甚大,無量善修,遍滿一切世間成就遊,

T 0745b26

汝等當學如是。猶如有人持大草炬,作

T 0745b27

如是語:『我以此草炬,用熱恒伽水,令作

T 0745b28

沸湯。』於意云何?彼人以此方便,能令恒伽

T 0745b29

水熱作沸湯耶?」

諸比丘答曰:「不也。世尊!所

T 0745c01

以者何?世尊!彼恒伽水甚深極廣,不可度

T 0745c02

量。是故彼人以此方便,不能令恒伽水熱

T 0745c03

使作沸湯。世尊!但使彼人唐自疲勞也。」

「如

T 0745c04

是。此互言道,若他說者,或時或非時,或嗔

T 0745c05

或不瞋,或軟或堅,或慈或恚,或有義或無

T 0745c06

義。汝等!此互言道,若他說時,或心變易者,

T 0745c07

或口惡言者,我說汝等因此必衰。汝等當

T 0745c08

學此互言道,若他說時,心不變易,口無惡

T 0745c09

言,向言說者,緣彼起慈愍心,心行如恒伽

T 0745c10

水,無結無怨,無恚無諍,極廣甚大,無量善修,

T 0745c11

遍滿一切世間成就遊,汝等當學如是。猶

T 0745c12

如畫師、畫師弟子,持種種彩來,彼作是說:

T 0745c13

『我於此虛空畫作形像,以彩莊染。』於意

T 0745c14

云何?彼畫師、畫師弟子以此方便,寧能於虛

T 0745c15

空畫作形像,以彩莊染耶?」

諸比丘答曰:「不

T 0745c16

也。世尊!所以者何?世尊!此虛空非色,不可見

T 0745c17

無對。是故彼畫師、畫師弟子以此方便,不

T 0745c18

能於虛空畫作形像,以彩莊染。世尊!但

T 0745c19

使彼畫師、畫師弟子唐自疲勞也。」

「如是,此

T 0745c20

互言道,若他說者,或時或非時,或真或不真,

T 0745c21

或軟或堅,或慈或恚,或有義或無義。汝等!此

T 0745c22

互言道,若他說時,或心變易者,或口惡言

T 0745c23

者,我說汝等因此必衰。汝等當學此互言

T 0745c24

道,若他說時,心不變易,口無惡言,向言說

T 0745c25

者,緣彼起慈愍心,心行如虛空,無結無怨,

T 0745c26

無恚無諍,極廣甚大,無量善修,遍滿一切世

T 0745c27

間成就遊,汝等當學如是。猶如猫皮囊柔

T 0745c28

治極軟,除

[車/瓦]

[車/瓦]

聲,無

[車/瓦]

[車/瓦]

聲。彼或有人以

T 0745c29

手拳扠,石擲杖打,或以刀斫,或撲著地,

T 0746a01

於意云何?彼猫皮囊柔治極軟,除

[車/瓦]

[車/瓦]

聲,

T 0746a02

[車/瓦]

[車/瓦]

聲,彼寧復有

[車/瓦]

[車/瓦]

聲耶?」

諸比丘

T 0746a03

答曰:「不也。世尊!所以者何?世尊!彼猫皮囊柔

T 0746a04

治極軟,除

[車/瓦]

[車/瓦]

聲,無

[車/瓦]

[車/瓦]

聲。是故無復

T 0746a05

[車/瓦]

[車/瓦]

聲。」

「如是。諸比丘!若有他人拳扠

T 0746a06

石擲,杖打刀斫,汝等若為他人拳扠石擲,杖

T 0746a07

打刀斫時,或心變易者,或口惡言者,我說汝

T 0746a08

等因此必衰。汝等當學,若為他人拳扠石

T 0746a09

擲,杖打刀斫時,心不變易,口不惡言,向捶

T 0746a10

打人緣彼起慈愍心,心行如猫皮囊,無結

T 0746a11

無怨,無恚無諍,極廣甚大,無量善修,遍滿一

T 0746a12

切世間成就遊,汝等當學如是。若有賊來,

T 0746a13

以利鋸刀節節解截,汝等若有賊來,以利

T 0746a14

鋸刀節節解截時,或心變易者,或口惡言者,

T 0746a15

我說汝等因此必衰。汝等當學,若有賊來,

T 0746a16

以利鋸刀,節節解截,心不變易,口無惡言

T 0746a17

向割截人,緣彼起慈愍心,心與慈俱,遍滿

T 0746a18

一方成就遊。如是二三四方、四維上下,普周一

T 0746a19

切,心與慈俱,無結無怨,無恚無諍,極廣甚

T 0746a20

大,無量善修,遍滿一切世間成就遊。如是

T 0746a21

悲、喜心與捨俱,無結無怨,無恚無諍,極廣甚

T 0746a22

大,無量善修,遍滿一切世間成就遊,汝等當

T 0746a23

學如是。」

於是,世尊歎諸比丘曰:「善哉!善哉!

T 0746a24

汝等當數數念利鋸刀喻沙門教,汝等數數

T 0746a25

念利鋸刀喻沙門教已,汝等頗見他不愛惡

T 0746a26

語言向我,我聞已,不堪耐耶?」

諸比丘答曰:

T 0746a27

「不也。世尊!」

世尊復歎諸比丘曰:「善哉!善哉!

T 0746a28

汝等當數數念利鋸刀喻沙門教,汝等數數

T 0746a29

念利鋸刀喻沙門教已,若汝遊東方,必得

T 0746b01

安樂,無眾苦患;若遊南方、西方、北方者,必

T 0746b02

得安樂,無眾苦患。善哉!善哉!汝等當數數

T 0746b03

念利鋸刀喻沙門教,汝等數數念利鋸刀喻

T 0746b04

沙門教已,我尚不說汝諸善法住,況說衰

T 0746b05

退?但當晝夜增長善法而不衰退。善哉!善

T 0746b06

哉!汝等當數數念利鋸刀喻沙門教,汝等

T 0746b07

數數念利鋸刀喻沙門教已,於二果中必

T 0746b08

得其一,或於現世得究竟智,或復有餘

T 0746b09

得阿那含。」

佛說如是。彼諸比丘聞佛所說,

T 0746b10

歡喜奉行。

T 0746b11

破群那經第二竟

(三千三百五十八字)

T 0746b12

中阿含經卷第五十

(七千八百二十五字)

3

⚙️ Cài Đặt

Chế độ đọc

🖼️ Hình Nền

🎵 Nhạc Nền

☰ Mục Lục

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc