Nội dung bài kinh
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong rừng Am-la tại làng Am-la, cùng với các Tỳ-kheo Thượng tọa. Bấy giờ có trưởng giả Chất-đa-la đến chỗ các Tỳ-kheo Thượng tọa, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên. Các Tỳ-kheo Thượng tọa vì trưởng giả Chất-đa-la nói pháp bằng nhiều hình thức, khai thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho hoan hỷ. Sau khi nói pháp bằng nhiều hình thức, khai thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho hoan hỷ, các Thượng tọa ngồi im lặng. Trưởng giả Chất-đa-la liền cúi đầu đảnh lễ các Tỳ-kheo Thượng tọa, rồi đi đến phòng Tỳ-kheo Na-già-đạt-đa; đảnh lễ Tỳ-kheo Na-già-đạt-đa, rồi ngồi lui qua một bên. Tỳ-kheo Na-già-đạt-đa hỏi trưởng giả Chất-đa-la:
“Có lời nói như vầy:
Chi xanh được phủ trắng
Xe một bánh lăn quay;
Lìa kết, đến quán sát,
Cắt dòng, chẳng còn trói.
“Này Trưởng giả, bài kệ này có nghĩa gì?”
Trưởng giả Chất-đa-la thưa:
“Tôn giả Na-già-đạt-đa, có phải Đức Thế Tôn nói bài kệ này không?”
“Phải.”
Chất-đa-la thưa Tôn giả Na-già-đạt-đa:
“Xin Tôn giả im lặng chốc lát, tôi sẽ suy nghĩ ý nghĩa này.”
Sau một hồi im lặng suy nghĩ, Chất-đa-la nói với Tôn giả Na-già-đạt-đa:
“Xanh nghĩa là Giới. Phủ trắng là giải thoát. Một bánh là thân niệm. Quay là quay ra. Xe là chỉ quán. Lìa kết, có ba thứ kết là tham, sân, si. A-la-hán kia đã dứt sạch các lậu, đã diệt, đã biến tri, đã cắt đứt rễ, như chặt ngọn cây đa-la không sanh trở lại nữa, đời vị lai thành pháp bất sanh.
“Quán sát nghĩa là thấy. Đến, là người đến.
“Cắt dòng, nghĩa là dòng ái nơi sanh tử. Tỳ-kheo A-la-hán kia đã dứt sạch các lậu, đã diệt, đã biến tri, đã cắt đứt rễ, như chặt ngọn cây đa-la không sanh trở lại nữa, đời vị lai thành pháp bất sanh.
“Chẳng còn trói, là ba hệ phược: tham dục phược, sân nhuế phược, ngu si phược. Tỳ-kheo A-la-hán kia đã dứt sạch các lậu, đã diệt, đã biến tri, đã cắt đứt rễ, như chặt ngọn cây đa-la không sanh trở lại nữa, đời vị lai thành pháp bất sanh.
“Thế nên, này Tôn giả Na-già-đạt-đa, Thế Tôn nói bài kệ này:
“Chi xanh được phủ trắng
Xe một bánh lăn quay;
Lìa kết, quán sát đến,
Cắt dòng, chẳng còn trói.”
“Thế Tôn nói bài kệ này, tôi đã phân biệt rồi.”
Tôn giả Na-già-đạt-đa hỏi trưởng giả Chất-đa-la:
“Ông đã nghe nghĩa này trước rồi chăng?”
“Thưa, không được nghe.”
Tôn giả Na-già-đạt-đa nói:
“Này Trưởng giả, ông được lợi ích tốt lành, ở nơi Phật pháp sâu xa này mà được thâm nhập bằng tuệ nhãn của Hiền thánh.”
Trưởng giả Chất-đa-la sau khi nghe Tôn giả Na-già-đạt-đa nói xong, tùy hỷ, hoan hỷ, làm lễ rồi lui.
Nội dung bài kinh
如是我聞:
一時,佛住菴羅聚落菴
T 0149a29
羅林中,與眾上座比丘俱。
時,有質多羅長
T 0149b01
者詣諸上座比丘,稽首禮足,退坐一面。
時,
T 0149b02
諸上座比丘為質多羅長者種種說法,示、
T 0149b03
教、照、喜;種種說法,示、教、照、喜已,默然住。時,
T 0149b04
質多羅長者稽首禮諸上座比丘足,往詣
T 0149b05
那伽達多比丘房,稽首禮那伽達多比丘足,
T 0149b06
退坐一面。
時,那伽達多比丘問質多羅長
T 0149b07
者,如所說:
T 0149b08
「枝青以白覆, 一輻轉之車,
T 0149b09
離結觀察來, 斷流不復縛。
T 0149b10
「長者!此偈有何義?」
質多羅長者言:「尊者
T 0149b11
那伽達多!世尊說此偈耶?」
答言:「如是。」
質
T 0149b12
多羅長者語尊者那伽達多言:「尊者!須臾
T 0149b13
默然,我當思惟此義。」
須臾默然思惟已,語
T 0149b14
尊者那伽達多言:「青者謂戒也,白覆謂
T 0149b15
解脫也,一輻者身念也,轉者轉出也,車者止
T 0149b16
觀也,離結者有三種結,謂貪、恚、癡。彼阿羅
T 0149b17
漢諸漏已盡、已滅、已知、已斷根本,如截
T 0149b18
多羅樹頭更不復生,未來世滅不起法。
「觀
T 0149b19
察者謂見也,來者人也,斷流者愛流於生
T 0149b20
死。彼羅漢比丘諸漏已盡、已知,斷其根本,
T 0149b21
如截多羅樹頭不復生,於未來世成不起
T 0149b22
法。
「不縛者謂三縛,貪欲縛、瞋恚縛、愚癡縛,
T 0149b23
彼阿羅漢比丘諸漏已盡、已斷、已知,斷其
T 0149b24
根本,如截多羅樹頭更不復生,於未來
T 0149b25
世成不起法。是故,尊者那伽達多!世尊說
T 0149b26
此偈:
T 0149b27
「枝青以白覆, 一輻轉之車,
T 0149b28
離結觀察來, 斷流不復縛。
T 0149b29
「此世尊所說偈,我已分別也。」
尊者那伽達
T 0149c01
多問質多羅長者言:「此義汝先聞耶?」
答言:
T 0149c02
「不聞。」
尊者那伽達多言:「長者!汝得善利,
T 0149c03
於此甚深佛法,賢聖慧眼得入。」
時,質多羅
T 0149c04
長者聞尊者那伽達多所說,歡喜隨喜,作
T 0149c05
禮而去。
T 0149c06