Chuyển đến nội dung chính
← Tụng Kinh

Kinh 1081. khổ chúng (SA1081)

Bản dịch

Nội dung bài kinh

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật ở vườn Lộc dã, tại nước Ba-la-nại. Bấy giờ sáng sớm Thế Tôn đắp y, ôm bát, vào thành Ba-la-nại khất thực. Lúc ấy, cũng có Tỳ-kheo đắp y, ôm bát, vào thành khất thực, đứng dưới gốc cây bên đường, vì nương vào ác tham nên sanh giác tưởng bất thiện. Thế Tôn thấy Tỳ-kheo đứng dưới bóng cây, sống bằng vị ác tham nên sanh giác tưởng bất thiện, bảo rằng:

“Này Tỳ-kheo! Tỳ-kheo! Chớ gieo trồng hạt giống đắng, để rồi xông lên mùi thối, nước rỉ chảy ra. Nếu Tỳ-kheo nào gieo trồng hạt giống đắng, để rồi xông lên mùi thối, nước rỉ chảy ra, mà muốn cho ruồi nhặng không tranh nhau bu lại, thì điều đó không thể có được.”

Lúc ấy Tỳ-kheo kia tự nghĩ: “Thế Tôn đã biết được niệm ác trong tâm ta.” Chợt lòng cảm thấy sợ hãi, toàn thân lông dựng đứng.

Bấy giờ, sau khi Thế Tôn vào thành khất thực, trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân, rồi vào phòng tọa thiền. Chiều hôm ấy, từ thiền tịnh dậy, Ngài vào trong Tăng, trải tòa ngồi trước đại chúng và bảo các Tỳ-kheo:

“Sáng nay, Ta đắp y, ôm bát vào thành khất thực, thấy một Tỳ-kheo đứng dưới bóng cây, nương vào ác tham dục, phát sanh giác tưởng bất thiện. Khi Ta thấy vậy liền bảo rằng: ‘Tỳ-kheo! Tỳ-kheo! Chớ gieo trồng hạt giống đắng, để rồi xông lên mùi thối, nước rỉ chảy ra. Nếu Tỳ-kheo nào gieo trồng hạt giống đắng, để rồi xông lên mùi thối, nước rỉ chảy ra, mà muốn cho ruồi nhặng không tranh nhau bu lại, thì điều đó không thể có được.’ Lúc đó, Tỳ-kheo kia liền tự nghĩ: ‘Phật đã biết được niệm của ta.’ Lòng cảm thấy hổ thẹn, sợ hãi đến nỗi lông dựng cả lên, rồi theo đường mà đi.”

Khi ấy, có một Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dạy, sửa lại y phục, bày áo vai bên hữu, chắp tay bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, thế nào là hạt giống đắng? Thế nào là sanh hôi thối? Thế nào là nước rỉ chảy? Thế nào là ruồi nhặng?”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Phẫn nộ, phiền oán gọi là hạt giống đắng. Công đức ngũ dục gọi là sanh hôi thối. Đối với lục xúc nhập xứ không nhiếp luật nghi gọi là chất nước rỉ chảy. Và khi đã không nhiếp xúc nhập xứ, thì các tâm ác bất thiện, tham ưu tranh nhau sanh ra, đó gọi là ruồi nhặng.”

Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ:

Tai mắt không phòng hộ,

Tham dục theo đó sanh;

Đó gọi là giống đắng,

Hôi thối, nước rỉ chảy.

Khí vị các giác quán,

Do nếm ác tham dục.

Nơi xóm làng, chỗ vắng,

Đối với ngày hoặc đêm,

Viễn ly, tu phạm hạnh,

Cứu cánh biên tế khổ.

Nếu nội tâm tịch tĩnh,

Quyết định biết chân thật.

Thức ngu thường an lạc,

Ruồi nhặng bị tận diệt.

Thân cận bậc Chánh sĩ,

Khéo nói đường Hiền thánh;

Biết rõ bát Chánh đạo,

Không tái sanh thân sau.

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

Nội dung bài kinh

T -juan39

T 0283a16

T 0283a17

雜阿含經卷第三十九

T 0283a18

T 0283a19

宋天竺三藏求那跋陀羅譯

T 0283a20

如是我聞:

一時,佛住波羅

[木*奈]

國鹿

T 0283a21

野苑中。

爾時,世尊晨朝著衣持鉢,入波羅

T 0283a22

[木*奈]

城乞食。時,有異比丘著衣持鉢,入城

T 0283a23

乞食,於其路邊,住一樹下,起不善覺,以

T 0283a24

依惡貪。

爾時,世尊見彼比丘住一樹下,以

T 0283a25

生不善覺,依惡貪嗜,而告之曰:「比丘!比

T 0283a26

丘!莫種苦種,而發熏生臭,汁漏流出。若

T 0283a27

比丘種苦種子,自發生臭,汁漏流出者,欲

T 0283a28

令蛆蠅不競集者,無有是處!」

時,彼比丘

T 0283a29

作是念:「世尊知我心之惡念。」即生恐怖,身

T 0283b01

毛皆竪。

爾時,世尊入城乞食畢,還精舍,舉

T 0283b02

衣鉢,洗足已,入室坐禪。晡時從禪覺,至於

T 0283b03

僧中,於眾前敷座而坐,告諸比丘:「我今晨

T 0283b04

朝著衣持鉢,入城乞食,見一比丘住於樹

T 0283b05

下,以生不善覺,依惡貪嗜。我時見已,即告

T 0283b06

之言:『比丘!比丘!莫種苦種,發熏生臭,惡汁

T 0283b07

流出。若有比丘種苦種子,發熏生臭,惡汁

T 0283b08

流出,蛆蠅不集,無有是處!』時,彼比丘即思

T 0283b09

念:『佛已知我心之所念。』慚愧恐怖,心驚毛

T 0283b10

竪,隨路而去。」

時,有異比丘從坐起,整衣

T 0283b11

服,偏袒右肩,合掌白佛:「世尊!云何苦種?云

T 0283b12

何生臭?云何汁流?云何蛆蠅?」

佛告比丘:「忿

T 0283b13

怒煩怨,名曰苦種。五欲功德,名為生臭。於

T 0283b14

六觸入處不攝律儀,是名汁流。謂觸入處

T 0283b15

不攝已,貪、憂、諸惡不善心競生,是名蛆蠅。」

T 0283b16

爾時,世尊即說偈言:

T 0283b17

「耳目不防護,  貪欲從是生,

T 0283b18

是名為苦種。  生臭汁潛流,

T 0283b19

諸覺觀氣味,  依於惡貪嗜,

T 0283b20

聚落及空處,  若於晝若夜,

T 0283b21

遠離修梵行,  究竟於苦邊,

T 0283b22

若內心寂靜,  決定諦明了。

T 0283b23

臥覺常安樂,  諸惡蛆蠅滅,

T 0283b24

正士所習近,  善說賢聖路。

T 0283b25

了知八正道,  不還更受身。」

T 0283b26

佛說此經已,諸比丘聞佛所說,歡喜奉行。

T 0283b27

3

⚙️ Cài Đặt

Chế độ đọc

🖼️ Hình Nền

🎵 Nhạc Nền

☰ Mục Lục

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc