Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm Lâm Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ Tôn giả A-nan ở nơi nhàn tĩnh, ngồi trầm lặng tư duy và suy nghĩ như vầy: “Người đời thật hiếm, ít ai có thể thỏa mãn ở nơi dục; ít ai có sự nhờm tởm, ghê sợ dục cho đến chết. Người đời mà có sự thỏa mãn ở nơi dục, nhàm tởm, ghê sợ cho đến chết, quả là quá khó kiếm.”
Rồi Tôn giả A-nan, vào lúc xế chiều, từ chỗ yên nghỉ đứng dậy, đi đến trước Phật, đảnh lễ, rồi ngồi qua một bên và thưa:
“Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay con ở chỗ nhàn tĩnh, ngồi trầm lặng tư duy, đã suy nghĩ như vầy: “Người đời thật hiếm, ít ai có thể thỏa mãn đối với dục; ít ai có sự nhờm tởm, ghê sợ dục cho đến chết. Người đời mà đối với dục có sự thỏa mãn, nhàm tởm, ghê sợ cho đến chết, quả là quá khó kiếm!”
Phật bảo A-nan:
“Đúng như vậy, đúng như vậy! Người đời thật hiếm, ít ai có thể thỏa mãn ở nơi dục; ít ai có sự nhờm tởm, ghê sợ dục cho đến chết. Người đời mà có sự thỏa mãn ở nơi dục, nhàm tởm, ghê sợ cho đến chết, quả là quá khó kiếm!
“Nhưng này A-nan, trong thế gian, những người đối với dục mà không thỏa mãn, không nhờm tởm, ghê sợ cho đến chết thì thật quá nhiều! Thật quá nhiều! Vì sao? Này A-nan, trong đời quá khứ, có vua tên là Đảnh Sanh làm Chuyển luân vương, thông minh trí tuệ, có bốn loại quân, ngự trị thiên hạ, tự do tự tại, là Pháp vương hành động theo chánh pháp, thành tựu bảy báu. Bảy báu ấy là: xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu và tướng quân báu. Đó là bảy báu. Vị ấy có đủ một ngàn người con trai, mặt mày khôi ngô, dõng mãnh, không khiếp sợ, nhiếp phục được người khác. Vị ấy thống lãnh khắp cả cõi đất này cho đến biển cả, không dùng đao gậy, chỉ dùng pháp trị hóa, khiến cho an lạc.
“Này A-nan, một thời gian hết sức lâu xa về sau, vua Đảnh Sanh ấy nghĩ rằng: ‘Ta có châu Diêm-phù giàu có, hoan lạc cùng cực, nhân dân đông đúc. Ta có bảy báu; đầy đủ một ngàn người con. Ta muốn ngay ở cung điện này mưa báu bảy ngày, dâng đến tận đầu gối’. Này A-nan, vua Đảnh Sanh có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, nên vừa khởi tâm ưa thích như vậy, tức thì ở trong cung mưa báu bảy ngày, dâng đến đầu gối.
“Này A-nan, một thời gian hết sức lâu xa về sau, vua Đảnh Sanh kia lại nghĩ rằng: ‘Ta có châu Diêm-phù giàu có, hoan lạc cùng cực, nhân dân đông đúc. Ta có bảy báu, đầy đủ một ngàn đứa con, và ở trong cung này, mưa báu bảy ngày, dâng đến đầu gối. Ta nhớ đã từng nghe nơi người xưa nói rằng, ở phương Tây có châu tên là Cù-đà-ni, giàu có, hoan lạc cùng cực, nhân dân đông đúc. Nay ta muốn đến xem châu Cù-đà-ni. Sau khi đến, ta sẽ thống trị’. Này A-nan, vua Đảnh Sanh có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, nên vừa khởi tâm ưa thích như vậy, liền dùng như ý túc cưỡi lên hư không mà đi, cùng với bốn loại quân. Này A-nan, vua Đảnh Sanh trong phút chốc liền đến trú ở châu Cù-đà-ni kia.
“Này A-nan, sau khi đến ở, vua đã ngự trị châu Cù-đà-ni suốt vô lượng trăm ngàn vạn năm.
“Này A-nan, một thời gian hết sức lâu xa về sau nữa, vua Đảnh Sanh kia lại nghĩ: ‘Ta có châu Diêm-phù giàu có, hoan lạc cùng cực, nhân dân đông đúc. Ta có bảy báu, đầy đủ một ngàn đứa con, và ở trong cung này, mưa báu bảy ngày, dâng đến đầu gối. Ta lại có thêm châu Cù-đà-ni. Ta đã từng nghe người xưa có nói rằng, ở phương Đông có châu tên là Phất-bà-tì-đà-đề giàu có, hoan lạc cùng cực, nhân dân đông đúc. Nay ta muốn đến xem châu Phất-bà-tì-đà-đề. Sau khi đến, ta sẽ thống trị’. Này A-nan, vua Đảnh Sanh có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, nên vừa khởi tâm ưa thích như vậy, liền dùng như ý túc cưỡi lên hư không mà đi, cùng với bốn loại quân. Này A-nan, vua Đảnh Sanh trong phút chốc liền đến trú ở châu Phất-bà-tì-đà-đề kia. Này A-nan, sau khi đến ở, vua ngự trị châu Phất-bà-tì-đà-đề suốt vô lượng trăm ngàn vạn năm.
“Này A-nan, một thời gian hết sức lâu xa về sau nữa, vua Đảnh Sanh kia lại nghĩ: ‘Ta có châu Diêm-phù giàu có, hoan lạc cùng cực, nhân dân đông đúc. Ta có bảy báu, đầy đủ một ngàn người con, và ở trong cung mưa báu bảy ngày dâng đến đầu gối. Ta lại có thêm châu Cù-đà-ni, có thêm châu Phất-bà-tì-đà-đề. Ta lại từng nghe người xưa có nói rằng, ở phương Bắc có châu tên là Uất-đan-viết, giàu có, hoan lạc cùng cực, nhân dân đông đúc, họ tuy không có ngã tưởng, không có thọ dụng riêng, nhưng ta muốn cùng quyến thuộc đi xem châu Uất-đan-viết, để thống trị’. Này A-nan, vua Đảnh Sanh có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, nên vừa khởi tâm ưa thích như vậy, liền dùng như ý túc cưỡi hư không mà đi cùng với bốn loại quân. Này A-nan, vua thấy đất trắng bằng phẳng từ xa, bảo các cận thần:
“—Các khanh có thấy đất trắng bằng phẳng của châu Uất-đan-viết này không?
“Các cận thần đáp:
“—Dạ thấy, tâu Thiên vương.
“ vua lại bảo:
“—Các khanh biết không? Đó là lúa tự nhiên của người xứ Uất-đan-viết. Người Uất-đan-viết thường ăn loại thức ăn đó. Các khanh cũng nên ăn loại thức ăn đó.
“Này A-nan, xa xa, vua Đảnh Sanh lại thấy tại châu Uất-đan-viết có biết bao loại cây quí báu, khoe đủ màu sắc ở trong lan can, liền bảo cận thần:
“—Các khanh có thấy biết bao nhiêu loại cây quí báu, khoe đủ màu sắc ở trong lan can tại châu Uất-đan-viết không?
“Các cận thần đáp:
“—Dạ thấy, tâu Thiên vương.
“Vua lại đáp:
“—Các khanh biết không? Đó là thứ cây Áo của người xứ Uất-đan-viết. Người Uất-đan-viết dùng thứ ấy mà mặc. Các khanh cũng nên dùng thứ ấy mà mặc.
“Này A-nan, trong phút chốc, vua đến trú ở châu Uất-đan-viết. Này A-nan, sau khi cùng quyến thuộc đến đó, vua Đảnh Sanh thống trị châu Uất-đơn-viết suốt cả trăm ngàn vạn năm.
“Này A-nan, một thời gian hết sức lâu xa về sau nữa, vua Đảnh Sanh kia lại nghĩ: ‘Ta có châu Diêm-phù giàu có vô cùng, nhân dân đông đúc. Ta có bảy báu, đầy đủ một ngàn người con và ở trong cung mưa báu bảy ngày, dâng đến đầu gối. Ta cũng có châu Cù-đà-ni, cũng có châu Phất-bà-tì-đà-đề lại có thêm châu Uất-đan-viết. Ta lại từng nghe người xưa nói rằng, có cõi trời tên là Tam Thập Tam Thiên. Nay ta muốn đến thấy Tam Thập Tam Thiên’.
“Này A-nan, vua Đảnh Sanh có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần, nên vừa khởi tâm ưa thích như vậy, liền dùng như ý túc cưỡi hư không cùng với bốn loại quân, hướng theo ánh sáng mặt trời mà đi. Này A-nan, từ xa, vua Đảnh Sanh đã thấy ở trong Tam Thập Tam Thiên, trên đỉnh núi chúa Tu-di, có một vật lớn như một đám mây lớn, liền bảo các cận thần:
“—Các khanh có thấy ở trên đỉnh núi chúa Tu-di trong cõi trời Tam thập tam (có một vật) như một đám mây lớn ấy chăng?
“Các cận thần đáp:
“—Dạ thấy, tâu Thiên vương.
“ vua lại bảo:
“—Các khanh biết chăng? Đó là cây Trú độ của trời Tam Thập Tam Thiên vậy. Dưới gốc cây này, vào mùa hạ tháng tư, các vị Trời ở Tam Thập Tam Thiên vui chơi với đầy đủ năm thứ dục lạc.
“Này A-nan, từ xa, vua Đảnh Sanh thấy ở trong trời Tam Thập Tam Thiên, trên đỉnh núi chúa Tu di, gần về hướng Nam có một vật giống như đám mây lớn, liền bảo các cận thần:
“—Các khanh có thấy ở trong trời Tam Thập Tam Thiên, trên đỉnh núi Tu-di, gần về mé Nam, có một vật giống như đám mây lớn không?
“—Có thấy, tâu Thiên vương.
“ vua lại bảo:
“—Các khanh biết không? Đó là nhà Chánh pháp của Tam Thập Tam Thiên. Vị Trời Tam Thập Tam Thiên ở trong nhà ấy, vào những ngày mồng tám, mười bốn hoặc mười lăm, vì loài trời, vì loài người mà tư duy về pháp, tư duy về nghĩa.
“Này A-nan, vua Đảnh Sanh liền đến cõi Tam Thập Tam Thiên. Đến nơi, vua đi vào nhà Chánh pháp. Ở đó, Thiên đế Thích nhường một nửa chỗ ngồi cho vua Đảnh Sanh và mời ngồi. Vua Đảnh Sanh liền ngồi xuống trên nửa chỗ ngồi của Thiên đế Thích. Bấy giờ, vua và Thiên đế Thích hoàn toàn không khác gì nhau; ánh sáng và ánh sáng không khác, màu sắc và màu sắc không khác, hình dung và hình dung không khác, oai nghi lễ tiết và y phục cũng không khác nhau; chỉ có con mắt nháy là khác nhau.
“Này A-nan, vua Đảnh Sanh kia một thời gian hết sức lâu xa về sau nữa, lại nghĩ: ‘Ta có châu Diêm-phù giàu có, hoan lạc cùng cực, nhân dân đông đúc. Ta có bảy báu, đầy đủ một ngàn người con, và ở trong cung mưa báu bảy ngày dâng đến đầu gối. Ta lại có châu Cù-đà-ni, có châu Phất-bà-tì-đà-đề, có châu Uất-đan-viết. Ta cũng đã thấy Tam Thập Tam Thiên vân tập đại hội. Ta đã được vào nhà Chánh pháp của Chư Thiên, lại được Thiên đế Thích nhường cho một nửa chỗ ngồi, và ta đã ngồi trên một nửa chỗ ngồi của Thiên đế Thích. Ta với Thiên đế Thích hoàn toàn không khác gì nhau; ánh sáng không khác, màu sắc không khác, hình dung không khác, oai nghi lễ tiết cho đến y phục cũng không sai khác, chỉ có con mắt nháy là khác nhau mà thôi. Nay có lẽ ta đuổi Thiên đế Thích đi, cướp lấy phân nửa chỗ ngồi ấy mà làm vua loài trời và loài người, tự do tự tại.
“Này A-nan, vua Đảnh Sanh vừa khởi ý niệm như vậy, bất giác rơi xuống châu Diêm-phù, liền mất như ý túc, nhuốm bệnh, đau nguy kịch. Đến lúc sắp chết, các cận thần đến bên vua hỏi rằng:
“—Tâu Thiên vương, nếu có vị bà-la-môn, cư sĩ và kẻ bày tôi hay thần dân nào đến hỏi các hạ thần rằng: ‘Lúc băng hà Đảnh Sanh vương chỉ bảo những gì?’ Tâu Thiên vương, các hạ thần trả lời thế nào cho Bà-la-môn, cư sĩ hay thần dân ấy?
“ vua bảo cận thần:
“—Nếu có bà-la-môn, cư sĩ, hay thần dân nào đến hỏi các khanh rằng: ‘Lúc băng hà, vua đã nói những gì?’ Thì các khanh Hãy trả lời như thế này: ‘Vua Đảnh Sanh đã được châu Diêm-phù, nhưng khi chết vẫn chưa thỏa mãn. Vua Đảnh Sanh đã được bảy báu, nhưng khi chết vẫn chưa được thỏa mãn. Vua Đảnh Sanh đã đầy đủ một ngàn người con, nhưng khi chết vẫn chưa thỏa mãn. Vua Đảnh Sanh đã có bảy ngày mưa báu, nhưng khi chết vẫn chưa thỏa mãn. Vua Đảnh Sanh đã được châu Cù-đà-ni, nhưng khi chết vẫn chưa thỏa mãn. Vua Đảnh Sanh đã được châu Phất-bà-tì-đà-đề, nhưng khi chết vẫn chưa thỏa mãn. Vua Đảnh Sanh đã được châu Uất-đan-viết, nhưng khi chết vẫn chưa thỏa mãn. Vua Đảnh Sanh đã thấy Chư Thiên tụ hội, nhưng khi chết vẫn chưa thỏa mãn. Vua Đảnh Sanh đã hưởng đầy đủ các đặc tính của năm thứ dục lạc, sắc, thanh, hương, vị, xúc; nhưng khi chết vẫn chưa thỏa mãn’. Nếu có vị bà-la-môn, hay thần dân nào đến hỏi các khanh rằng: ‘Lúc băng hà vua Đảnh Sanh đã nói những gì?’ Thì các khanh nên trả lời đúng như thế.”
Bấy giờ Đức Thế Tôn đọc bài tụng:
Trời mưa trân bảo quí,
Chưa thỏa lòng kẻ dục.
Ham muốn: khổ; nào vui.
Kẻ trí cần phải biết.
Giả sử được đống vàng,
Cao như núi Hy-mã,
Vẫn chưa đủ mảy may;
Kẻ trí nghĩ như vậy.
Được ngũ dục trên trời,
Chẳng cho đó là vui.
Dứt ái, không đắm dục;
Là đệ tử Chánh giác.
Rồi Đức Thế Tôn bảo:
“Này A-nan, vua Đảnh Sanh ngày xưa ấy, Ông cho là ai khác chăng? Chớ nghĩ như vậy. Nên biết rằng, vị ấy chính là Ta vậy. Này A-nan, lúc bấy giờ Ta được lợi ích, cũng làm lợi ích cho người khác, cho mọi người, thương xót thế gian, vì trời và vì loài người mà cầu nghĩa lợi lợi và lợi ích, cầu an ổn khoái lạc. Lúc bấy giờ, Ta nói pháp không đến chỗ rốt ráo, không rốt ráo bạch tịnh, không rốt ráo phạm hạnh. Vì không rốt ráo phạm hạnh hoàn toàn, lúc ấy Ta không lìa khỏi sự sanh, già, bệnh, chết, khóc than, ảo não, cũng chưa thể thoát ra ngoài mọi khổ đau. Này A-nan, hôm nay Ta xuất hiện ở thế gian, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, hiệu là Phật, Thế Tôn. Nay Ta đã làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho người khác, cho mọi người, thương xót thế gian, vì trời và vì người mà cầu nghĩa lợi và lợi ích, cầu an ổn khoái lạc.
“Nay Ta thuyết pháp đã đến chỗ rốt ráo, rốt ráo bạch tịnh, rốt ráo phạm hạnh. Khi đã rốt ráo phạm hạnh, Ta lìa khỏi sự sanh, già, bệnh, chết, khóc than, ảo não. Ta đã thoát khỏi mọi khổ đau.”
Đức Phật thuyết giảng như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe thuyết giảng, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
T 0494b10
我聞如是:
一時,佛遊舍衛國,在勝林給孤獨
T 0494b11
園。
爾時,尊者阿難在安靜處,燕坐思惟而作
T 0494b12
是念:「世人甚少少能於欲有滿足意,少有
T 0494b13
厭患於欲而命終者;世人於欲有滿足意,
T 0494b14
厭患於欲而命終者,為甚難得。」
尊者阿難
T 0494b15
則於晡時從燕坐起,往詣佛所,到已作禮,
T 0494b16
却住一面,白曰:「世尊!我今在安靜處,燕坐
T 0494b17
思惟而作是念:『世人甚少少能於欲有滿
T 0494b18
足意,少有厭患於欲而命終者;世人於
T 0494b19
欲有滿足意,厭患於欲而命終者,為甚難
T 0494b20
得。』」
佛告阿難:「如是,如是。世人甚少少能
T 0494b21
於欲有滿足意,少有厭患於欲而命終者。
T 0494b22
阿難!世人於欲有滿足意,厭患於欲而命
T 0494b23
終者,為甚難得。阿難!世人極甚難得,極甚
T 0494b24
難得於欲有滿足意,厭患於欲而命終者。
T 0494b25
阿難!但世間人甚多甚多,於欲無滿足意,
T 0494b26
不厭患欲而命終也。所以者何?阿難!往昔
T 0494b27
有王名曰頂生,作轉輪王,聰明智慧,有四
T 0494b28
種軍,整御天下,由己自在,如法法王成就
T 0494b29
七寶,彼七寶者,輪寶、象寶、馬寶、珠寶、女寶、居
T 0494c01
士寶、主兵臣寶,是為七,千子具足,顏貌端
T 0494c02
正,勇猛無畏,能伏他眾,彼必統領此一切地
T 0494c03
乃至大海,不以刀杖,以法教令,令得安樂。
T 0494c04
阿難!彼頂生王而於後時極大久遠,便作
T 0494c05
是念:『我有閻浮洲,極大富樂,多有人民,我
T 0494c06
有七寶,千子具足,我欲於宮雨寶七日,積
T 0494c07
至于膝。』阿難!彼頂生王有大如意足,有大
T 0494c08
威德,有大福祐,有大威神,適發心已,即於
T 0494c09
宮中雨寶七日,積至于膝。
「阿難!彼頂生王
T 0494c10
而於後時極大久遠,復作是念:『我有閻浮
T 0494c11
洲,極大富樂,多有人民,我有七寶,千子具
T 0494c12
足,及於宮中雨寶七日,積至于膝。我憶曾
T 0494c13
從古人聞之,西方有洲名瞿陀尼,極大富
T 0494c14
樂,多有人民。我今欲往見瞿陀尼洲,到已
T 0494c15
整御。』阿難!彼頂生王有大如意足,有大威
T 0494c16
德,有大福祐,有大威神,適發心已,即以如
T 0494c17
意足乘虛而去,及四種軍。阿難!彼頂生
T 0494c18
王即時往到住瞿陀尼洲。阿難!彼頂生王住
T 0494c19
已整御瞿陀尼洲,乃至無量百千萬歲。
「阿難!
T 0494c20
彼頂生王而於後時極大久遠,復作是念:
T 0494c21
『我有閻浮洲,極大富樂,多有人民,我有七
T 0494c22
寶,千子具足,及於宮中雨寶七日,積至于
T 0494c23
膝,我亦復有瞿陀尼洲。我復曾從古人聞
T 0494c24
之,東方有洲名弗婆鞞陀提,極大富樂,多
T 0494c25
有人民。我今欲往見弗婆鞞陀提洲,到已
T 0494c26
整御。』阿難!彼頂生王有大如意足,有大威
T 0494c27
德,有大福祐,有大威神,適發心已,即以如
T 0494c28
意足乘虛而去,及四種軍。阿難!彼頂生王
T 0494c29
即時往到住弗婆鞞陀提洲。阿難!彼頂生王
T 0495a01
住已整御弗婆鞞陀提洲,乃至無量百千萬
T 0495a02
歲。
「阿難!彼頂生王而於後時極大久遠,復
T 0495a03
作是念:『我有閻浮洲,極大富樂,多有人民,
T 0495a04
我有七寶,千子具足,及於宮中雨寶七日,
T 0495a05
積至于膝,我亦復有瞿陀尼洲,亦有弗婆
T 0495a06
鞞陀提洲。我復曾從古人聞之,北方有洲
T 0495a07
名欝單曰,極大富樂,多有人民,彼雖無我
T 0495a08
想亦無所受。我今欲往見欝單曰洲,到已
T 0495a09
整御,及諸眷屬。』阿難!彼頂生王有大如意足,
T 0495a10
有大威德,有大福祐,有大威神,適發心已,
T 0495a11
即以如意足乘虛而去,及四種軍。
「阿難!彼
T 0495a12
頂生王遙見平地白,告諸臣曰:『卿等見欝
T 0495a13
單曰平地白耶?』諸臣對曰:『見也。天王!』王復
T 0495a14
告曰:『卿等知不?彼是欝單曰人自然粳米,
T 0495a15
欝單曰人常所食者,卿等亦應共食此食。』
T 0495a16
阿難!彼頂生王復遙見欝單曰洲中,若干
T 0495a17
種樹,淨妙嚴飾,種種綵色,在欄楯裏,告諸臣
T 0495a18
曰:『卿等見欝單曰洲中,若干種樹,淨妙嚴飾,
T 0495a19
種種綵色,在欄楯裏耶?』諸臣對曰:『見也。天
T 0495a20
王!』王復告曰:『卿等知不?是欝單曰人衣樹,
T 0495a21
欝單曰人取此衣著,卿等亦應取此衣
T 0495a22
著。』阿難!彼頂生王即時往到住欝單曰洲。
T 0495a23
阿難!彼頂生王住已整御欝單曰洲,乃至無
T 0495a24
量百千萬歲,及諸眷屬。
「阿難!彼頂生王而於
T 0495a25
後時極大久遠,復作是念:『我有閻浮洲,極
T 0495a26
大富樂,多有人民,我有七寶,千子具足,及
T 0495a27
於宮中雨寶七日,積至于膝,我亦復有瞿陀
T 0495a28
尼洲,亦有弗婆鞞陀提洲,亦有欝單曰洲。
T 0495a29
我復曾從古人聞之,有天名曰三十三天。
T 0495b01
我今欲往見三十三天。』阿難!彼頂生王有
T 0495b02
大如意足,有大威德,有大福祐,有大威神,
T 0495b03
適發心已,即以如意足乘虛而往,及四種
T 0495b04
軍,向日光去。
「阿難!彼頂生王遙見三十三
T 0495b05
天中,須彌山王上猶如大雲,告諸臣曰:『卿
T 0495b06
等見三十三天中,須彌山王上猶如大雲耶?』
T 0495b07
諸臣對曰:『見也。天王!』王復告曰:『卿等知不?是
T 0495b08
三十三天晝度樹也。三十三天在此樹下,於
T 0495b09
夏四月,具足五欲,而自娛樂。』阿難!彼頂生
T 0495b10
王復遙見三十三天中,須彌山王上近於南
T 0495b11
邊猶如大雲,告諸臣曰:『卿等見三十三天
T 0495b12
中,須彌山王上近於南邊猶如大雲耶?』諸
T 0495b13
臣對曰:『見也。天王!』王復告曰:『卿等知不?是三
T 0495b14
十三天正法之堂,三十三天於此堂中,八日、
T 0495b15
十四日、十五日,為天為人,思法思義。』
「阿難!
T 0495b16
彼頂生王即到三十三天。彼頂生王到三十
T 0495b17
三天已,即入法堂。於是,天帝釋便與頂生
T 0495b18
王半座令坐,彼頂生王即坐天帝釋半
T 0495b19
座。於是,頂生王及天帝釋都無差別,光光
T 0495b20
無異,色色無異,形形無異,威儀禮節及其
T 0495b21
衣服亦無有異,唯眼眴異。
「阿難!彼頂生王
T 0495b22
而於後時極大久遠,復作是念:『我有閻浮
T 0495b23
洲,極大富樂,多有人民,我有七寶,千子具
T 0495b24
足,及於宮中雨寶七日,積至于膝。我亦復
T 0495b25
有瞿陀尼洲,亦有弗婆鞞陀提洲,亦有欝
T 0495b26
單曰洲。我又已見三十三天雲集大會,我已
T 0495b27
得入諸天法堂。又天帝釋與我半座,我已
T 0495b28
得坐帝釋半座,我與帝釋都無差別,光光
T 0495b29
無異,色色無異,形形無異,威儀禮節及其
T 0495c01
衣服亦無有異,唯眼眴異。我今寧可驅帝
T 0495c02
釋去,奪取半座,作天人王,由己自在。』
「阿
T 0495c03
難!彼頂生王適發此念,不覺已下在閻浮
T 0495c04
洲,便失如意足,生極重病。命將終時,諸臣
T 0495c05
往詣頂生王所白曰:『天王!若有梵志、居士
T 0495c06
及臣人民,來問我等:「頂生王臨命終時說
T 0495c07
何等事?天王!我等當云何答梵志、居士及臣
T 0495c08
人民?」』
「時,頂生王告諸臣曰:『若梵志、居士及臣
T 0495c09
人民,來問卿等:「頂生王臨命終時說何等
T 0495c10
事?」卿等應當如是答之:「頂生王得閻浮洲,
T 0495c11
意不滿足而命終。頂生王得七寶,意不滿
T 0495c12
足而命終。千子具足,意不滿足而命終。頂
T 0495c13
生王七日雨寶,意不滿足而命終。頂生王
T 0495c14
得瞿陀尼洲,意不滿足而命終。頂生王得
T 0495c15
弗婆鞞陀提洲,意不滿足而命終。頂生王
T 0495c16
得欝單曰洲,意不滿足而命終。頂生王見
T 0495c17
諸天集會,意不滿足而命終。頂生王具足
T 0495c18
五欲功德色、聲、香、味、觸,意不滿足而命終。」若
T 0495c19
梵志、居士及臣人民,來問卿等:「頂生王臨命
T 0495c20
終時說何等事?」卿等應當如是答之。』」
於是,
T 0495c21
世尊而說頌曰:
T 0495c22
「天雨妙珍寶, 欲者無厭足,
T 0495c23
欲苦無有樂, 慧者應當知。
T 0495c24
若有得金積, 猶如大雪山,
T 0495c25
一一無有足, 慧者作是念。
T 0495c26
得天妙五欲, 不以此五樂,
T 0495c27
斷愛不著欲, 等正覺弟子。」
T 0495c28
於是,世尊告曰:「阿難!昔頂生王,汝謂異
T 0495c29
人耶?莫作斯念,當知即是我也。阿難!我
T 0496a01
於爾時為自饒益,亦饒益他,饒益多人,
T 0496a02
愍傷世間,為天、為人求義及饒益,求安隱
T 0496a03
快樂。爾時說法不至究竟,不究竟白淨,
T 0496a04
不究竟梵行,不究竟梵行訖。爾時不離
T 0496a05
生老病死、啼哭憂慼,亦未能得脫一切苦。
T 0496a06
阿難!我今出世,如來、無所著、等正覺、明行成
T 0496a07
為、善逝、世間解、無上
士
、道法御、天人師,號佛、眾
T 0496a08
祐。我今自饒益,亦饒益他,饒益多人,愍
T 0496a09
傷世間,為天、為人求義及饒益,求安隱快
T 0496a10
樂。我今說法得至究竟,究竟白淨,究竟梵
T 0496a11
行,究竟梵行訖。我今得離生老病死、啼哭
T 0496a12
憂慼,我今已得脫一切苦。」
佛說如是。尊者
T 0496a13
阿難及諸比丘,聞佛所說,歡喜奉行。
T 0496a14
四洲經第三竟
(
二
千三百五十三字)
T 0496a15