BJT 274Vào một thời điểm khác nữa, khi ta ở tại kinh thành của xứ Kāsi, (ta có) một người em gái và bảy người em trai được sanh ra trong gia đình quý phái (dòng Bà-la-môn).
BJT 275Trong số những người này, ta đã được sanh ra trước tiên, đạt được pháp trong sạch là sự khiêm tốn. Sau khi nhận thấy sự hiện hữu là nguy hại, ta đã thỏa thích trong việc xuất gia.
BJT 276Các thân hữu, được mẹ và cha nhắn đến, đồng tâm mời mọc (ta) bằng các dục lạc: “Bạn hãy duy trì dòng dõi gia tộc.”
BJT 277Lời nào của những người ấy được nói ra về việc đem lại lạc thú trong cuộc sống gia đình, điều ấy đối với ta được xem tương tợ như lưỡi cày đã được nung đỏ, thô thiển.
BJT 278Khi ấy, họ đã hỏi ta, kẻ từ khước (cuộc sống gia đình), về nguyện vọng của ta: “Này bạn, nếu bạn không hưởng thục các dục thì bạn mong muốn điều gì?”
BJT 279Là người mong muốn điều tốt đẹp, ta đã nói với họ, những người đang tầm cầu lợi ích (cho ta) rằng: “Tôi không mong muốn trạng thái người tại gia, tôi thỏa thích trong sự xuất ly.”
BJT 280Sau khi lắng nghe lời nói của ta, họ đã thuật lại cho cha mẹ (ta). Mẹ cha ta đã nói như vầy: “Này quí vị, tất cả chúng tôi cũng xuất gia.”
BJT 281Cả hai mẹ cha của ta, người em gái, và bảy em trai đã buông bỏ của cải vô số rồi đi vào trong khu rừng lớn.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Bhisa là phần thứ tư.
“Punāparaṁ yadā homi,
kāsīnaṁ puravaruttame;
Bhaginī ca bhātaro satta,
nibbattā sotthiye kule.
Etesaṁ pubbajo āsiṁ,
hirīsukkamupāgato;
Bhavaṁ disvāna bhayato,
nekkhammābhirato ahaṁ.
Mātāpitūhi pahitā,
sahāyā ekamānasā;
Kāmehi maṁ nimantenti,
‘kulavaṁsaṁ dharehi’ti.
Yaṁ tesaṁ vacanaṁ vuttaṁ,
gihīdhamme sukhāvahaṁ;
Taṁ me ahosi kaṭhinaṁ,
tattaphālasamaṁ viya.
Te maṁ tadā ukkhipantaṁ,
pucchiṁsu patthitaṁ mama;
‘Kiṁ tvaṁ patthayase samma,
yadi kāme na bhuñjasi’.
Tesāhaṁ evamavacaṁ,
atthakāmo hitesinaṁ;
‘Nāhaṁ patthemi gihībhāvaṁ,
nekkhammābhirato ahaṁ’.
Te mayhaṁ vacanaṁ sutvā,
pitu mātu ca sāvayuṁ;
Mātāpitā evamāhu,
‘sabbeva pabbajāma bho’.
Ubho mātāpitā mayhaṁ,
bhaginī ca satta bhātaro;
Amitadhanaṁ chaḍḍayitvā,
pāvisimhā mahāvanan”ti.
Bhisacariyaṁ catutthaṁ.
“Then again when I was
in the capital citadel of Kāsi,
a sister and seven brothers
were born in a learned family.
I was the first-born of them all,
furnishing with pure conscience.
Seeing rebirth as fearful,
I longed for renunciation.
Sent for by my mother and father,
my friends with one mind
invited me to enjoy sensual pleasures, saying:
‘Maintain the family lineage.’
The words they said
about the ways a householder can find happiness,
were hard for me to hear,
like a heated ploughshare.
When I turned down their proposal,
they asked me what I wished for:
‘My dear, what is it that you wish,
since you do not long for sensual pleasures?’
I spoke to my beneficiaries,
wanting what is best.
‘I wish not for the householder’s state,
I long for renunciation.’
Hearing my words,
they told my mother and father .
My parents said this:
‘Sirs, let all of us go forth!’
So both my mother and father,
sister and seven brothers,
discarding countless riches,
entered the great forest.”
BJT 274Vào một thời điểm khác nữa, khi ta ở tại kinh thành của xứ Kāsi, (ta có) một người em gái và bảy người em trai được sanh ra trong gia đình quý phái (dòng Bà-la-môn).
BJT 275Trong số những người này, ta đã được sanh ra trước tiên, đạt được pháp trong sạch là sự khiêm tốn. Sau khi nhận thấy sự hiện hữu là nguy hại, ta đã thỏa thích trong việc xuất gia.
BJT 276Các thân hữu, được mẹ và cha nhắn đến, đồng tâm mời mọc (ta) bằng các dục lạc: “Bạn hãy duy trì dòng dõi gia tộc.”
BJT 277Lời nào của những người ấy được nói ra về việc đem lại lạc thú trong cuộc sống gia đình, điều ấy đối với ta được xem tương tợ như lưỡi cày đã được nung đỏ, thô thiển.
BJT 278Khi ấy, họ đã hỏi ta, kẻ từ khước (cuộc sống gia đình), về nguyện vọng của ta: “Này bạn, nếu bạn không hưởng thục các dục thì bạn mong muốn điều gì?”
BJT 279Là người mong muốn điều tốt đẹp, ta đã nói với họ, những người đang tầm cầu lợi ích (cho ta) rằng: “Tôi không mong muốn trạng thái người tại gia, tôi thỏa thích trong sự xuất ly.”
BJT 280Sau khi lắng nghe lời nói của ta, họ đã thuật lại cho cha mẹ (ta). Mẹ cha ta đã nói như vầy: “Này quí vị, tất cả chúng tôi cũng xuất gia.”
BJT 281Cả hai mẹ cha của ta, người em gái, và bảy em trai đã buông bỏ của cải vô số rồi đi vào trong khu rừng lớn.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Bhisa là phần thứ tư.
“Punāparaṁ yadā homi,
kāsīnaṁ puravaruttame;
Bhaginī ca bhātaro satta,
nibbattā sotthiye kule.
Etesaṁ pubbajo āsiṁ,
hirīsukkamupāgato;
Bhavaṁ disvāna bhayato,
nekkhammābhirato ahaṁ.
Mātāpitūhi pahitā,
sahāyā ekamānasā;
Kāmehi maṁ nimantenti,
‘kulavaṁsaṁ dharehi’ti.
Yaṁ tesaṁ vacanaṁ vuttaṁ,
gihīdhamme sukhāvahaṁ;
Taṁ me ahosi kaṭhinaṁ,
tattaphālasamaṁ viya.
Te maṁ tadā ukkhipantaṁ,
pucchiṁsu patthitaṁ mama;
‘Kiṁ tvaṁ patthayase samma,
yadi kāme na bhuñjasi’.
Tesāhaṁ evamavacaṁ,
atthakāmo hitesinaṁ;
‘Nāhaṁ patthemi gihībhāvaṁ,
nekkhammābhirato ahaṁ’.
Te mayhaṁ vacanaṁ sutvā,
pitu mātu ca sāvayuṁ;
Mātāpitā evamāhu,
‘sabbeva pabbajāma bho’.
Ubho mātāpitā mayhaṁ,
bhaginī ca satta bhātaro;
Amitadhanaṁ chaḍḍayitvā,
pāvisimhā mahāvanan”ti.
Bhisacariyaṁ catutthaṁ.