Chuyển đến nội dung chính
Trang chủ Phân Loại VII. Phương Pháp Học Hành Chánh Kiến Cách loại trừ sự phân vân của tâm
1. Cái nhìn như thị đoạn tận khổ đau 2. Thực hành thiện giới có ý nghĩa gì 3. Chánh kiến về cuộc đời để giải thoát 4. Chánh tri kiến là ưu tiên đi trước 5. Nhận thức chơn chánh về cuộc đời 6. 8 nguyên nhân chứng đắc nhờ tu trí tuệ 7. Nghe pháp có 5 lợi ích 8. 10 điều không nên vội tin 9. Phương pháp tu trừ vô minh được tuệ giải thoát 10. Ảnh hưởng của tà kiến và chánh kiến khi không như lý tác ý 11. Nhờ lạc và hỷ mà 4 Thánh đế được chứng ngộ 12. Kinh Chuyển pháp luân (Rất quan trọng) 13. 1 cư sĩ đúng nghĩa 14. Phật thăm bệnh đệ tử và cách giải thoát sau khi chết 15. Lợi ích của thành tựu 4 pháp: Phật, Pháp, Tăng, Giới 16. Cách loại trừ sự phân vân của tâm 17. Cách thoát khỏi tà kiến 18. Mối liên hệ giữa vật chất và tinh thần 19. Những cái thấy biết căn bản để tu tập giải thoát 20. Còn chấp trước là còn có tội 21. Thiên chấp cái gì sẽ là cái đó 22. Cội gốc của đau khổ 23. Lý duyên khởi là cơ sở quan trọng để giải thích các vấn đề 24. Lợi ích khi có niềm tin với chánh pháp 25. Tư duy của người xuất gia đối với thời gian 26. Bát chánh đạo là đường đưa đến chứng ngộ 27. Giá trị của thân người khi còn sống 28. Lí do người giải thoát không trở lại cõi người 29. Lí do không bị đọa lạc 30. Phương pháp nhận biết kiếp trước của người khác 31. Phật Gotama khẳng định tầm quan trọng của Bát chánh đạo 32. Lí do sanh tử vì không giác ngộ giới, định, tuệ 33. Lời giảng dạy cốt lõi cuối cùng của Phật Gotama 34. Giới bổn nhà Phật là gì 35. Chúng sanh căn nghiệp khác nhau 36. Hãy tự mình là ngọn đèn 37. Tu khổ hạnh sẽ đưa đến nhiều cấu uế 38. Lí do vẫn còn tà kiến 39. 62 loại tà kiến 40. Bình thản trước khen chê 41. Chánh kiến và các khái niệm liên quan 42. Sử dụng chánh kiến để loại trừ tà kiến chấp thủ 43. Các đức tính của 1 vị A la hán khi còn sống 44. Chánh kiến là gì 45. Vấn đề ngũ uẩn và chấp thủ 46. Nhận thức về vấn đề giai cấp 47. Cách nhận biết đã giải thoát hay chưa 48. Cách nhận thức con đường tu hành 49. Tứ niệm xứ giải trừ các biện luận tà kiến 50. Làm gì để có Chánh kiến 51. Các khái niệm cực kỳ quan trọng 52. Bát chánh đạo là pháp môn duy nhất để giải thoát 53. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng 54. Nếu không có thầy tốt hãy nương tựa chánh pháp 55. 10 điều thiện và 10 điều bất thiện 56. Nguồn gốc giai cấp của 1 con người là do duyên 57. Có 3 loại ngã chấp 58. Phật Gotama tán thán 3 pháp uẩn 59. Các loại ác pháp 60. Bát chánh đạo là con đường diệt trừ ác pháp 61. Tâm giải thoát bất động là mục đích của phạm hạnh 62. Cái nhìn như thật về tâm 63. Lí do có trí tuệ hay không 64. Nhân quả của 4 loại nghiệp 65. Con đường tu tập cơ bản nhất của Phật giáo 66. An trú từ tâm và tại tâm 67. Ác kiến cần tránh 68. Những điều tuyệt vời về phật Gotama 69. Phân biệt chánh đạo và tà đạo 70. Suốt cuộc đời Phật nói gì? 71. Cái nhìn như thị là gì ?
Chánh Kiến

Cách loại trừ sự phân vân của tâm

III.(v)

42) — Về vấn đề này, bạch Thế Tôn, con có phân vân, con có nghi ngờ. Giữa những Tôn giả Sa-môn, Bà-la-môn này ; ai là người nói sự thật, ai là người nói láo?

— Thôi vừa rồi, này Thôn trưởng, là sự phân vân của Ông. Thôi vừa rồi, là sự nghi ngờ của Ông. Chính do ở điểm phân vân mà nghi ngờ khởi lên.

— Bạch Thế Tôn, nhưng con có lòng tín thành như vậy đối với Thế Tôn. Thế Tôn có thể thuyết pháp cho con để sự phân vân này có thể đoạn diệt.

IV

43)– Này Thôn trưởng, có pháp Thiền định (Dhammasamàdhi). Ở đây, nếu Ông chứng được tâm định (cittasamàdhi), thời Ông có thể đoạn diệt sự phân vân này của Ông. Và này Thôn trưởng, thế nào là pháp Thiền định?

IV.(i)

44) Ở đây, này Thôn trưởng, vị Thánh đệ tử sau khi đoạn tận sát sanh, sống từ bỏ sát sanh. Sau khi đoạn tận lấy của không cho, vị ấy sống từ bỏ lấy của không cho. Sau khi đoạn tận tà hạnh trong các dục, vị ấy sống từ bỏ tà hạnh trong các dục. Sau khi đoạn tận nói láo, vị ấy sống từ bỏ nói láo. Sau khi đoạn tận nói hai lưỡi, vị ấy sống từ bỏ nói hai lưỡi. Sau khi đoạn tận nói lời độc ác, vị ấy sống từ bỏ nói lời độc ác. Sau khi đoạn tận nói lời phù phiếm, vị ấy sống từ bỏ nói lời phù phiếm. Sau khi đoạn tận tham dục, vị ấy sống từ bỏ lòng tham. Sau khi đoạn tận lòng sân, vị ấy sống từ bỏ lòng sân. Sau khi từ bỏ tà kiến, vị ấy sống theo chánh kiến.

Vị Thánh đệ tử ấy, này Thôn trưởng, với lòng tham từ bỏ như vậy, với lòng sân từ bỏ như vậy, không có lòng si, tỉnh giác, chánh niệm, sống biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, phương từ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư; như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy suy tư như sau: “Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: ‘Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có cha, không có mẹ, không có loại hóa sanh. Ở đời không có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ đời này, đời khác, và truyền dạy lại”. Nếu vị Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự thật, ta cũng không có tội lỗi gì. Vì ta không có hại một ai, kẻ yếu hay kẻ mạnh, ở đây cả hai phương diện, ta là kẻ gieo quẻ gặp may. Thân ta được hộ trì, lời nói được hộ trì, ý được hộ trì. Và sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này”. Với vị ấy, hân hoan sanh khởi; do hân hoan, hỷ sanh khởi; do hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ được cảm giác; với người cảm giác lạc thọ, tâm được định tĩnh. Này Thôn trưởng, đây là pháp Thiền định. Ở đây, nếu Ông được tâm định như vậy, sự phân vân của Ông được đoạn diệt.

IV.(ii)

45) Vị Thánh đệ tử ấy, này Thôn trưởng, với lòng tham được từ bỏ như vậy, với lòng sân được từ bỏ như vậy, không có lòng si, sống tỉnh giác, chánh niệm, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, phương thứ hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư; như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Vị ấy suy tư như sau: “Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: ‘Có bố thí, có lễ hy sinh, có tế tự, có quả dị thục các nghiệp thiện ác, có đời này, có đời sau, có cha, có mẹ, có các loại hóa sanh. Ở đời, có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ đời này, đời khác và truyền dạy lại”. Nếu vị Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự thật, ta cũng không có tội lỗi gì, vì ta không hại một ai, kẻ yếu hay kẻ mạnh. Ở đây, cả hai phương diện, ta là kẻ gieo quẻ gặp may. Thân ta được hộ trì. Lời nói ta được hộ trì. Ý ta được hộ trì. Và sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sanh thiện thú, Thiên giới, cõi đời này”. Với vị ấy hân hoan sanh khởi… (như trên, số 44)… như vậy, sự phân vân của Ông được đoạn diệt.

IV.(iii)

46) Vị Thánh đệ tử, này Thôn trưởng, với lòng tham được từ bỏ như vậy… biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ… không hận, không sân. Vị ấy suy tư như sau: “Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: ‘Tự làm hay khiến người làm… (như trên, số 40)… hành động như vậy không có tội ác gì’. Nếu vị Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự thật, ta cũng không có tội lỗi gì..”. (như trên, số 44)… như vậy, sự phân vân của Ông được đoạn diệt.

IV.(iv)

47) Vị Thánh đệ tử, này Thôn trưởng, với lòng tham được từ bỏ như vậy… biến mãn một phương tâm câu hữu với từ… không hận, không sân. Vị ấy suy tư như sau: “Vị Ðạo sư nói như sau, thấy như sau: ‘Tự làm hay khiến người khác làm… (như trên, số 41)… do duyên ấy, có tội ác, có đi đến tội ác… do nhân duyên ấy, có công đức, có đi đến công đức”. Nếu Tôn giả Ðạo sư này nói đúng sự thật, ta cũng không có tội lỗi gì..”. (như trên, số 44)… như vậy, sự phân vân của Ông được đoạn diệt.

V

V.(i)

48) Vị Thánh đệ tử, này Thôn trưởng… (hoàn toàn giống như đoạn (i) số 44, chỉ khác, trước là tâm câu hữu với từ, nay là tâm câu hữu với bi. .. tâm câu hữu với hỷ. .. tâm câu hữu với xả).

V.(ii)

49)… (giống như đoạn (ii) số 45, chỉ khác, đây với tâm câu hữu với bi. .. tâm câu hữu với hỷ… tâm câu hữu với xả).

V.(iii)

50)… (giống như đoạn (iii) số 46, chỉ khác, đây với tâm câu hữu với bi… tâm câu hữu với hỷ… tâm câu hữu với xả).

V.(iv)

51)… (giống như đoạn (iv) số 47, chỉ khác, ở đây với tâm câu hữu với bi… tâm câu hữu với hỷ… tâm câu hữu với xả).

52) Khi được nói vậy, thôn trưởng Pàtaliya bạch Thế Tôn:

— Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn, thật là vi diệu, bạch Thế Tôn!… Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

Xem chi tiết:

https://buocdauhocphat.com/kinh-tuong-ung-tap-iv-thien-sau-xu-chuong-viii-tuong-ung-thon-truong

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc