Chuyển đến nội dung chính
Trang chủ Phân Loại VII. Phương Pháp Học Hành Giới Luật 8 pháp cần từ bỏ đối với người xuất gia
1. 5 nguy hiểm cho người phá giới 2. 5 điều lợi ích cho người giữ giới 3. Thời điểm Phật thuyết pháp 4. 11 điều người xuất gia cần tu tập phát triển 5. Nhận thức tu tập để giải thoát 6. Nguyên lý vận hành của vô minh 7. 10 pháp người xuất gia nên quán sát 8. Lợi ích của ngày trai giới 9. Các vấn đề liên quan đến giới luật 10. Tầm quan trọng của giới luật Pàtimokkha 11. Nhận thức sự phức tạp của các cõi giới 12. Cách tu thân 13. Không phóng dật là căn bản của thiện pháp 14. Cách nói nín đúng pháp 15. Các chánh pháp cần tu tập 16. Cách giải trừ tham ái 17. Làm người cần lưu ý các hành vi sau 18. Nhận thức khi đi cúng dường 19. 8 căn cứ để biếng nhác và siêng năng 20. Vấn đề tưởng và con đường tu tập 21. Lí do nữ giới xuất gia 22. Lợi ích của ngày trai giới 23. Sử dụng thần thông giải quyết vấn đề 24. Sự tu tập chứng đắc đều có thứ lớp 25. Các sự trói buộc của người khác phái 26. 8 cấu uế 27. Vấn đề ăn thịt và pháp môn 28. Giới luật và cách xử lý vấn đề 29. Cách tu tập nhờ quán sát 30. Nhận thức về giới luật 31. Nhận thức khi làm người xuất gia 32. Nhận thức về thầy và cách tu tập 33. 7 điều người tu sĩ cần biết 34. Kỹ năng sống và vấn đề ngủ 35. Nhận thức về vấn đề dâm dục 36. 7 loại tưởng cần tu tập 37. Vấn đề về lửa 38. 7 pháp giúp Tăng đoàn lớn mạnh 39. 6 pháp giúp người không thối đọa 40. Pháp môn tu tập cần thâm nhập 41. Các hạng người khi sống gần hoặc xa với thầy của mình 42. Cách quán sát đoạn trừ phiền não 43. Người xuất gia cần lưu ý mục đích tu tập 44. Cách nhớ nghĩ cao thượng 45. 6 pháp người xuất gia cần phải ghi nhớ 46. Lợi hại với việc giữ gìn giới luật 47. 5 nguy hại với người thuyết pháp với giọng ca kéo dài 48. Lý do chánh pháp được an trú lâu ngày 49. 5 giới đưa đến xuất ly 50. 5 trường hợp gia đình gặp người xuất gia có công đức 51. Cách nhớ lâu 52. 5 nghề nghiệp không nên làm 53. Cách nói chuyện khi buộc tội người khác 54. Sự tồn vong của Phật Pháp và các yếu tố 55. Cách học pháp nghe pháp hiệu quả 56. 5 điều giúp đưa đến sự giải thoát 57. Cách sử dụng tưởng để chánh niệm tỉnh giác 58. Phẩm chất của người lãnh đạo 59. 5 tổn thất lớn của con người 60. 5 tội lỗi lớn 61. 5 điều gia tăng tuổi thọ 62. Phương pháp giải thoát khi bệnh 63. Cách khen ngợi đúng pháp 64. 5 điều kiện thuận lợi để tu tập 65. Các tình huống thường thấy giữa thầy và trò 66. Như Lai là bậc tôn trọng Pháp qua cách giảng 67. Những yếu tố giúp nghe pháp có kết quả 68. 5 điều người xuất gia cần học tập 69. Làm người cần lưu ý để làm gương 70. Cách sống theo pháp của người xuất gia 71. 5 sự kiện cần phải quan sát 72. Sự cám dỗ của giới tính 73. 5 thời điểm cần tinh tấn tu tập 74. Lợi ích của đi kinh hành 75. Các điều cần phải thấy 76. Lí do người thầy cần quan tâm học trò 77. Học cách nằm đúng 78. 4 lí do của kẻ phá hòa hợp Tăng 79. Cách tiếp nhận các nguồn tin 80. 4 pháp cần phải chứng ngộ 81. 4 vấn đề liên quan đến giới luật 82. Sự sám hối của Tỷ kheo ni 83. 4 loại thời gian 84. 4 điều sợ hãi con người cần lưu ý 85. Nhận thức cách tu tập tinh tấn 86. Các loại uế nhiễm 87. 4 bài học quan trọng của người xuất gia 88. Truyền thống đạo đức của người xuất gia là gì? 89. Hạng người như chữ viết trên đá, trên đất, trên nước 90. Lợi ích khi hành trì giới luật 91. 3 điều người xuất gia cần phải học 92. Hương người đức hạnh bay ngược chiều gió 93. Cách giữ gìn trai giới theo chánh pháp 94. 3 căn bản của thiện và bất thiện 95. Như lý tác ý đoạn trừ Tham, Sân, Si 96. Phật Gotama gương mẫu và sống giới luật 97. Nguyên nhân khởi lên các nghiệp 98. Sự khác biệt của tu tập chân chính 99. Nguyên nhân có giới luật 100. Sự khác biệt của không phóng dật 101. Sự quan trọng của giới luật 102. Tứ niệm xứ còn - Phật pháp còn 103. Các pháp tu tập khi ứng dụng Bát chánh đạo 104. Giới là nền tảng cơ bản cùng Bát chánh đạo 105. Bát chánh đạo là gì? 106. Vấn đề vô minh 107. Người xuất gia không nên thực hành cực đoan 108. Giới luật của người xuất gia 109. Những điều khó làm trong Phật pháp 110. Mối liên hệ giữa vật chất và tinh thần 111. Hộ trì và không hộ trì là gì? 112. Lợi ích của không phóng dật 113. Phương pháp phòng hộ 6 căn 114. Thế giới trong nhà Phật là gì? 115. Cách ăn uống đúng pháp 116. Người giữ giới cần quan tâm điều gì 117. Dù không mong ước nhưng bản thân tu tập vẫn giải thoát 118. Cầu an khi bệnh và giải thoát sau khi chết dù hiện tại chưa chứng đắc 119. Bài kinh quan trọng cho người xuất gia 120. Không nên đánh giá bề ngoài 121. Giá trị của sống độc cư 122. Giới luật và sự tri túc của người xuất gia 123. Sự làm việc của người chứng đắc 124. Sự im lặng của người xuất gia 125. 1 buổi nói chuyện tiêu biểu của đệ tử Phật 126. Lợi ích của giữ gìn giới luật 127. Thói thường của người đời 128. Các chướng ngại cho sự an lạc 129. Cách nhận thức đúng đắn về khất thực 130. Phương pháp giảng dạy có tâm huyết 131. Cách sống mạnh mẽ không biết sợ 132. Biết đủ là hạnh phúc 133. Quả báo do gây hận thù 134. Nguyên nhân đoạn trừ vô minh phiền não 135. Lối sống của người xuất gia 136. Không chấp trước sẽ có trí tuệ 137. Người tu đúng pháp sẽ được tôn trọng 138. Pháp và luật là thầy của mọi người 139. Vấn đề Xá lợi và tu sĩ 140. Lí do sanh tử vì không giác ngộ giới, định, tuệ 141. Tu 4 thần túc sẽ thấy được nhiều kiếp 142. Sống an trú, chánh niệm, tỉnh giác là gì 143. Pháp kính là gì để đệ tử tự soi mình khi tu tập, chứng đắc 144. 5 lợi ích khi sống giữ giới 145. 5 sự nguy hiểm khi sống phạm giới 146. Truyền thống về chánh pháp 147. Tóm tắt phương pháp tu giải thoát 148. 7 pháp tu tập trở nên mạnh mẽ 149. Giới bổn nhà Phật là gì 150. Cách học và sám hối đúng giới luật 151. 62 loại tà kiến 152. Các cảnh giới của các tu sĩ 153. Người ngu mới sợ hãi 154. Công đức lớn khi thực hành thân hành niệm 155. Các vấn đề liên quan giữa thầy và trò 156. Sống độc cư dễ chứng đắc hơn 157. Giữ giới luật đoạn diệt dục tưởng sẽ chứng đắc 158. Người còn dục sẽ không hiểu pháp và chứng đắc 159. Cách nhận thức con đường tu hành 160. Nguyên nhân rối loạn của 1 tổ chức khi thiếu lãnh đạo tốt 161. 11 cách tu tập để tăng trưởng trí tuệ 162. Ở đời có 4 hạng người liên quan đến thân và tâm 163. Giữ giới và nhận bố thí đúng pháp 164. Sự biết đủ của người xuất gia 165. Đệ tử Phật sẽ nương tựa ai sau khi Phật Gotama nhập diệt 166. 4 điều sợ hãi đối với người lội nước 167. Những người xuất gia không tu tập đúng pháp sẽ bị đuổi 168. Mọi thành tựu đều do huấn luyện thường xuyên 169. Nguyên nhân xưa học giới ít mà chứng đắc nhiều 170. Nguyên nhân Tăng đoàn kết tội hoặc không kết tội 1 tu sĩ 171. Người xuất gia cần buông xả toàn diện như giới luật của bậc Thánh 172. 8 pháp cần từ bỏ đối với người xuất gia 173. Đệ tử khẳng định lời dạy của Phật Gotama có giá trị thiết thực 174. Muốn xuất gia thọ đại giới phải sống 4 tháng biệt trú 175. Người xuất gia hướng dẫn người tại gia bố thí đúng pháp 176. Giới luật và phương pháp tu tập của người xuất gia 177. Phật Gotama dạy phương pháp tu tập cho người xuất gia 178. Các loại ác pháp 179. Bát chánh đạo là con đường diệt trừ ác pháp 180. Tâm giải thoát bất động là mục đích của phạm hạnh 181. Phật dạy cách tu cho những người chưa chứng đắc 182. Phật dạy cách tu cho những người đã chứng đắc 183. Phương pháp ăn để khỏe 184. Làm người cần phải quán sát bản thân 185. 7 cách xử lý vấn đề tranh luận 186. Điều kiện để xuất gia 187. Phật Gotama là vị Sa môn trọc đầu 188. Phương pháp thoát khỏi luân hồi 189. Phương pháp tu tập và cách sống với nhiều người 190. Phương pháp tu tập đối với các dục
Giới Luật

8 pháp cần từ bỏ đối với người xuất gia

Này Gia chủ, tám pháp này đưa đến sự đoạn tận các tục sự trong giới luật bậc Thánh. Thế nào là tám?

  1. Y cứ không sát sanh, sát sanh cần phải từ bỏ.
  2. Y cứ không lấy của không cho, lấy của không cho cần phải từ bỏ.
  3. Y cứ lời chân thật, nói láo cần phải từ bỏ.
  4. Y cứ không nói hai lưỡi, nói hai lưỡi cần phải từ bỏ.
  5. Y cứ không tham dục, tham dục cần phải từ bỏ.
  6. Y cứ không hủy báng sân hận, hủy báng sân hận cần phải từ bỏ.
  7. Y cứ không phẫn não, phẫn não cần phải từ bỏ.
  8. Y cứ không quá mạn, quá mạn cần phải từ bỏ.
Này Gia chủ, tám pháp này được nói một cách vắn tắt, không được giải thích rộng rãi, đưa đến sự đoạn tận các tục sự trong giới luật bậc Thánh.

— Bạch Thế Tôn, tám pháp này được Thế Tôn nói một cách vắn tắt, không được giải thích rộng rãi, đưa đến sự đoạn tận các tục sự trong giới luật bậc Thánh. Bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn vì lòng thương tưởng, giải thích rộng rãi tám pháp này.

— Này Gia chủ, vậy Ông hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

— Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Gia chủ Potaliya vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

— Khi được nói: “Y cứ không sát sanh, sát sanh cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có thể sát sanh, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ của các kiết sử ấy. Nếu ta sát sanh, không những ta tự trách mắng ta vì duyên sát sanh, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng sẽ khiển trách ta vì duyên sát sanh; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta, vì duyên sát sanh. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự sát sanh này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não nào có thể khởi lên, do duyên sát sanh, đối với vị đã từ bỏ sát sanh, những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không sát sanh, sát sanh cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Khi được nói: “Y cứ không lấy của không cho, lấy của không cho cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có thể lấy của không cho, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta lấy của không cho, không những ta tự trách mắng ta vì duyên lấy của không cho, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng sẽ khiển trách ta vì duyên lấy của không cho; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta, vì duyên lấy của không cho. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự lấy của không cho này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não nào có thể khởi lên do duyên lấy của không cho, đối với vị đã từ bỏ lấy của không cho, những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không lấy của không cho, lấy của không cho cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Khi được nói: “Y cứ lời chân thật, nói láo cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào, ta có thể nói láo, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta nói láo, không những ta tự trách mắng ta vì duyên nói láo, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng sẽ khiển trách ta vì duyên nói láo; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta, vì duyên nói láo. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính nói láo này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên, do duyên nói láo, đối với vị đã từ bỏ nói láo, những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ lời chân thật, nói láo cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Khi được nói: “Y cứ không nói hai lưỡi, nói hai lưỡi cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào, ta có thể nói hai lưỡi, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta nói hai lưỡi, không những ta tự trách mắng ta vì duyên nói hai lưỡi, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu cũng khiển trách ta vì duyên nói hai lưỡi, và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta vì duyên nói hai lưỡi. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự nói hai lưỡi này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên nói hai lưỡi, đối với vị đã từ bỏ nói hai lưỡi, những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không nói hai lưỡi, nói hai lưỡi cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Khi được nói: “Y cứ không tham dục, tham dục cần phải từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào, ta có thể có tham dục, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta tham dục, không những ta tự trách mắng ta vì duyên tham dục, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu cũng khiển trách ta vì duyên tham dục; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta vì duyên tham dục. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự tham dục này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên tham dục, đối với vị đã từ bỏ tham dục, các lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không tham dục, tham dục cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Khi được nói: “Y cứ không hủy báng sân hận, hủy báng sân hận cần được từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có thể hủy báng sân hận, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta hủy báng sân hận, không những ta tự trách mắng ta vì duyên hủy báng, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng khiển trách ta vì duyên hủy báng sân hận; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta vì duyên hủy báng sân hận. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự hủy báng sân hận này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên hủy báng sân hận, đối với vị đã từ bỏ hủy báng sân hận, các lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không hủy báng sân hận, hủy báng sân hận cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Khi được nói: “Y cứ không phẫn não, phẫn não cần được từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có thể có phẫn não, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta có phẫn não, không những ta tự trách mắng ta vì duyên phẫn não, các bậc có trí, sau khi tìm hiểu, cũng khiển trách ta vì duyên phẫn não; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta vì duyên phẫn não. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự phẫn nào này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên phẫn não, đối với vị đã từ bỏ phẫn não, các lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không phẫn não, phẫn não cần được từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Khi được nói: “Y cứ không quá mạn, quá mạn cần được từ bỏ”, do duyên gì, lời nói như vậy được nói lên? Này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Do nhơn những kiết sử nào ta có quá mạn, ta đoạn tận, thành tựu sự từ bỏ các kiết sử ấy. Nếu ta có quá mạn, không những ta tự trách mắng ta vì duyên quá mạn, các bậc có trí sau khi tìm hiểu, cũng khiển trách ta vì duyên quá mạn; và sau khi thân hoại mạng chung, ác thú sẽ chờ đợi ta, vì duyên quá mạn. Thật là một kiết sử, thật là một triền cái, chính sự quá mạn này. Những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não có thể khởi lên do duyên quá mạn, đối với vị đã từ bỏ quá mạn, các lậu hoặc, phiền lao nhiệt não như vậy không còn nữa”. “Y cứ không quá mạn, quá mạn cần phải từ bỏ”, do duyên như vậy, lời nói như vậy được nói lên.

Xem chi tiết:

https://buocdauhocphat.com/kinh-trung-bo-tap-ii-54-kinh-potaliya-potaliya-sutta

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc