Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở nơi tụ lạc Điều phục bác ngưu, tại Câu-lưu-sấu, lúc bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nay Ta sẽ vì các ông nói pháp, ngôn ngữ phần đầu thiện xảo, ngôn ngữ phần giữa thiện xảo, ngôn ngữ phần cuối cũng thiện xảo, nghĩa thiện xảo, vị thiện xảo, thuần nhất, thanh tịnh, phạm hạnh thanh bạch. Đó là kinh ‘Tứ phẩm pháp’, hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà nói.
“Kinh Tứ phẩm pháp là gì? Có sắc được nhận thức bởi mắt là đáng yêu, đáng nhớ, đáng thích, đáng say đắm. Tỳ-kheo thấy rồi thì hoan hỷ, tán thán, ái lạc, bám chặt vào đó. Có sắc được nhận thức bởi mắt là không đáng yêu, không đáng nhớ, không đáng thích đắm vào, chỉ có khổ, đáng nhàm tởm. Tỳ-kheo thấy rồi thì sân hận, bất mãn. Những Tỳ-kheo như vậy không được tự tại thoát khỏi ma,… cho đến sẽ không giải thoát khỏi sự trói buộc của ma. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy.
“Có sắc được nhận thức bởi mắt là đáng yêu, đáng nhớ, đáng thích, đáng say đắm. Tỳ-kheo thấy rồi không hoan hỷ, không tán thán, không ái lạc mà bám chặt vào đó. Có sắc được nhận thức bởi mắt là không đáng yêu, không đáng nhớ, không đáng thích đắm vào, chỉ có khổ, đáng nhàm tởm. Tỳ-kheo thấy rồi thì không sân hận, không bất mãn. Tỳ-kheo như vậy, không bị ma tự tại chi phối,… cho đến thoát khỏi mọi sự trói buộc của ma. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy. Đó gọi là kinh Tứ phẩm pháp của Tỳ-kheo.”
Nội dung bài kinh
如是我聞:
一時,佛住拘留搜調伏
駮
T 0058c18
牛聚落。
爾時,世尊告諸比丘:「我今當為汝
T 0058c19
等說法,初語亦善,中語亦善,後語亦善,善
T 0058c20
義善味,純一滿淨,清白梵行,謂四品法經。諦
T 0058c21
聽,善思,當為汝說。
「何等為四品法經?有眼
T 0058c22
識色可愛、可念、可樂、可著,比丘見已,歡喜、
T 0058c23
讚歎、樂著、堅住,有眼識色不可愛、不可念、不
T 0058c24
可樂著、苦厭。比丘見已,瞋恚、嫌薄。如是比
T 0058c25
丘於魔不得自在,乃至不得解脫魔繫。
T 0058c26
耳、鼻、舌、身、意亦復如是。
「有眼識色可愛、可
T 0058c27
念、可樂、可著,比丘見已,知喜不讚歎、不樂
T 0058c28
著堅實,有眼識色不可愛、念、樂、著,比丘見已,
T 0058c29
不瞋恚、嫌薄。如是比丘不隨魔,自在,乃至
T 0059a01
解脫魔繫。耳、鼻、舌、身、意亦復如是。是名比
T 0059a02
丘四品法經。」
T 0059a03