BJT 354Vào một thời điểm khác nữa, khi ta được nổi tiếng (với tên) là Ekarāja. Ta đã phát nguyện về giới hạnh tối cao và đã cai quản trái đất to lớn.
BJT 355Ta đã thực hành về thập thiện nghiệp đạo không thiếu sót. Ta đã thâu phục đám đông dân chúng bằng bốn phép tiếp độ.
BJT 356Trong lúc ta đang tinh tấn như thế vì lợi ích ở đời này và thế giới khác, Dabbasena đã tiến đến chiếm cứ thành phố của ta.
BJT 357Sau khi thực hiện việc thâu tóm tất cả gồm có nhân sự của đức vua, các thị dân, cùng với quân đội, vá các cư dân của xứ sở, (vị ấy) đã chôn ta ở trong cái hố.
BJT 358(Vị ấy) đã chiếm đoạt quần thần, vương quốc thịnh vượng, và hậu cung của ta. Ta đã nhìn thấy chính đứa con trai yêu dấu đang bị bắt đi. Không có ai bằng (ta) về từ ái, điều này là sự toàn hảo về từ ái của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Ekarāja là phần thứ mười bốn.
Dứt sự toàn hảo về từ ái.
“Punāparaṁ yadā homi,
ekarājāti vissuto;
Paramaṁ sīlaṁ adhiṭṭhāya,
pasāsāmi mahāmahiṁ.
Dasa kusalakammapathe,
vattāmi anavasesato;
Catūhi saṅgahavatthūhi,
saṅgaṇhāmi mahājanaṁ.
Evaṁ me appamattassa,
idha loke parattha ca;
Dabbaseno upagantvā,
acchindanto puraṁ mama.
Rājūpajīve nigame,
sabalaṭṭhe saraṭṭhake;
Sabbaṁ hatthagataṁ katvā,
kāsuyā nikhaṇī mamaṁ.
Amaccamaṇḍalaṁ rajjaṁ,
phītaṁ antepuraṁ mama;
Acchinditvāna gahitaṁ,
piyaṁ puttaṁva passahaṁ;
Mettāya me samo natthi,
esā me mettāpāramī”ti.
Ekarājacariyaṁ cuddasamaṁ.
“Then again when I was
the renowned One King,
resolved on highest ethics,
I ruled the great earth.
Without exception I followed
the ten ways of skillful deeds.
With the four ways of being inclusive,
I brought together the population.
As I was being diligent,
for the sake of this world and the next,
Dabbasena attacked
and sacked my city.
The royal dependents in the city,
with the military and the citizens—
he captured them all,
and buried me in a pit.
The court ministers, the flourishing kingdom,
and my royal court—
were captured and held,
I even saw my beloved son.
There is no-one to equal my love:
this is my perfection of love.”
BJT 354Vào một thời điểm khác nữa, khi ta được nổi tiếng (với tên) là Ekarāja. Ta đã phát nguyện về giới hạnh tối cao và đã cai quản trái đất to lớn.
BJT 355Ta đã thực hành về thập thiện nghiệp đạo không thiếu sót. Ta đã thâu phục đám đông dân chúng bằng bốn phép tiếp độ.
BJT 356Trong lúc ta đang tinh tấn như thế vì lợi ích ở đời này và thế giới khác, Dabbasena đã tiến đến chiếm cứ thành phố của ta.
BJT 357Sau khi thực hiện việc thâu tóm tất cả gồm có nhân sự của đức vua, các thị dân, cùng với quân đội, vá các cư dân của xứ sở, (vị ấy) đã chôn ta ở trong cái hố.
BJT 358(Vị ấy) đã chiếm đoạt quần thần, vương quốc thịnh vượng, và hậu cung của ta. Ta đã nhìn thấy chính đứa con trai yêu dấu đang bị bắt đi. Không có ai bằng (ta) về từ ái, điều này là sự toàn hảo về từ ái của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Ekarāja là phần thứ mười bốn.
Dứt sự toàn hảo về từ ái.
“Punāparaṁ yadā homi,
ekarājāti vissuto;
Paramaṁ sīlaṁ adhiṭṭhāya,
pasāsāmi mahāmahiṁ.
Dasa kusalakammapathe,
vattāmi anavasesato;
Catūhi saṅgahavatthūhi,
saṅgaṇhāmi mahājanaṁ.
Evaṁ me appamattassa,
idha loke parattha ca;
Dabbaseno upagantvā,
acchindanto puraṁ mama.
Rājūpajīve nigame,
sabalaṭṭhe saraṭṭhake;
Sabbaṁ hatthagataṁ katvā,
kāsuyā nikhaṇī mamaṁ.
Amaccamaṇḍalaṁ rajjaṁ,
phītaṁ antepuraṁ mama;
Acchinditvāna gahitaṁ,
piyaṁ puttaṁva passahaṁ;
Mettāya me samo natthi,
esā me mettāpāramī”ti.
Ekarājacariyaṁ cuddasamaṁ.