Nội dung bài kinh
Kệ tóm tắt:
Nhất thiết trí, Pháp nghiêm,
Tì-ha, Đệ nhất đắc,
Ái sanh, và Bát thành,
Hai A-na-luật-đà,
Các Kiến, và Tiễn dụ,
Kinh Lệ ở sau cùng.
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại nước Uất-đầu-tùy-nhã, trong rừng Phổ cức thích.
Bấy giờ vua nước Câu-tát-la là Ba-tư-nặc nghe Sa-môn Cù-đàm đang trú tại Uất-đầu-tùy-nhã, trong rừng Phổ cức thích. Sau khi nghe như vậy, Ba-tư-nặc, vua nước Câu-tát-la, bảo một người rằng: “Ngươi đi đến chỗ Sa-môn Cù-đàm, thay mặt ta mà thăm hỏi rằng, ‘Thánh thể có khương cường, an lạc không tật bệnh, đi đứng thoải mái, khí lực bình thường chăng?’ Rồi nói như vầy, ‘Vua nước Câu-tát-la là Ba-tư-nặc, kính lời thăm hỏi rằng ‘Thánh thể được khang cường, an lạc không tật bệnh, đi đứng thoải mái, khí lực như thường chăng?’ Ngươi lại nói thêm rằng, ‘Vua nước Câu-tát-la là Ba-tư-nặc muốn đến gặp.’” Người ấy lãnh giáo đến chỗ Phật, cùng Ngài chào hỏi rồi lui ngồi một bên mà thưa rằng:
“Bạch Cù-đàm, vua nước Câu-tát-la là Ba-tư-nặc kính lời thăm hỏi Thánh thể được khang cường, an lạc không tật bệnh, đi đứng thoải mái khi lực như thường chăng? Vua nước Câu-tát-la là Ba-tư-nặc muốn đến gặp.”
Đức Thế Tôn đáp rằng:
“Mong vua nước Câu-tát-la là Ba-tư-nặc được an ổn khoái lạc. Mong cho Trời, Người, A-tu-la, Kiền-tháp-hòa, La-sát và mọi loài khác cũng được an ổn khoái lạc. Vua nước Câu-tát-la là Ba-tư-nặc muốn đến, xin cứ tự tiện tùy ý.”
Sứ giả nghe Phật nói, ghi nhớ kỹ, rồi rời chỗ ngồi đứng dậy nhiễu ba vòng rồi lui về.
Bấy giờ Tôn giả A-nan đứng sau lưng Đức Thế Tôn, quạt hầu Phật. Sau khi người sứ giả đi rồi, Đức Thế Tôn quay lại bảo rằng:
“Này A-nan, ông cùng Ta sang ngôi nhà lớn hướng phía Đông, mở cửa sổ ra và đóng cửa lớn lại, vào trong chỗ kín đáo ấy. Hôm nay Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, nhất tâm, không loạn động, muốn nghe và thọ lãnh Chánh pháp.”
Khi ấy Tôn giả A-nan bạch Phật rằng:
“Kính vâng.”
Rồi Đức Thế Tôn dẫn A-nan sang ngôi nhà lớn hướng phía Đông kia, mở cửa sổ ra và đóng cửa lớn lại, dọn chỗ ngồi ở chỗ kín đáo, trải ni-sư-đàn và kiết già mà ngồi.
Lúc đó sứ giả trở về chỗ Ba-tư-nặc, vua nước Câu-tát-la, thưa:
“Tâu Thiên vương, tôi đã thông báo cho Sa-môn Cù-đàm và Sa-môn Cù-đàm đang chờ Thiên vương. Cúi xin Thiên vương nên biết đúng thời.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la bảo người đánh xe rằng:
“Ngươi hãy sửa soạn xa giá. Hôm nay Ta muốn đến thăm Sa-môn Cù-đàm.”
Người đánh xe lãnh giáo, tức thì sửa soạn xa giá.
Bấy giờ chị em Hiền và Nguyệt đang ngồi ăn với Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, nghe nói hôm nay Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la sẽ đến thăm Phật, liền tâu rằng:
“Tâu Thiên vương, nếu hôm nay ngài đến thăm Đức Thế Tôn, xin thay chúng tôi cúi đầu thăm hỏi Đức Thế Tôn Thánh thể Ngài khỏe mạnh, an lạc, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực như thường chăng? Đại vương nói như vầy, ‘Chị em Hiền và Nguyệt cúi đầu thăm hỏi Thế Tôn, Thánh thể Ngài khỏe mạnh, an lạc, không tật bệnh, đi đứng thoải mái, khí lực bình thường chăng?’”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la im lặng nhận lời chị em Hiền và Nguyệt.
Lúc đó người đánh xe sửa soạn xa giá đã xong, đến tâu rằng:
“Tâu Thiên vương, xa giá trang nghiêm đã xong, xin vâng ý Thiên vương.”
Vua nghe xong, lên xe rời khỏi Uất-đầu-tùy-nhã, đi đến rừng Phổ cức thích.
Lúc đó ngoài cửa rừng Phổ cức thích, một số đông các Tỳ-kheo đi kinh hành trên khoảng đất trống. Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la đến hỏi các Tỳ-kheo rằng:
“Bạch chư Hiền, Sa-môn Cù-đàm hôm nay ở đâu? Tôi muốn đến thăm.”
Chư Tỳ-kheo đáp rằng:
“Nơi phía Đông kia, tâu Đại vương, tại ngôi nhà lớn hướng phía Đông, có cửa sổ mở và cửa lớn đóng, Đức Thế Tôn đang ở trong đó. Đại vương muốn thăm thì đến nhà ấy, đứng ngoài mà tằng hắng và gõ cửa, Đức Thế Tôn sẽ mở cửa.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la liền xuống xe, với đám tùy tùng vây quanh, đi bộ về ngôi nhà lớn hướng phía Đông ấy. Đến nơi, vua đứng phía ngoài tằng hắng và gõ cửa. Đức Thế Tôn nghe, liền ra mở cửa. Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la vào trong ngôi nhà ấy, đến trước chỗ Phật, bạch rằng:
“Bạch Cù-đàm, chị em Hiền và Nguyệt cúi đầu thăm hỏi Thế Tôn rằng, ‘Thánh thể Ngài khỏe mạnh, an lạc, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực như thường chăng?’”
Thế Tôn hỏi rằng:
“Chị em Hiền và Nguyệt không có người sai sao?”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la bạch rằng:
“Bạch Cù-đàm, mong Ngài biết cho, hôm nay chị em Hiền và Nguyệt cùng ngồi ăn với con, nghe con muốn đến thăm Phật, bèn thưa rằng, ‘Đại vương, nếu ngài đến thăm Phật, xin thay chúng tôi cúi đầu thăm hỏi Đức Thế Tôn, Thánh thể Ngài khỏe mạnh, an lạc, không bệnh tật, đi đứng thoải mái, khí lực bình thường chăng?’ Nên con bạch lại như vậy cùng Thế Tôn rằng, chị em Hiền và Nguyệt cúi đầu thăm hỏi Thế Tôn ‘Thánh thể Ngài khỏe mạnh an lạc, không tật bệnh đi đứng thoải mái, khí lực như thường chăng?’ Bạch Cù-đàm, chị em Hiền và Nguyệt cúi đầu thăm hỏi Đức Thế Tôn, Thánh thể Ngài khỏe mạnh, an lạc, không tật bệnh, đi đứng thoải mái, khí lực bình thường chăng?”
Thế Tôn đáp:
“Đại vương, mong cho chị em Hiền và Nguyệt an ổn, khoái lạc, mong cho Trời, Người, A-tu-la, Kiền-đáp-hòa, La-sát cùng mọi loài khác an ổn khoái lạc.”
Bấy giờ Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nói lời thăm hỏi Phật rồi lui ngồi một bên bạch rằng:
“Bạch Cù-đàm, con có điều muốn hỏi mong Ngài nghe chuyện con mới dám trình bày.”
Thế Tôn đáp rằng:
“Này Đại vương, có điều gì muốn hỏi cứ tự ý mà hỏi.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la hỏi rằng:
“Bạch Cù-đàm, con nghe Sa-môn Cù-đàm nói như vầy, ‘Trong quá khứ không có, trong tương lai không có, và hiện tại cũng không có, không có Sa-môn, Bà-la-môn nào là bậc nhất thiết trí, nhất thiết kiến.’ Bạch Cù-đàm, Ngài có nhớ là đã nói như vậy chăng?
Thế Tôn đáp rằng:
“Đại vương, Ta nhớ là đã không nói như vậy, ‘Trong quá khứ không có, trong tương lai không có, và hiện tại không có, không có Sa-môn, Bà-la-môn nào là bậc nhất thiết trí, nhất thiết kiến.’”
Lúc đó Đại tướng Tì-lưu-la đứng sau lưng Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, cầm phất trần hầu vua. Rồi Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la quay lại nói với Đại tướng Tì-lưu-la rằng:
“Hôm trước Ta ngồi với đại chúng, ai là người đầu tiên nói rằng, ‘Sa-môn Cù-đàm nói như vầy, ‘Trong quá khứ không có, trong tương lai không có và trong hiện tại cũng không có, không có Sa-môn, Bà-la-môn nào là bậc nhất thiết trí, nhất thiết kiến’?”
Đại tướng Tì-lưu-la đáp rằng:
“Tâu Thiên vương, có Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử là người đầu tiên nói như vậy.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nghe xong, bảo một người rằng: “Ngươi đến chỗ Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử nói như vầy, ‘Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la cho gọi ông.’”
Người ấy lãnh giáo, đi đến chỗ Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử bảo như vầy:
“Này Niên Thiếu, Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la cho gọi ông.”
Sau khi người ấy đi, Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la bạch Thế Tôn:
“Bạch Sa-môn Cù-đàm, có thể có những lời nói khác, nhưng được ghi nhớ khác. Bạch Cù-đàm, ngài có nhớ đã nói những gì chăng?”
Thế Tôn đáp rằng:
“Đại vương, Ta nhớ đã từng nói như vầy, ‘Trong quá khứ không có, trong tương lai không có, trong hiện tại cũng không có, không có Sa-môn, Bà-la-môn nào trong một thời biết tất cả, trong một thời thấy tất cả.’ Này Đại vương, Ta nhớ đã nói như vậy.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nghe xong tán thán rằng:
“Những lời Sa-môn Cù-đàm nói như Sư. Những lời Sa-môn Cù-đàm nói như Thiện sư. Con lại có những điều muốn hỏi, mong Ngài cho phép con hỏi.”
Thế Tôn đáp rằng:
“Đại vương, nếu có điều muốn hỏi, cứ tùy ý hỏi.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la hỏi rằng:
“Bạch Cù-đàm, ở đây có bốn chủng tộc, Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, Công sư. Bốn chủng tộc này có sự hơn kém nào không? Và có sự sai biệt nào?”
Thế Tôn đáp rằng:
“Bốn chủng tộc này, Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, Công sư có hơn kém và sai biệt. Hạng Sát-lị, và Bà-la-môn ở trong nhân gian được coi là tối thượng. Hạng Cư sĩ và hạng Công sư ở trong nhân gian được coi là hạ liệt. Trong bốn hạng này, Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ và Công sư đó là sự hơn kém và đó là sự sai biệt.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nghe xong khen rằng:
Những gì Sa-môn Cù-đàm nói như Sư. Những gì Sa-môn Cù-đàm nói như Thiện sư.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la lại bạch:
“Bạch Cù-đàm, con không hỏi những vấn đề trong hiện tại, mà con muốn hỏi cả những vấn đề đời sau nữa, mong Ngài nghe con hỏi chăng?”
Thế Tôn đáp:
“Đại vương, nếu có điều muốn hỏi, cứ tùy ý hỏi.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la hỏi:
“Bạch Cù-đàm, ở đây có bốn chủng tộc, Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ và Công sư, có sự hơn kém nào, có sự sai biệt nào ở đời sau chăng?”
Thế Tôn đáp rằng:
“Bốn hạng này, Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, và Công sư, có sự hơn kém, có sự sai biệt cả trong đời sau nữa. Bốn hạng này, Sát-lị, Bà-la-môn, Công sư và Cư sĩ nếu thành tựu được năm đoạn chi này, chắc chắn sẽ gặp được bậc Thiện sư, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, chắc chắn được vừa ý, không có điều gì không vừa ý, và cũng luôn luôn được thiện lợi và hữu ích, an ổn khoái lạc. Những gì là năm chi? Đa văn Thánh đệ tử đối với Như Lai đã gieo trồng tín căn, đã quyết định vững bền, không ai có thể tước đoạt, dù là Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm và các loài thế gian khác. Đó gọi là đoạn chi thứ nhất.
“Lại nữa, Đại vương, đa văn Thánh đệ tử, ít bệnh, không bệnh, thành tựu sự điều hòa thực đạo, không quá lạnh, không quá nóng, dễ chịu, không bị bực dọc. Nghĩa là sự ăn uống được tiêu hóa dễ dàng an ổn. Đó gọi là đoạn chi thứ hai.
“Lại nữa, này Đại vương, đa văn Thánh đệ tử không siểm mị, không dối gạt, chất trực, tự bộc lộ sự chân thật đối với Thế Tôn và các vị phạm hạnh. Đó gọi là đoạn chi thứ ba.
“Lại nữa, Đại vương, đa văn Thánh đệ tử thường thành tựu hạnh tinh tấn, đoạn trừ ác và bất thiện pháp, siêng tu các thiện pháp, luôn luôn tự sách tấn, chuyên nhất kiên cố, đối với gốc rễ các thiện pháp, không hề từ bỏ phương tiện. Đó gọi là đoạn chi thứ bốn.
“Lại nữa, Đại vương, đa văn Thánh đệ tử tu hành trí tuệ, quán pháp hưng suy và chứng đắc trí tuệ như vậy, thánh tuệ minh đạt, phân biệt thấu triệt, do đó mà chơn chánh diệt tận. Đó gọi là đoạn chi thứ năm.
“Có bốn chủng tộc, Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ và Công sư. Bốn hạng này nếu thành tựu được năm đoạn chi này, nhất định được gặp bậc Thiện sư, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, ắt được vừa ý, không có điều gì không vừa ý, luôn luôn được thiện lợi và hữu ích, an ổn khoái lạc.
“Có bốn chủng tộc này, Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ và Công sư. Đó là hơn kém, đó là sự sai biệt ở đời sau vậy.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nghe xong tán thán rằng:
“Những lời Sa-môn Cù-đàm nói như Sư. Những lời Sa-môn Cù-đàm nói như Thiện sư. Con lại có điều muốn hỏi, mong Ngài nghe con hỏi chăng?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Đại vương, nếu có điều gì muốn hỏi, cứ tùy ý hỏi.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la hỏi:
“Bạch Cù-đàm, có bốn chủng tộc, Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ và Công sư; bốn hạng này có sự hơn kém và sự sai biệt nào đối với đoạn hành chăng?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Có bốn chủng tộc này, Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ và Công sư. Bốn hạng này có sự sai biệt và hơn kém đối với đoạn hành. Này Đại vương, Đại vương nghĩ sao? Những gì được đoạn bởi tín, và chúng được đoạn bởi bất tín trường hợp đó hoàn toàn không thể có. Những gì được đoạn bởi ít bệnh, mà chúng cũng được đoạn bởi nhiều bệnh, trường hợp đó hoàn toàn không thể có. Những gì được đoạn bởi sự không siểm nịnh, không lừa dối, mà chúng cũng được đoạn bởi siểm nịnh, lừa dối, trường hợp này không thể có. Nếu được đoạn bởi tinh cần mà cũng được đoạn bởi giải đãi; trường hợp này không thể có. Nếu đoạn bởi trí tuệ, mà cũng được đoạn trừ bởi ác tuệ, trường hợp này không thể có.
“Cũng như bốn sự chế ngự là chế ngự voi, chế ngự ngựa, chế ngự bò và chế ngự người. Trong đó có hai trường hợp cần chế ngự mà không thể chế ngự và hai trường hợp cần chế ngự mà có thể chế ngự. Đại vương, ý ông thế nào? Hai trường hợp cần chế ngự mà không thể chế ngự, con vật không thể chế ngự ấy mà lại đi đến chỗ được điều phục, đi đến được chỗ chế ngự, thọ nhận công việc của sự điều ngự, thì việc này có thể vậy.
“Cũng vậy, này Đại vương, Đại vương nghĩ sao? Nếu những gì được đoạn bởi tín mà cũng được đoạn bởi bất tín chăng? Việc này không thể có. Nếu được đoạn bởi ít bệnh mà cũng được đoạn bởi nhiều bệnh chăng? Việc này không thể có. Nếu được đoạn bởi sự không siểm nịnh không dối trá mà cũng được đoạn bởi siểm nịnh, dối trá chăng? Việc này không thể có. Nếu được đoạn bởi tinh cần mà cũng đoạn bởi giải đãi chăng? Việc này không thể có. Nếu do trí tuệ mà đoạn cũng do ác tuệ mà đoạn chăng? Việc này không thể có. Như vậy, bốn hạng này, Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, và Công sư, đó là sự hơn kém, sự sai biệt về đoạn hành.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nghe xong khen rằng:
“Bạch Cù-đàm, những điều Ngài nói như Sư, những điều Ngài nói như Thiện sư. Con lại có điều muốn hỏi, mong Ngài nghe con hỏi chăng?”
Đức Thế Tôn đáp:
“Đại vương, nếu có điều muốn hỏi tùy ý hỏi.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la hỏi:
“Bạch Sa-môn Cù-đàm, có bốn chủng tộc này, Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ và Công sư, bốn hạng này có sự hơn kém, có sự sai biệt đối với đoạn chăng?”
Đức Thế Tôn đáp rằng:
“Có bốn chủng tộc này, Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ và Công sư, chúng bình đẳng đối với đoạn, không hơn kém, không sai biệt đối với đoạn vậy.
“Cũng như một đứa nhỏ dòng Sát-lị từ phương Đông đến lấy sa-la khô làm mồi lửa và cọ xát cho bốc lửa. Một đứa dòng Bà-la-môn từ phương Nam đến nó lấy cây sa-la khô làm mồi lửa và cọ xát cho bốc lửa. Một đứa dòng Cư sĩ từ phương Tây đến, nó lấy chiên-đàn làm mồi và cọ xát cho bốc lửa. Một đứa bé dòng công sư từ phương Bắc đến, nó lấy cây bát-đầu-ma khô làm mồi lửa và cọ xát cho bốc lửa. Này Đại vương, ý ngài nghĩ sao? Những người khác chủng tộc kia mang các loại cây khác nhau làm mồi lửa, nó cọ xát cho bốc lửa; rồi trong số đó, có người châm vào cây khô làm cho bốc khói, bốc lửa ngọn và phát sanh màu lửa. Này Đại vương, giữa khói với khói, giữa ngọn lửa với ngọn lửa. Giữa sắc lửa với sắc lửa, có những sai biệt nào chăng?”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la đáp rằng:
“Bạch Cù-đàm, những người khác chủng tộc đó lấy các thứ cây khác nhau đó làm mồi lửa và cọ xát cho bốc lửa, rồi trong số đó có người châm lửa vào cây khô làm bốc khói, bốc lửa ngọn và phát sanh màu lửa. Bạch Cù-đàm, con không nói rằng giữa khói và khói, giữa ngọn lửa và ngọn lửa, giữa sắc lửa và sắc lửa có sự sai biệt.”
“Cũng vậy, này Đại vương, bốn chủng tộc này, Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ và Công sư, chúng hoàn toàn bình đẳng đối với đoạn, không có hơn kém, không có sai biệt đối với đoạn.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nghe xong khen rằng:
“Bạch Cù-đàm, những điều Ngài nói như Sư. Bạch Sa-môn Cù-đàm, những điều Ngài nói như Thiện sư. Con lại có điều muốn hỏi, mong Ngài nghe cho con hỏi chăng?”
Thế Tôn đáp:
“Nếu có điều muốn hỏi, cứ tùy ý hỏi.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la hỏi rằng:
“Bạch Cù-đàm, có chư Thiên chăng?”
Đức Thế Tôn hỏi lại:
“Đại vương, ngài hỏi ‘có chư Thiên không’ với ý gì?”
Vua Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la đáp:
“Bạch Cù-đàm, chư Thiên nào có tranh, ưa tranh thì chư Thiên ấy phải sanh lại thế gian này. Nếu chư Thiên nào không có não hại thì sẽ không sanh lại thế gian này.”
Bấy giờ Đại tướng Tì-lưu-la đứng sau lưng Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, cầm phất trần hầu vua. Đại tướng Tì-lưu-la bạch:
“Bạch Cù-đàm, chư Thiên nào không có tranh, không ưa tranh không đến thế gian này, hãy gác lại chư Thiên đó. Giả như chư Thiên nào có tranh, ưa tranh, thì đến thế gian này, Sa-môn Cù-đàm tất phải nói rằng chư Thiên đó có phước hơn, có phạm hạnh hơn. Vì chư Thiên này được tự tại nên đẩy lui chư Thiên kia, đuổi chư Thiên kia đi vậy.”
Lúc đó Tôn giả A-nan đứng hầu sau Đức Thế Tôn, cầm phất trần hầu Phật. Tôn giả A-nan nghĩ rằng, ‘Đại tướng Tì-lưu-la này là con của Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, còn ta là con của Đức Thế Tôn. Bây giờ chính là lúc con và con thảo luận.’ Rồi Tôn giả A-nan nói với Đại tướng Tì-lưu-la rằng:
“Tôi muốn hỏi ngài, xin tùy theo sự hiểu biết mà trả lời.
“Thưa Đại tướng, ngài nghĩ thế nào? Trong phần ranh giới thuộc về Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la mà giáo lệnh có thể truyền đến, Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la được tự do đuổi đi những vị có phước đức hơn, có phạm hạnh hơn chăng?”
Đại tướng Tì-lưu-la đáp:
“Này Sa-môn, trong phần ranh giới thuộc về Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la mà giáo lệnh có thể truyền đến thì Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la được quyền đuổi đi tự do những vị có phước đức hơn, có phạm hạnh hơn.”
“Này Đại tướng, ngài nghĩ sao? Nếu không phải trong ranh giới của Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, giáo lệnh không thể truyền đến, Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la có được tự ý đuổi những vị có phước đức hơn, có phạm hạnh hơn chăng?”
Đại tướng Tì-lưu-la dáp rằng:
“Này Sa-môn, trong phạm vi không phải ranh giới thuộc về Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, giáo lệnh không thể truyền đến, Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la không được tự do xua đuổi những vị có phước hơn, có phạm hạnh hơn đi khỏi vậy.”
Tôn giả A-nan lại hỏi rằng:
“Này Đại tướng, ngài có nghe nói đến chư Thiên ở Tam thập tam thiên chăng?”
Đại tướng Tì-lưu-la đáp rằng:
“Khi tôi cùng Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la dạo chơi, có nghe nói chư Thiên trên Tam thập tam thiên.”
“Này Đại tướng, ngài nghĩ thế nào? Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la có được quyền tự do xua đuổi chư Thiên có phước hơn, có phạm hạnh hơn ở Tam thập tam thiên khỏi chỗ ấy chăng?”
Đại tướng Tì-lưu-la đáp rằng:
“Này Sa-môn, Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la còn không thể thấy được chư Thiên ở Tam thập tam thiên, huống gì lại đuổi họ ra khỏi chỗ đó? Đuổi chư Thiên ở Tam thập tam thiên, việc ấy chắc chắn không thể có vậy.”
“Cũng vậy, này Đại tướng, nếu có chư Thiên nào không tranh, không ưa tranh, không đến thế gian này. Chư Thiên ấy có phước đức hơn và có phạm hạnh hơn. Nếu có chư Thiên nào có tranh, ưa tranh, sanh đến thế gian này, chư Thiên này đối với chư Thiên kia còn không thể thấy được huống gì đánh đuổi ư? Việc đánh đuổi chư Thiên, chắc chắn không thể có.”
Lúc đó Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la hỏi rằng:
“Bạch Cù-đàm, Sa-môn này tên gì?”
Đức Thế Tôn đáp rằng:
“Này Đại vương, Tỳ-kheo này tên là A-nan, đó là thị giả của Ta.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nghe xong khen rằng:
“Những điều A-nan nói như Sư. Những điều A-nan như Thiện sư. Con lại có điều muốn hỏi, mong Ngài nghe cho con hỏi chăng?”
Đức Thế Tôn bảo rằng:
“Này Đại vương, nếu có điều muốn hỏi, cứ tùy ý hỏi.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la hỏi rằng:
“Bạch Cù-đàm, có Phạm thiên không?”
Đức Thế Tôn hỏi lại rằng:
“Này Đại vương, Đại vương hỏi ‘có Phạm thiên không’ với ý gì? Này Đại vương, nếu Ta chủ trương có Phạm thiên thì đó là Phạm thanh tịnh.”
Trong lúc Đức Thế Tôn cùng Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la đang luận việc này nửa chừng thì người sứ giả dẫn Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử trở lại đến chỗ Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la tâu:
“Tâu Thiên vương, Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử đã đến đây.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nghe nói liền hỏi Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử rằng:
“Hôm trước ta cùng đại chúng đang hội tọa ai là người trước tiên nói rằng, ‘Sa-môn Cù-đàm nói như vầy: Trong quá khứ không có, trong tương lai không có, và trong hiện tại cũng không có. Không có Sa-môn, Bà-la-môn nào là bậc nhất thiết trí, nhất thiết kiến’?”
Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử đáp:
“Tâu Thiên vương, chính Đại tướng Tì-lưu-la là người đã nói trước tiên.”
Đại tướng Tì-lưu-la nghe xong liền thưa:
“Tâu Thiên vương, chính Tưởng Niên Thiếu Cát Tường Tử là người nói trước.”
Cứ như vậy hai người đó cãi nhau về vấn đề này. Ngay trong lúc đó, người đánh xe liền sửa soạn xa giá, đến chỗ Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la tâu rằng:
“Tâu Thiên vương, nghiêm giá đã đến, tâu Thiên vương, mong ngài biết đã đến thời.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la nghe xong, bạch với Phật rằng:
“Con hỏi Cù-đàm về Nhất thiết trí, Sa-môn Cù-đàm đã trả lời con về Nhất thiết trí. Con hỏi Sa-môn Cù-đàm về bốn chủng tánh thanh tịnh; Sa-môn Cù-đàm đã trả lời con về bốn chủng tánh thanh tịnh. Con hỏi Sa-môn Cù-đàm về sở đắc, Sa-môn Cù-đàm đã trả lời con về sở đắc. Con hỏi Sa-môn Cù-đàm có Phạm thiên hay không, Sa-môn Cù-đàm đã trả lời cho con có Phạm thiên. Nếu con còn hỏi Sa-môn Cù-đàm các vấn đề khác chắc Sa-môn Cù-đàm cũng sẽ trả lời con các vấn đề ấy.
“Bạch Cù-đàm, hôm nay con có nhiều việc phải trở về, xin kiếu từ.”
Đức Thế Tôn đáp rằng:
“Đại vương, ngài hãy làm những gì ngài nghĩ là đúng thời.”
Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la sau khi nghe những gì Thế Tôn nói, ghi nhớ kỹ rồi, rời chỗ ngồi đứng dậy, đi quanh Thế Tôn ba vòng rồi ra về.
Phật nói như vậy. Ba-tư-nặc vua nước Câu-tát-la, Tôn giả A-nan và tất cả đại chúng nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
例品第四
(有十一經)
(第五後誦)
中阿含經卷第五十九
T 0792c07
T 0792c08
東晉罽賓三藏瞿曇僧伽提婆譯
T 0792c09
T 0792c10
一切智、法嚴 鞞訶、第一得
T 0792c11
愛生、及八城 阿那律陀二
T 0792c12
諸見、箭與喻 比例最在後
T 0792c13
T 0792c14
我聞如是:
一時,佛遊欝頭隨若,在普棘
T 0792c15
刺林。
爾時,拘薩羅王波斯匿,聞沙門瞿曇
T 0792c16
遊欝頭隨若,在普棘刺林,拘薩羅王波斯匿
T 0792c17
聞已,告一人曰:「汝往詣沙門瞿曇所,為我
T 0792c18
問訊聖體康強,安快無病,起居輕便,氣力
T 0792c19
如常耶?作如是語:『拘薩羅王波斯匿問訊
T 0792c20
聖體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常耶?』
T 0792c21
又復語曰:『拘薩羅王波斯匿欲來相見。』」
彼人
T 0792c22
受教,往詣佛所,共相問訊,却坐一面,白曰:
T 0792c23
「瞿曇!拘薩羅王波斯匿問訊聖體康強,安快
T 0792c24
無病,起居輕便,氣力如常耶?拘薩羅王波
T 0792c25
斯匿欲來相見。」
世尊答曰:「今拘薩羅王波
T 0792c26
斯匿安隱快樂,今天及人、阿修羅、揵塔和、羅
T 0792c27
剎及餘若干身安隱快樂。拘薩羅王波斯匿
T 0792c28
若欲來者,自可隨意。」彼時,使人聞佛所
T 0792c29
說,善受持誦,即從坐起,繞三匝而去。
爾時,
T 0793a01
尊者阿難住世尊後,執拂侍佛。使人去後,
T 0793a02
於是世尊迴顧告曰:「阿難!汝來共詣東向
T 0793a03
大屋,開窓閉戶,住彼密處。今日拘薩羅王
T 0793a04
波斯匿一心無亂,欲聽受法。」
尊者阿難白
T 0793a05
曰:「唯然。」
於是,世尊將尊者阿難至彼東向
T 0793a06
大屋,開窓閉戶,密處布座,敷尼師檀,結
T 0793a07
跏趺坐。
彼時,使人還詣拘薩羅王波斯匿所,
T 0793a08
白曰:「天王!我已通沙門瞿曇!沙門瞿曇今
T 0793a09
待天王,唯願天王自當知時。」
拘薩羅王波
T 0793a10
斯匿告御者曰:「汝可嚴駕,我今欲往見沙
T 0793a11
門瞿曇。」御者受教,即便嚴駕。
爾時,賢及月
T 0793a12
姉妹與拘薩羅王波斯匿共坐食時,聞今日
T 0793a13
拘薩羅王波斯匿當往見佛,白曰:「大王!若今
T 0793a14
往見世尊者,願為我等稽首世尊,問訊聖
T 0793a15
體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常耶?作
T 0793a16
如是語:『賢及月姉妹稽首世尊,問訊聖體
T 0793a17
康強,安快無病,起居輕便,氣力如常耶?』」拘薩
T 0793a18
羅王波斯匿為賢及月姉妹默然而受。
彼時,
T 0793a19
御者嚴駕已訖,白曰:「天王!嚴駕已辦,隨天王
T 0793a20
意。」
時,王聞已,即便乘車,從欝頭隨若出,往
T 0793a21
至普棘刺林。
爾時,普棘刺林門外眾多比丘
T 0793a22
露地經行,拘薩羅王波斯匿往詣諸比丘所,
T 0793a23
問曰:「諸賢!沙門瞿曇今在何處?我欲往見。」
T 0793a24
諸比丘答曰:「大王!彼東向大屋開窓閉戶,世
T 0793a25
尊在中,大王欲見者,可詣彼屋,在外住
T 0793a26
已,謦欬敲戶,世尊聞者,必為開戶。」
拘薩羅王
T 0793a27
波斯匿即便下車,眷屬圍繞,步往至彼東向
T 0793a28
大屋,到已住外,謦欬敲戶,世尊聞已,即為開
T 0793a29
戶,拘薩羅王波斯匿便入彼屋,前詣佛所,
T 0793b01
白曰:「瞿曇!賢及月姉妹稽首世尊,問訊聖
T 0793b02
體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常耶?」
世
T 0793b03
尊問王:「賢及月姉妹更無人使耶?」
拘薩羅
T 0793b04
王波斯匿白曰:「瞿曇!當知今日賢及月姉妹
T 0793b05
我共坐食,聞我今當欲往見佛,便白曰:『大
T 0793b06
王!若往見佛者,當為我等稽首世尊!問
T 0793b07
訊聖體康強,安快無病,起居輕便,氣力如常
T 0793b08
耶?』故如是白世尊:『賢及月姉妹稽首世尊,
T 0793b09
問訊聖體康強,安快無病,起居輕便,氣力如
T 0793b10
常耶?』瞿曇!彼賢及月稽首世尊,問訊聖體
T 0793b11
康強,安快無病,起居輕便,氣力如常耶?」
世尊
T 0793b12
答曰:「大王!今賢及月姉妹安隱快樂,今天及
T 0793b13
人、阿修羅、揵塔和、羅剎及餘若干身安隱快
T 0793b14
樂。」
於是,拘薩羅王波斯匿與佛共相問訊,却
T 0793b15
坐一面,白曰:「瞿曇!我欲有所問,聽乃敢陳?」
T 0793b16
世尊告曰:「大王!欲問者,恣意所問。」
拘薩羅
T 0793b17
王波斯匿便問曰:「瞿曇!我聞沙門瞿曇作如
T 0793b18
是說:『本無,當不有,今現亦無,若有餘沙門、
T 0793b19
梵志一切知、一切見者。』瞿曇!憶如是說耶?」
T 0793b20
世尊答曰:「大王!我不憶作如是說:『本無,當
T 0793b21
不有,今現亦無,若有餘沙門、梵志一切知、
T 0793b22
一切見者。』」
爾時,鞞留羅大將住在拘薩羅王波
T 0793b23
斯匿後,執拂拂王,於是拘薩羅王波斯匿
T 0793b24
迴顧告鞞留羅大將曰:「前日王共大眾
T 0793b25
坐,誰最前說沙門瞿曇作如是說:『本無,當不
T 0793b26
有,今現亦無,若有餘沙門、梵志一切知、一
T 0793b27
切見者。』」
鞞留羅大將答曰:「天王!有想年少
T 0793b28
吉祥子前作是說。」
拘薩羅王波斯匿聞已,告
T 0793b29
一人曰:「汝往至想年少吉祥子所,作如是
T 0793c01
語:『拘薩羅王波斯匿呼汝!』」
彼人受教,即往
T 0793c02
想年少吉祥子所,作如是語:「年少!拘薩羅
T 0793c03
王波斯匿呼汝。」
彼人去後。於是,拘薩羅王波
T 0793c04
斯匿白世尊曰:「沙門瞿曇!頗有異說異受?
T 0793c05
沙門瞿曇憶所說耶?」
世尊答曰:「大王!我憶
T 0793c06
曾如是說:『本無,當不有,今現亦無,若有餘
T 0793c07
沙門、梵志一時知一切,一時見一切。』大王!我
T 0793c08
憶如是說也。」
拘薩羅王波斯匿聞已,歎曰:
T 0793c09
「沙門瞿曇所說如師,沙門瞿曇所說如善師。
T 0793c10
欲更有所問,聽我問耶?」
世尊告曰:「大王!欲
T 0793c11
問,恣意所問。」
拘薩羅王波斯匿問曰:「瞿曇!
T 0793c12
此有四種,剎利、梵志、居士、工師,為有勝如、
T 0793c13
有差別耶?」
世尊答曰:「此有四種,剎利、梵志、
T 0793c14
居士、工師,此有勝如、有差別也。剎利、梵志
T 0793c15
種,此於人間為最上德,居士、工師種,此於
T 0793c16
人間為下德也。此有四種,剎利、梵志、居士、
T 0793c17
工師,是謂勝如、是謂差別。」
拘薩羅王波斯
T 0793c18
匿聞已,歎曰:「沙門瞿曇所說如師,沙門瞿曇
T 0793c19
所說如善師。」
拘薩羅王波斯匿白曰:「瞿曇!我
T 0793c20
不但問於現世義,亦復欲問於後世義,聽
T 0793c21
我問耶?」
世尊告曰:「大王!欲問,恣意所問。」
拘
T 0793c22
薩羅王波斯匿問曰:「瞿曇!此有四種,剎利、梵
T 0793c23
志、居士、工師,此有勝如、有差別於後世耶?」
T 0793c24
世尊答曰:「此有四種,剎利、梵志、居士、工師,
T 0793c25
此有勝如、有差別謂後世也。此有四種,剎
T 0793c26
利、梵志、居士、工師,若成就此五斷支,必得
T 0793c27
善師如來、無所著、正盡覺,必得可意,無不
T 0793c28
可意,亦於長夜得義饒益,安隱快樂。云何
T 0793c29
為五?多聞聖弟子信著如來,根生定立,無
T 0794a01
能奪者,謂沙門、梵志、天及魔、梵及餘世間,是
T 0794a02
謂第一斷支。復次,大王!多聞聖弟子少病
T 0794a03
無病,成就等食道,不熱不冷,正樂不諍,謂
T 0794a04
食飲消、正安隱消,是謂第二斷支。復次,
T 0794a05
大王!多聞聖弟子無諂無誑、質直,現如真世
T 0794a06
尊及諸梵行,是謂第三斷支。復次,大王!多
T 0794a07
聞聖弟子常行精進,斷惡不善,修諸善法,
T 0794a08
恒自起意,專一堅固,為諸善本,不捨方便,
T 0794a09
是謂第四斷支。復次,大王!多聞聖弟子修
T 0794a10
行智慧,觀興衰法,得如此智,聖慧明達,
T 0794a11
分別曉了,以正盡苦,是謂第五斷支。此有
T 0794a12
四種,剎利、梵志、居士、工師,彼若成就此五斷
T 0794a13
支,必得善師如來、無所著、正盡覺,必得
T 0794a14
可意,無不可意,亦於長夜得義饒益,安隱
T 0794a15
快樂,此有四種,剎利、梵志、居士、工師,是謂
T 0794a16
勝如、是謂差別於後世也。」
拘薩羅王波斯
T 0794a17
匿聞已,歎曰:「沙門瞿曇所說如師,沙門瞿
T 0794a18
曇所說如善師。欲更有所問,聽我問耶?」
T 0794a19
世尊告曰:「大王!欲問,恣意所問。」
拘薩羅王
T 0794a20
波斯匿問曰:「瞿曇!此有四種,剎利、梵志、居士、
T 0794a21
工師,此有勝如、此有差別於斷行耶?」
世尊
T 0794a22
答曰:「此有四種,剎利、梵志、居士、工師,此有
T 0794a23
勝如、此有差別於斷行也。大王!於意云
T 0794a24
何?若信者所斷,是不信斷者,終無是處。若少
T 0794a25
病者所斷,是多病斷者,終無是處。若不諂不
T 0794a26
誑者所斷,是諂誑斷者,終無是處。若精勤
T 0794a27
者所斷,是懈怠斷者,終無是處。若智慧者所
T 0794a28
斷,是惡慧斷者,終無是處。
「猶如四御,象御、
T 0794a29
馬御、牛御、人御,彼中二御不可調、不可御,
T 0794b01
二御可調、可御。大王!於意云何?若此二御
T 0794b02
不可調、不可御,彼來調地、御地,受御事
T 0794b03
者,終無是處。若彼二御可調、可御,來至調
T 0794b04
地、御地,受御事者,必有是處。如是,大王!
T 0794b05
於意云何?若信者所斷,是不信斷耶?終無是
T 0794b06
處。若少病者所斷,是多病斷耶?終無是處。若
T 0794b07
不諂不誑者所斷,是諂誑斷耶?終無是處。若
T 0794b08
精勤者所斷,是懈怠斷耶?終無是處。若智
T 0794b09
慧者所斷,是惡慧斷耶?終無是處。如是此四
T 0794b10
種,剎利、梵志、居士、工師,是謂勝如、是謂差
T 0794b11
別於斷行也。」
拘薩羅王波斯匿聞已,歎曰:「沙
T 0794b12
門瞿曇所說如師,沙門瞿曇所說如善師。
T 0794b13
欲更有所問,聽我問耶?」
世尊答曰:「大王!
T 0794b14
欲問,恣意所問。」
拘薩羅王波斯匿問曰:「瞿
T 0794b15
曇!此有四種,剎利、梵志、居士、工師,此有勝
T 0794b16
如、此有差別,謂斷耶?」
世尊答曰:「此有四種,
T 0794b17
剎利、梵志、居士、工師,彼等等斷,無有勝如、
T 0794b18
無有差別於斷也。大王!猶如東方剎利童
T 0794b19
子來,彼取乾娑羅木作火母,攢攢生火;
T 0794b20
南方梵志童子來,彼取乾娑羅木作火
T 0794b21
母,鑽攢生火;西方居士童子來,彼取乾栴
T 0794b22
檀木作火母,鑽攢生火;北方工師童子
T 0794b23
來,彼取乾鉢投摩木作火母,鑽攢生火。
T 0794b24
大王!於意云何?謂彼若干種人持若干種
T 0794b25
木作火母,鑽攢生火,彼中或有人著
T 0794b26
燥草木,生烟、生焰、生色。大王!於烟烟、焰
T 0794b27
焰、色色,說何等差別耶?」
拘薩羅王波斯匿
T 0794b28
答曰:「瞿曇!謂彼若干種人取若干種木作
T 0794b29
火母,
攢攢
生火,彼中或有人著燥草木,
T 0794c01
生烟、生焰、生色。瞿曇!我不說烟烟、焰
T 0794c02
焰、色色有差別也。」
「如是。大王!此有四種,
T 0794c03
剎利、梵志、居士、工師,彼一切等等斷,無有勝
T 0794c04
如、無有差別於斷也。」
拘薩羅王波斯匿聞
T 0794c05
已,歎曰:「沙門瞿曇所說如師,沙門瞿曇所
T 0794c06
說如善師。欲更有所問,聽我問耶?」
世尊告
T 0794c07
曰:「大王!欲問,恣意所問。」
拘薩羅王波斯匿
T 0794c08
問曰:「瞿曇!有天耶?」
世尊問曰:「大王!何意問
T 0794c09
有天耶?」
拘薩羅王波斯匿答曰:「瞿曇!若有
T 0794c10
天有諍、樂諍者,彼應來此間。若有天無諍、
T 0794c11
不樂諍者,不應來此間。」
爾時,鞞留羅大將
T 0794c12
住在拘薩羅王波斯匿後,執拂拂王,鞞留
T 0794c13
羅大將白曰:「瞿曇!若有天無諍、不樂諍者
T 0794c14
不來此間,且置彼天。若有天諍、樂諍來
T 0794c15
此間者,沙門瞿曇必說彼天福勝、梵行勝,
T 0794c16
此天得自在退彼天、遣彼天也。」
是時,尊者
T 0794c17
阿難在世尊後,執拂侍佛。於是,尊者阿難
T 0794c18
作是念:「此鞞留羅大將是拘薩羅王波斯匿
T 0794c19
子,我是世尊子,今正是時,子子共論。」
於是,
T 0794c20
尊者阿難語鞞留羅大將曰:「我欲問汝,隨
T 0794c21
所解答。大將!於意云何?拘
薩
羅王
波
斯匿
T 0794c22
所有境界,教令所及,拘薩羅王波斯匿福勝、
T 0794c23
梵行勝故,寧得自在退去、遣去耶?」
鞞留羅
T 0794c24
大將答曰:「沙門!若拘薩羅王波斯匿所有境
T 0794c25
界,教令所及,拘薩羅王波斯匿福勝、梵行勝
T 0794c26
故,得自在退去、遣去也。」
「大將!於意云何?
T 0794c27
若非拘薩羅王波斯匿境界,教令所不及。
T 0794c28
拘薩羅王波斯匿福勝、梵行勝故,意得自
T 0794c29
在退彼、遣彼耶?」
鞞留羅大將答曰:「沙門!若
T 0795a01
非拘薩羅王波斯匿境界,教令所不及,拘
T 0795a02
薩羅王波斯匿福勝、梵行勝故,不得自在
T 0795a03
退彼、遣彼也。」
尊者阿難復問曰:「大將!頗聞
T 0795a04
有三十三天耶?」
鞞留羅大將答曰:「我拘薩
T 0795a05
羅王波斯匿遊戲時,聞有三十三天。」
「大將!
T 0795a06
於意云何?拘薩羅王波斯匿福勝、梵行勝
T 0795a07
故,寧得自在退彼三十三天,遣彼三十三
T 0795a08
天耶?」
鞞留羅大將答曰:「沙門!拘薩羅王波斯
T 0795a09
匿尚不能得見三十三天,況復退遣耶?退
T 0795a10
遣彼三十三天者,終無是處。」
「如是,大將!若
T 0795a11
有天無諍、不樂諍不來此間者,此天福勝、
T 0795a12
梵行勝。若有此天諍、樂諍來此間者,此天
T 0795a13
於彼天尚不能得見,況復天天遣退耶?
T 0795a14
若退遣彼者,終無是處。」
於是,拘薩羅王波
T 0795a15
斯匿問曰:「瞿曇!此沙門名何等耶?」
世尊答
T 0795a16
曰:「大王!此比丘名阿難,是我侍者。」
拘薩羅
T 0795a17
王波斯匿聞已,歎曰:「阿難所說如師,阿難所
T 0795a18
說如善師。欲更有所問,聽我問耶?」
世尊
T 0795a19
告曰:「大王!欲問,恣意所問。」
拘薩羅王波斯
T 0795a20
匿問曰:「瞿曇!頗有梵耶?」
世尊問曰:「大王!何
T 0795a21
意問有梵耶?大王!若我施設有梵,彼梵清
T 0795a22
淨。」
世尊與拘薩羅王波斯匿於其中間論
T 0795a23
此事時,彼使人將想年少吉祥子來還,詣
T 0795a24
拘薩羅王波斯匿所,白曰:「天王!想年少吉祥
T 0795a25
子已來在此。」
拘薩羅王波斯匿聞已,問想年
T 0795a26
少吉祥子曰:「前日王共大眾會坐,誰最前
T 0795a27
說沙門瞿曇如是說:『本無,當不有,今現亦
T 0795a28
無,若有餘沙門、梵志一切知、一切見。』耶?」
想年
T 0795a29
少吉祥子答曰:「天王!鞞留羅大將前說也。」
鞞
T 0795b01
留羅大將聞已,白曰:「天王!此想年少吉祥子
T 0795b02
前說也。」
如是彼二人更互共諍此論,於其
T 0795b03
中間彼御者即便嚴駕,至拘薩羅王波斯匿
T 0795b04
所,白曰:「天王!嚴駕已至,天王當知時。」
拘薩
T 0795b05
羅王波斯匿聞已,白世尊曰:「我問瞿曇一切
T 0795b06
知事,沙門瞿曇答我一切知事。我問沙門
T 0795b07
瞿曇四種清淨,沙門瞿曇答我四種清淨。我
T 0795b08
問沙門瞿曇所得,沙門瞿曇答我所得。我
T 0795b09
問沙門瞿曇有梵,沙門瞿曇答我有梵。若
T 0795b10
我更問餘事者,沙門瞿曇必答我餘事。瞿
T 0795b11
曇!我今多事,欲還請辭。」
世尊答曰:「大王!自
T 0795b12
當知時。」
拘薩羅王波斯匿聞世尊所說,善
T 0795b13
受持誦,即從座起,繞世尊三匝而去。
佛說
T 0795b14
如是。拘薩羅王波斯匿、尊者阿難及一切大
T 0795b15
眾,聞佛所說,歡喜奉行。
T 0795b16
一切智經第一竟
(三千七百七十三字)
T 0795b17