Nội dung bài kinh
Vi-n 1
Như vầy tôi nghe. Một thời Tôn giả
Kassapa
trú ở
Sāvatthī
(Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
I
Vi-n 2
Rồi Tôn giả
Ānanda
, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến Tôn giả
Mahākassapa
.
Vi-n 3
Tôn giả
Ānanda
thưa với Tôn giả
Mahākassapa
:
—Thưa Tôn giả, chúng ta hãy đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.
—Hãy đi, này Hiền giả
Ānanda
. Hiền giả là người có nhiều công việc, có nhiều trách nhiệm phải làm.
Vi-n 4
Lần thứ hai, Tôn giả
Ānanda
thưa với Tôn giả
Mahākassapa
:
—Hãy đi, thưa Tôn giả, chúng ta đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.
—Hãy đi, này Hiền giả
Ānanda
. Hiền giả là người có nhiều công việc, có nhiều trách nhiệm phải làm.
Vi-n 5
Lần thứ ba, Tôn giả
Ānanda
thưa với Tôn giả
Mahākassapa
:
—Hãy đi, thưa Tôn giả, chúng ta hãy đi đến trú xứ của các Tỷ-kheo-ni.
Vi-n 6
Rồi Tôn giả
Mahākassapa
, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát cùng với Tôn giả
Ānanda
, là Sa-môn tùy tùng, đi đến một trú xứ của Tỷ-kheo-ni, sau khi đi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
II
Vi-n 7
Rồi nhiều Tỷ-kheo-ni đi đến Tôn giả
Mahākassapa
; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả
Mahākassapa
, rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 8
Tôn giả
Mahākassapa
với pháp thoại giảng cho các vị Tỷ-kheo-ni đang ngồi một bên ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.
Vi-n 9
Rồi Tôn giả
Mahākassapa
, sau khi với pháp thoại giảng cho các Tỷ-kheo-ni ấy, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.
Vi-n 10
Rồi Tỷ-kheo-ni
Thullatissā
không hoan hỷ, nói lên những lời không hoan hỷ: “Làm sao Tôn giả
Mahākassapa
trước mặt Vedehamuni
Ānanda
, lại nghĩ đến thuyết pháp; ví như một người bán kim lại nghĩ, có thể bán kim cho người làm kim? Cũng vậy, Tôn giả
Mahākassapa
, trước mặt Vedehamuni
Ānanda
lại nghĩ đến thuyết pháp”.
Vi-n 11
Tôn giả
Mahākassapa
nghe được lời nói này của Tỷ-kheo-ni
Thullatissā
.
III
Vi-n 12
Rồi Tôn giả
Mahākassapa
nói với Tôn giả
Ānanda
:
—Thế nào, Hiền giả
Ānanda
, ta là người bán kim, Hiền giả là người làm kim, hay ta là người làm kim, Hiền giả là người bán kim?
—Hãy kham nhẫn, thưa Tôn giả
Kassapa
, ngu si là đàn bà!
Vi-n 13
—Hãy đến, Hiền giả
Ānanda
, chớ để cho chúng Tăng truy cứu thêm về Hiền giả. Hiền giả
Ānanda
, Hiền giả nghĩ thế nào?
Vi-n 14
Có phải trước mặt Thế Tôn, và giữa chúng Tăng, Hiền giả được Thế Tôn đề cập như sau: “Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo,
Ānanda
cũng ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”?
—Thưa Tôn giả, không phải vậy.
Vi-n 15
—Này Hiền giả, có phải trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo Tăng, ta được Thế Tôn đề cập như sau: “Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Tùy theo mong muốn, này các Tỷ-kheo,
Kassapa
cũng ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”?
Vi-n 16-29
(Chín thứ đệ định và năm trí giống như trên.)
Vi-n 30
Hiền giả nghĩ thế nào? Này Hiền giả, có phải, này
Ānanda
, trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo Tăng, Hiền giả được Thế Tôn đề cập như sau: “Và Ta, này các Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, Ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo,
Ānanda
cũng vậy, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”?
—Thưa Tôn giả, không phải vậy.
Vi-n 31
—Chính ta, này Hiền giả, trước mặt Thế Tôn và giữa chúng Tỷ-kheo, được Thế Tôn đề cập như sau: “Này các Tỷ-kheo, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí, Ta chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỷ-kheo,
Kassapa
cũng vậy, với sự đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”.
Vi-n 32
Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy sáu thắng trí của ta được, thời không khác gì họ nghĩ rằng có thể lấy một lá cây ta-la mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám khuỷu tay rưởi bề cao.
IV
Vi-n 33
Nhưng Tỷ-kheo-ni
Thullatissā
đã từ bỏ đời sống Phạm hạnh.