BJT 51Ở tại thành phố có tên gọi là Ariṭṭha, ta đã là vị Sát-đế-lỵ tên Sivi. Vào lúc ngồi ở tòa lâu đài quý báu, ta đã suy nghĩ như vầy:
BJT 52“Không có bất cứ vật thí nào thuộc về nhân loại mà ta chưa từng bố thí. Thậm chí người nào yêu cầu ta về con mắt thì ta cũng có thể bố thí, không bị dao động.”
BJT 53Biết được tâm tư của ta, vị Chúa Trời Sakka ngồi ở giữa tập thể chư thiên đã nói lên lời này:
BJT 54“Đức vua Sivi có đại oai lực trong khi ngồi ở tòa lâu đài quý báu suy nghĩ về vật bố thí đủ các loại, vị ấy không nhìn thấy vật chưa từng được bố thí.
BJT 55Điều này là đúng hay không đúng sự thật? Vậy hãy để ta thử thách vị ấy. Các người hãy chờ một chốc lát đến khi ta biết được tâm ý ấy.”
BJT 56Sau khi biến thành dáng vóc người mù lòa, đang run rẩy, có đầu tóc bạc phơ, cơ thể nhăn nheo, già yếu, bệnh hoạn, (Chúa Trời Sakka) đã đi đến gặp đức vua.
BJT 57Khi ấy, ông ta đã giơ cánh tay trái và cánh tay phải lên chắp lại ở đầu, rồi đã nói lời này:
BJT 58“Tâu đại vương, tôi cầu xin ngài. Ôi vị làm tiến triển vương quốc về phương diện đạo đức, danh tiếng của ngài về sự hoan hỉ trong bố thí đã vang khắp chốn nhân thiên.
BJT 59Cả hai con mắt dẫn đường của tôi bị mù lòa, hư hỏng. Hãy bố thí cho tôi một con mắt, ngài cũng hãy còn sống với một con mắt vậy.”
BJT 60Nghe được lời nói của người ấy, ta đã mừng rỡ, có tâm trí phấn chấn. Tràn ngập niềm phấn khởi, ta đã chắp tay lại rồi đã nói lời này:
BJT 61“Lúc này đây, sau khi suy nghĩ trẫm đã rời tòa lâu đài đi đến nơi đây. Còn ngươi, sau khi biết được tâm của trẫm đã đi đến để cầu xin con mắt.
BJT 62Ôi, ý định của ta đã được thành tựu, điều ước mong đã được vẹn toàn! Hôm nay, ta sẽ ban cho người hành khất tặng vật cao quý chưa từng được bố thí trước đây.
BJT 63Này Sīvaka, hãy lại gần. Hãy mạnh dạn lên, đừng chần chờ, chớ có run rẩy. Hãy móc ra cả hai con mắt và trao cho người cầu thỉnh.”
BJT 64Sau đó, bị ta thúc giục vị Sīvaka ấy là người thi hành mệnh lệnh đã lấy ra (hai con mắt) giống như nạo cơm dừa, rồi đã trao cho cho người hành khất.
BJT 65Trong khi chuẩn bị bố thí, khi đang bố thí, khi tặng vật đã được ta bố thí, tâm không có thay đổi với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
BJT 66Hai con mắt không có bị ta ghét bỏ, bản thân không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã bố thí con mắt.
Hạnh của Đức Vua Sivi là phần thứ tám.
“Ariṭṭhasavhaye nagare,
sivināmāsi khattiyo;
Nisajja pāsādavare,
evaṁ cintesahaṁ tadā.
‘Yaṁ kiñci mānusaṁ dānaṁ,
adinnaṁ me na vijjati;
Yopi yāceyya maṁ cakkhuṁ,
dadeyyaṁ avikampito’.
Mama saṅkappamaññāya,
sakko devānamissaro;
Nisinno devaparisāya,
idaṁ vacanamabravi.
‘Nisajja pāsādavare,
sivirājā mahiddhiko;
Cintento vividhaṁ dānaṁ,
adeyyaṁ so na passati.
Tathaṁ nu vitathaṁ netaṁ,
handa vīmaṁsayāmi taṁ;
Muhuttaṁ āgameyyātha,
yāva jānāmi taṁ manaṁ’.
Pavedhamāno palitasiro,
Valigatto jarāturo;
Andhavaṇṇova hutvāna,
Rājānaṁ upasaṅkami.
So tadā paggahetvāna,
vāmaṁ dakkhiṇabāhu ca;
Sirasmiṁ añjaliṁ katvā,
idaṁ vacanamabravi.
‘Yācāmi taṁ mahārāja,
dhammika raṭṭhavaḍḍhana;
Tava dānaratā kitti,
uggatā devamānuse.
Ubhopi nettā nayanā,
andhā upahatā mama;
Ekaṁ me nayanaṁ dehi,
tvampi ekena yāpaya’.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
haṭṭho saṁviggamānaso;
Katañjalī vedajāto,
idaṁ vacanamabraviṁ.
‘Idānāhaṁ cintayitvāna,
pāsādato idhāgato;
Tvaṁ mama cittamaññāya,
nettaṁ yācitumāgato.
Aho me mānasaṁ siddhaṁ,
saṅkappo paripūrito;
Adinnapubbaṁ dānavaraṁ,
ajja dassāmi yācake.
Ehi sivaka uṭṭhehi,
mā dandhayi mā pavedhayi;
Ubhopi nayanaṁ dehi,
uppāṭetvā vaṇibbake’.
Tato so codito mayhaṁ,
sivako vacanaṁ karo;
Uddharitvāna pādāsi,
tālamiñjaṁva yācake.
Dadamānassa dentassa,
dinnadānassa me sato;
Cittassa aññathā natthi,
bodhiyāyeva kāraṇā.
Na me dessā ubho cakkhū,
attā na me na dessiyo;
Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ,
tasmā cakkhuṁ adāsahan”ti.
Sivirājacariyaṁ aṭṭhamaṁ.
“In the city called Ariṭṭha
I was the aristocrat named Sivi.
Seated in my finest longhouse,
I then had the following thought:
‘Whatever human gifts there are,
none may be found that I have not given.
Even if someone were to ask for my eye,
I would give it without wavering.’
Knowing my thoughts,
Sakka the lord of gods,
sitting in the assembly of gods
said the following.
‘Seated in his finest longhouse,
the mighty King Sivi
is thinking of manifold gifts
and cannot see any he would not give.
Is this is true or not?
Come, let us test him.
Wait a while
until I know his mind.’
Appearing as a frail old man,
with grey hair and wrinkled skin,
feeble and blind,
he approached the king.
Then, stretching out
his left and right arms,
he raised his joined palms to his head
and said the following.
‘Great king, I have a request for you.
Under your just rule the kingdom has flourished,
and the renown of your love of giving
has risen among gods and humans.
Both my eyes, by which I find my way,
are ruined and become blind.
Give me just one eye,
while you too get by with one.’
After hearing his words
I was thrilled, my mind elated,
so with joined palms, inspired,
I said the following.
‘Just now I was reflecting on this
when I came here from the longhouse.
Understanding my mind,
you have come to ask for an eye.
Oh! My wish has come true!
My intention is fulfilled!
Today I shall give to a supplicant
a fine gift never before given.’
‘Come Sivaka, stand up,
do not hesitate or waver.
Pluck out even both eyes
and give them to the supplicant.’
And then, urged on by me,
Sivaka did as I said.
Extracting both eyes,
he presented them to the trembling supplicant.
‘While planning to give, while giving,
and after I had given,
my mind did not falter,
because it was solely for awakening.
It was not because I disliked my eyes,
or that I disliked myself,
but because omniscience is precious to me,
that is why I gave away my eyes.’”
BJT 51Ở tại thành phố có tên gọi là Ariṭṭha, ta đã là vị Sát-đế-lỵ tên Sivi. Vào lúc ngồi ở tòa lâu đài quý báu, ta đã suy nghĩ như vầy:
BJT 52“Không có bất cứ vật thí nào thuộc về nhân loại mà ta chưa từng bố thí. Thậm chí người nào yêu cầu ta về con mắt thì ta cũng có thể bố thí, không bị dao động.”
BJT 53Biết được tâm tư của ta, vị Chúa Trời Sakka ngồi ở giữa tập thể chư thiên đã nói lên lời này:
BJT 54“Đức vua Sivi có đại oai lực trong khi ngồi ở tòa lâu đài quý báu suy nghĩ về vật bố thí đủ các loại, vị ấy không nhìn thấy vật chưa từng được bố thí.
BJT 55Điều này là đúng hay không đúng sự thật? Vậy hãy để ta thử thách vị ấy. Các người hãy chờ một chốc lát đến khi ta biết được tâm ý ấy.”
BJT 56Sau khi biến thành dáng vóc người mù lòa, đang run rẩy, có đầu tóc bạc phơ, cơ thể nhăn nheo, già yếu, bệnh hoạn, (Chúa Trời Sakka) đã đi đến gặp đức vua.
BJT 57Khi ấy, ông ta đã giơ cánh tay trái và cánh tay phải lên chắp lại ở đầu, rồi đã nói lời này:
BJT 58“Tâu đại vương, tôi cầu xin ngài. Ôi vị làm tiến triển vương quốc về phương diện đạo đức, danh tiếng của ngài về sự hoan hỉ trong bố thí đã vang khắp chốn nhân thiên.
BJT 59Cả hai con mắt dẫn đường của tôi bị mù lòa, hư hỏng. Hãy bố thí cho tôi một con mắt, ngài cũng hãy còn sống với một con mắt vậy.”
BJT 60Nghe được lời nói của người ấy, ta đã mừng rỡ, có tâm trí phấn chấn. Tràn ngập niềm phấn khởi, ta đã chắp tay lại rồi đã nói lời này:
BJT 61“Lúc này đây, sau khi suy nghĩ trẫm đã rời tòa lâu đài đi đến nơi đây. Còn ngươi, sau khi biết được tâm của trẫm đã đi đến để cầu xin con mắt.
BJT 62Ôi, ý định của ta đã được thành tựu, điều ước mong đã được vẹn toàn! Hôm nay, ta sẽ ban cho người hành khất tặng vật cao quý chưa từng được bố thí trước đây.
BJT 63Này Sīvaka, hãy lại gần. Hãy mạnh dạn lên, đừng chần chờ, chớ có run rẩy. Hãy móc ra cả hai con mắt và trao cho người cầu thỉnh.”
BJT 64Sau đó, bị ta thúc giục vị Sīvaka ấy là người thi hành mệnh lệnh đã lấy ra (hai con mắt) giống như nạo cơm dừa, rồi đã trao cho cho người hành khất.
BJT 65Trong khi chuẩn bị bố thí, khi đang bố thí, khi tặng vật đã được ta bố thí, tâm không có thay đổi với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
BJT 66Hai con mắt không có bị ta ghét bỏ, bản thân không có bị ta ghét bỏ, đối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta đã bố thí con mắt.
Hạnh của Đức Vua Sivi là phần thứ tám.
“Ariṭṭhasavhaye nagare,
sivināmāsi khattiyo;
Nisajja pāsādavare,
evaṁ cintesahaṁ tadā.
‘Yaṁ kiñci mānusaṁ dānaṁ,
adinnaṁ me na vijjati;
Yopi yāceyya maṁ cakkhuṁ,
dadeyyaṁ avikampito’.
Mama saṅkappamaññāya,
sakko devānamissaro;
Nisinno devaparisāya,
idaṁ vacanamabravi.
‘Nisajja pāsādavare,
sivirājā mahiddhiko;
Cintento vividhaṁ dānaṁ,
adeyyaṁ so na passati.
Tathaṁ nu vitathaṁ netaṁ,
handa vīmaṁsayāmi taṁ;
Muhuttaṁ āgameyyātha,
yāva jānāmi taṁ manaṁ’.
Pavedhamāno palitasiro,
Valigatto jarāturo;
Andhavaṇṇova hutvāna,
Rājānaṁ upasaṅkami.
So tadā paggahetvāna,
vāmaṁ dakkhiṇabāhu ca;
Sirasmiṁ añjaliṁ katvā,
idaṁ vacanamabravi.
‘Yācāmi taṁ mahārāja,
dhammika raṭṭhavaḍḍhana;
Tava dānaratā kitti,
uggatā devamānuse.
Ubhopi nettā nayanā,
andhā upahatā mama;
Ekaṁ me nayanaṁ dehi,
tvampi ekena yāpaya’.
Tassāhaṁ vacanaṁ sutvā,
haṭṭho saṁviggamānaso;
Katañjalī vedajāto,
idaṁ vacanamabraviṁ.
‘Idānāhaṁ cintayitvāna,
pāsādato idhāgato;
Tvaṁ mama cittamaññāya,
nettaṁ yācitumāgato.
Aho me mānasaṁ siddhaṁ,
saṅkappo paripūrito;
Adinnapubbaṁ dānavaraṁ,
ajja dassāmi yācake.
Ehi sivaka uṭṭhehi,
mā dandhayi mā pavedhayi;
Ubhopi nayanaṁ dehi,
uppāṭetvā vaṇibbake’.
Tato so codito mayhaṁ,
sivako vacanaṁ karo;
Uddharitvāna pādāsi,
tālamiñjaṁva yācake.
Dadamānassa dentassa,
dinnadānassa me sato;
Cittassa aññathā natthi,
bodhiyāyeva kāraṇā.
Na me dessā ubho cakkhū,
attā na me na dessiyo;
Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ,
tasmā cakkhuṁ adāsahan”ti.
Sivirājacariyaṁ aṭṭhamaṁ.