Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có nhiều Tỳ-kheo cùng tụ tập ở giảng đường Già-lê-lệ. Lúc đó có nhiều Tỳ-kheo bệnh.
Buổi chiều sau khi Thế Tôn từ thiền tịnh tỉnh giấc, đến giảng đường Già-lê-lệ, trải tòa ngồi trước đại chúng, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Nên chánh niệm, chánh trí để đợi thời. Đó là giáo huấn của Ta. Này các Tỳ-kheo, thế nào là chánh niệm? Là Tỳ-kheo sống quán niệm thân trên thân, tinh cần, chánh niệm, chánh trí, điều phục tham ưu thế gian, sống quán niệm ngoại thân trên thân, sống quán niệm nội ngoại thân trên thân; nội thọ, ngoại thọ, nội ngoại thọ; nội tâm, ngoại tâm, nội ngoại tâm; sống quán niệm nội pháp, ngoại pháp, nội ngoại pháp, phương tiện tinh cần, chánh niệm, chánh trí, điều phục tham ưu thế gian. Đó gọi là Tỳ-kheo ức niệm chánh.
“Thế nào là chánh trí? Tỳ-kheo hoặc tới hoặc lui, an trụ chánh trí; nhìn trông, quán sát, co, duỗi, cúi, ngước, nắm cầm y bát, đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức
… cho đến
năm mươi, sáu mươi người nói năng hay im lặng đều hành với chánh trí. Tỳ-kheo, đó gọi là chánh trí. Cũng thế, Tỳ-kheo nào an trụ vào chánh niệm, chánh trí, có thể khởi cảm thọ lạc, có nhân duyên chứ không phải không nhân duyên.
“Thế nào là nhân duyên? Duyên vào thân khởi suy nghĩ: ‘Thân này của ta là vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh. Cảm thọ lạc cũng vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh’. Quán sát thân và cảm thọ lạc, quán sát vô thường, quán sát sanh diệt, quán sát ly dục, quán sát diệt tận, quán sát xả. Vị ấy quán sát thân cùng với cảm thọ lạc là vô thường
… cho đến
xả. Nếu ở nơi thân và cảm thọ lạc mà kết sử tham dục vĩnh viễn không còn sai sử nữa. Cũng vậy, với chánh niệm, chánh trí, biết cảm thọ khổ phát sanh, có nhân duyên chứ không phải không nhân duyên.
“Thế nào là nhân duyên? Cũng vậy, duyên vào thân khởi tư duy: ‘Thân này của ta là vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh. Cảm thọ khổ cũng vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh’. Quán sát thân và cảm thọ khổ, là vô thường cho đến xả. Ở nơi thân này và cảm thọ khổ mà kết sử sân nhuế vĩnh viễn không còn sai sử nữa. Cũng vậy, với chánh niệm, chánh trí, biết cảm thọ không khổ, không vui phát sanh, có nhân duyên chứ không phải không nhân duyên.
“Thế nào là nhân duyên? Là duyên vào thân khởi suy nghĩ: ‘Thân này của ta là vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh. Cảm thọ chẳng khổ chẳng lạc, cũng vô thường, hữu vi, tâm nhân duyên sanh’. Quán sát thân và cảm thọ không khổ, không lạc kia, là vô thường cho đến xả. Nếu những gì ở nơi thân và cảm thọ không khổ không lạc mà kết sử vô minh sử vĩnh viễn không còn sai sử nữa. Đa văn Thánh đệ tử quán sát như vậy, đối với sắc yểm ly, đối với thọ, tưởng, hành, thức yểm ly. Đã yểm ly rồi, ly dục. Ly dục rồi, được giải thoát, giải thoát tri kiến: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Bấy giờ, Thế Tôn nói kệ:
Khi đang cảm giác lạc;
Không biết cảm giác lạc.
Vì kết sử tham dục,
Nên không thấy xuất ly.
Khi đang cảm giác khổ,
Không biết cảm giác khổ.
Vì kết sử sân nhuế,
Nên không thấy xuất ly.
Cảm thọ không lạc, khổ,
Đẳng Chánh Giác đã nói,
Người kia không thể biết,
Nên không qua bờ kia.
Nếu Tỳ-kheo tinh tấn,
Chánh trí không xiêu động;
Nơi tất cả thọ kia,
Trí tuệ đều biết hết.
Thường biết các thọ rồi,
Hiện tại hết các lậu;
Mạng chung nương trí tuệ,
Niết-bàn, không đọa lạc.
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Nội dung bài kinh
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給
T 0268b28
孤獨園。時,有眾多比丘集於伽梨隸講堂。
T 0268b29
時,多有比丘疾病。
爾時,世尊晡時從禪覺,
T 0268b30
往至伽梨隸講堂,於大眾前敷座而坐。
T 0268c01
坐已,告諸比丘:「當正念正智以待時,是則
T 0268c02
為我隨順之教。比丘!云何為正念?謂比丘
T 0268c03
內身身觀念處,精勤方便,正念正智,調伏世
T 0268c04
間貪憂;外身身觀念處、內外身身觀念處,內
T 0268c05
受、外受、內外受,內心、外心、內外心,內法、外法、
T 0268c06
內外法法觀念處,精勤方便,正念正智,調
T 0268c07
伏世間貪憂,是名比丘正憶念。
「云何正智?謂
T 0268c08
比丘若來若去,正知而住,瞻視觀察,屈
T 0268c09
申俯仰,執持衣鉢,行、住、坐、臥、眠、覺,乃至五
T 0268c10
十、六十,依語默正智行。比丘!是名正智。
「如是,
T 0268c11
比丘!正念正智住者能起樂受,有因緣,非
T 0268c12
無因緣。云何因緣?謂緣於身,作是思惟:『我
T 0268c13
此身無常、有為、心因緣生;樂受亦無常、有為、
T 0268c14
心因緣生。』身及樂受觀察無常,觀察生滅,
T 0268c15
觀察離欲,觀察滅盡,觀察捨彼,觀察身及
T 0268c16
樂受無常,乃至捨已,若於身及樂受貪欲使
T 0268c17
者永不復使。
「如是,正念正智生苦受因緣,
T 0268c18
非不因緣。云何為因緣?如是緣身,作是思
T 0268c19
惟:『我此身無常、有為、心因緣生;苦受亦無常、
T 0268c20
有為、心因緣生。』身及苦受觀察無常,乃至捨,
T 0268c21
於此及苦受瞋恚所使,永不復使。
「如是,正
T 0268c22
念正智生不苦不樂受因緣,非不因緣。云
T 0268c23
何因緣?謂身因緣,作是思惟:『我此身無常、有
T 0268c24
為、心因緣生;彼不苦不樂受亦無常、有為、心
T 0268c25
因緣生。』彼身及不苦不樂受觀察無常,乃至
T 0268c26
捨,若所有身及不苦不樂受無明使使,使永
T 0268c27
不復使。多聞聖弟子如是觀者,於色厭離,
T 0268c28
於受、想、行、識厭離,厭離已離欲,離欲已解
T 0268c29
脫,解脫知見:『我生已盡,梵行已立,所作已
T 0268c30
作,自知不受後有。』」
爾時,世尊即說偈言:
T 0269a01
「樂覺所覺時, 莫能知樂覺,
T 0269a02
貪欲使所使, 不見於出離。
T 0269a03
苦受所覺時, 莫能知苦受,
T 0269a04
瞋恚使所使, 不見出離道。
T 0269a05
不苦不樂受, 等正覺所說,
T 0269a06
彼亦不能知, 終不度彼岸。
T 0269a07
若比丘精勤, 正智不傾動,
T 0269a08
於彼一切受, 黠慧能悉知。
T 0269a09
能知諸受已, 現法盡諸漏,
T 0269a10
依慧而命終, 涅槃不墮數。」
T 0269a11
佛說此經已,諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0269a12