Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, đại vương có biết bây giờ là giờ nào không?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Trẫm biết. Lúc này canh một đã qua. Đang là canh giữa. Các ngọn đuốc được thắp sáng. Bốn ngọn cờ đã được truyền lệnh (kéo lên). Các vật dụng của hoàng gia từ nhà kho sẽ đến.”
Những người Yonaka đã nói như vầy: “Tâu đại vương, đại vương thì khôn ngoan, còn vị tỳ khưu là sáng trí.”
“Này các khanh, đúng vậy. Vị trưởng lão là bậc sáng trí. Người như vầy có thể là thầy dạy học, và người học trò như trẫm không bao lâu nữa có thể trở thành bậc sáng trí, có thể hiểu được Giáo Pháp.”
Được hoan hỷ với lời giải thích các câu hỏi của vị ấy, đức vua đã choàng lên vị trưởng lão Nāgasena tấm mền len trị giá một trăm ngàn rồi nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, kể từ hôm nay, trẫm sẽ cho chuẩn bị một trăm lẻ tám phần ăn dâng ngài. Và bất cứ vật gì đúng phép có ở nội thành, trẫm thỉnh cầu ngài về vật ấy.”
“Tâu đại vương, tôi vừa đủ sống.”
“Thưa ngài Nāgasena, trẫm biết ngài (vừa đủ) sống. Tuy nhiên, xin ngài hãy bảo vệ bản thân và xin ngài hãy bảo vệ trẫm. Ngài hãy bảo vệ bản thân nghĩa là thế nào? Lời phát biểu của những người khác có thể xảy đến là: ‘Nāgasena đã tạo niềm tin cho đức vua Milinda, nhưng đã không nhận được vật gì;’ ngài hãy bảo vệ bản thân nghĩa là như vậy. Ngài hãy bảo vệ trẫm nghĩa là thế nào? Lời phát biểu của những người khác có thể xảy đến là: ‘Đức vua Milinda đã được tịnh tín mà không bày tỏ biểu hiện đã được tịnh tín;’ ngài hãy bảo vệ trẫm nghĩa là như vậy.”
“Tâu đại vương, hãy là như vậy.”
“Thưa ngài, cũng giống như con sư tử, chúa của loài thú, bị ném vào trong cái chuồng bằng vàng, nhưng khuôn mặt chỉ hướng ra ngoài, thưa ngài, tương tợ y như thế trẫm dầu sống ở gian nhà nào đó, tuy vẫn tồn tại nhưng khuôn mặt chỉ hướng ra ngoài. Thưa ngài, nếu trẫm có thể rời nhà xuất gia sống không nhà, trẫm không thể sống thọ vì trẫm có nhiều kẻ thù.”
Khi ấy, đại đức Nāgasena, sau khi trả lời câu hỏi của đức vua Milinda, đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi về tu viện của hội chúng. Và khi đại đức Nāgasena ra đi không bao lâu, đức vua Milinda đã khởi ý điều này: “Điều gì đã được ta hỏi, điều gì đã được ngài đại đức trả lời?” Khi ấy đức vua Milinda đã khởi ý điều này: “Tất cả đã được ta hỏi đúng đắn, tất cả đã được ngài đại đức trả lời đúng đắn.” Khi đi về lại tu viện của hội chúng, đại đức Nāgasena cũng đã khởi ý điều này: “Điều gì đã được đức vua Milinda hỏi, điều gì đã được ta trả lời?” Khi ấy đại đức Nāgasena đã khởi ý điều này: “Tất cả đã được đức vua Milinda hỏi đúng đắn, tất cả đã được ta trả lời đúng đắn.”
Sau đó, khi trải qua đêm ấy, đại đức Nāgasena vào buổi sáng đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến chỗ ngụ của đức vua Milinda, sau khi đến đã ngồi xuống chỗ ngồi đã được sắp đặt sẵn. Khi ấy, đức vua Milinda đã đảnh lễ đại đức Nāgasena rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Mong rằng ngài đại đức chớ khởi ý như vầy: ‘Chính vì ‘Nāgasena đã được ta hỏi câu hỏi’ rồi do tâm hoan hỷ đã không ngủ trọn đêm qua.’ Xin ngài đừng nhận thấy như vậy. Thưa ngài, trọn đêm qua trẫm đây đã khởi ý điều này: ‘Điều gì đã được ta hỏi, điều gì đã được ngài đại đức trả lời?’ Tất cả đã được ta hỏi đúng đắn, tất cả đã được ngài đại đức trả lời đúng đắn.”
Vị trưởng lão cũng đã nói như vầy: “Mong rằng đại vương chớ khởi ý như vầy: ‘Chính vì đức vua Milinda đã được ta trả lời câu hỏi, rồi do tâm hoan hỷ đã thức trọn đêm qua.’ Xin đại vương đừng nhận thấy như vậy. Tâu đại vương, trọn đêm qua tôi đây đã khởi ý điều này: ‘Điều gì đã được đức vua Milinda hỏi, điều gì đã được ta trả lời?’ Tất cả đã được đức vua Milinda hỏi đúng đắn, tất cả đã được ta trả lời đúng đắn.” Như thế, hai bậc khổng long ấy đã cùng tùy hỷ về việc đã khéo ăn nói với nhau.
Việc hỏi và trả lời
các câu hỏi của Milinda được đầy đủ.
Thero āha—
“jānāsi kho, mahārāja, sampati kā velā”ti?
“Āma, bhante, jānāmi ‘sampati paṭhamo yāmo atikkanto, majjhimo yāmo pavattati, ukkā padīpīyanti, cattāri paṭākāni āṇattāni gamissanti bhaṇḍato rājadeyyānī’”ti.
Yonakā evamāhaṁsu “kallosi, mahārāja, paṇḍito thero”ti.
“Āma, bhaṇe, paṇḍito thero, ediso ācariyo bhaveyya mādiso ca antevāsī, nacirasseva paṇḍito dhammaṁ ājāneyyā”ti.
Tassa pañhaveyyākaraṇena tuṭṭho rājā theraṁ nāgasenaṁ satasahassagghanakena kambalena acchādetvā “bhante nāgasena, ajjatagge te aṭṭhasataṁ bhattaṁ paññapemi, yaṁ kiñci antepure kappiyaṁ, tena ca pavāremī”ti—āha.
“Alaṁ, mahārāja jīvāmī”ti.
“Jānāmi, bhante nāgasena, jīvasi, api ca attānañca rakkha, mamañca rakkhāhī”ti.
“Kathaṁ attānaṁ rakkhasi, ‘nāgaseno milindaṁ rājānaṁ pasādeti, na ca kiñci alabhī’ti parāpavādo āgaccheyyāti, evaṁ attānaṁ rakkha.
Kathaṁ mamaṁ rakkhasi, ‘milindo rājā pasanno pasannākāraṁ na karotī’ti parāpavādo āgaccheyyāti, evaṁ mamaṁ rakkhāhī”ti.
“Tathā hotu, mahārājā”ti.
“Seyyathāpi, bhante, sīho migarājā suvaṇṇapañjare pakkhittopi bahimukhoyeva hoti;
evameva kho ahaṁ, bhante, kiñcāpi agāraṁ ajjhāvasāmi bahimukho yeva pana acchāmi.
Sace ahaṁ, bhante, agārasmā anāgāriyaṁ pabbajeyyaṁ, na ciraṁ jīveyyaṁ, bahū me paccatthikā”ti.
Atha kho āyasmā nāgaseno milindassa rañño pañhaṁ visajjetvā uṭṭhāyāsanā saṅghārāmaṁ agamāsi.
Acirapakkante ca āyasmante nāgasene milindassa rañño etadahosi—
“kiṁ mayā pucchitaṁ, kiṁ bhadantena nāgasenena visajjitan”ti?
Atha kho milindassa rañño etadahosi—
“sabbaṁ mayā supucchitaṁ, sabbaṁ bhadantena nāgasenena suvisajjitan”ti.
Āyasmatopi nāgasenassa saṅghārāmagatassa etadahosi—
“kiṁ milindena raññā pucchitaṁ, kiṁ mayā visajjitan”ti.
Atha kho āyasmato nāgasenassa etadahosi—
“sabbaṁ milindena raññā supucchitaṁ, sabbaṁ mayā suvisajjitan”ti.
Atha kho āyasmā nāgaseno tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena milindassa rañño nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi, ekamantaṁ nisinno kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“Mā kho bhadantassa evaṁ ahosi ‘nāgaseno mayā pañhaṁ pucchito’ti teneva somanassena taṁ rattāvasesaṁ vītināmesīti na te evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Tassa mayhaṁ, bhante, taṁ rattāvasesaṁ etadahosi—
‘kiṁ mayā pucchitaṁ, kiṁ bhadantena visajjitan’ti, ‘sabbaṁ mayā supucchitaṁ, sabbaṁ bhadantena suvisajjitan’”ti.
Theropi evamāha—
“mā kho mahārājassa evaṁ ahosi ‘milindassa rañño mayā pañho visajjito’ti teneva somanassena taṁ rattāvasesaṁ vītināmesīti na te evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Tassa mayhaṁ, mahārāja, taṁ rattāvasesaṁ etadahosi—
‘kiṁ milindena raññā pucchitaṁ, kiṁ mayā visajjitan’ti, ‘sabbaṁ milindena raññā supucchitaṁ, sabbaṁ mayā suvisajjitan’”ti itiha te mahānāgā aññamaññassa subhāsitaṁ samanumodiṁsūti.
Milindapañhapucchāvisajjanā niṭṭhitā.
PTS cs 17 The Elder said: ‘Do you know, O king, what time it is now?’
‘Yes, Sir, I know. The first watch of the night is now passed. The middle watch is now going on. The torches are lit. The four banners are ordered to be raised, and appropriate gifts to be issued to you from the treasury.’
The Yonakas said: ‘Very good, great king. Most able is the Bhikkhu.’
‘Yes, my men. Most able is the Bhikkhu. Were the master like him and the pupil like me, PTS vp Pali 88 a clever scholar would not take long in getting at the truth.’
Then the king, pleased with the explanations given of the questions he had put, had Nāgasena robed in an embroidered cloak worth a hundred thousand, and said to him: ‘Venerable Nāgasena, I hereby order that you shall be provided with your daily meal for eight hundred days; and give you the PTS vp En 135 choice of anything in the palace that it is lawful for you to take.’ And when the Elder refused, saying he had enough to live on, the king rejoined: ‘I know, Sir, you have enough to live on. But you should both protect me and protect yourself—yourself from the possibility of a public rumour to the effect that you convinced me but received nothing from me, and me from the possibility of a public rumour that though I was convinced I would give nothing in acknowledgement.’
‘Let it be as you wish, great king,’ was the reply.
Then the king said: ‘As the lion, the king of beasts, when put into a cage, though it were of gold, would turn his face longingly to the outside; even so do I, though I dwell in the world, turn my thoughts longingly to the higher life of you recluses. But, Sir, if I were to give up the household life and renounce the world it would not be long I should have to live, so many are my foes.’
Then the venerable Nāgasena, having thus solved the questions put by Milinda the king, arose from his seat and departed to the hermitage.
PTS cs 18 Not long after Nāgasena had gone, Milinda the king thought over to himself whether he had propounded his questions rightly, and whether the replies had been properly made. And he came to the conclusion that to questions well put replies had been well given. And Nāgasena likewise, when he reached the hermitage, thought the matter over to himself, and concluded that to questions well put right replies had been given.
Now Nāgasena robed himself early in the morning, and went with his bowl in his hand to the palace, PTS vp En 136 and sat down on the seat prepared for him. And Milinda saluted the venerable Nāgasena, PTS vp Pali 89 and sat down respectfully at his side, and said to him: ‘Pray do not think, Sir, that I was kept awake all the rest of the night exulting in the thought of having questioned you. I was debating with myself as to whether I had asked aright, and had been rightly answered. And I concluded that I had.’
And the Elder on his part said: ‘Pray do not suppose, great king, that I passed the rest of the night rejoicing at having answered all you asked. I too was thinking over what had been said by us both. And I came to the result that you had questioned well, and that I had rightly answered.’
Thus did these two great men congratulate each the other on what he had spoken well.
Here ends the answering of the problems of the questions of Milinda.
PTS vp En 137 Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, đại vương có biết bây giờ là giờ nào không?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Trẫm biết. Lúc này canh một đã qua. Đang là canh giữa. Các ngọn đuốc được thắp sáng. Bốn ngọn cờ đã được truyền lệnh (kéo lên). Các vật dụng của hoàng gia từ nhà kho sẽ đến.”
Những người Yonaka đã nói như vầy: “Tâu đại vương, đại vương thì khôn ngoan, còn vị tỳ khưu là sáng trí.”
“Này các khanh, đúng vậy. Vị trưởng lão là bậc sáng trí. Người như vầy có thể là thầy dạy học, và người học trò như trẫm không bao lâu nữa có thể trở thành bậc sáng trí, có thể hiểu được Giáo Pháp.”
Được hoan hỷ với lời giải thích các câu hỏi của vị ấy, đức vua đã choàng lên vị trưởng lão Nāgasena tấm mền len trị giá một trăm ngàn rồi nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, kể từ hôm nay, trẫm sẽ cho chuẩn bị một trăm lẻ tám phần ăn dâng ngài. Và bất cứ vật gì đúng phép có ở nội thành, trẫm thỉnh cầu ngài về vật ấy.”
“Tâu đại vương, tôi vừa đủ sống.”
“Thưa ngài Nāgasena, trẫm biết ngài (vừa đủ) sống. Tuy nhiên, xin ngài hãy bảo vệ bản thân và xin ngài hãy bảo vệ trẫm. Ngài hãy bảo vệ bản thân nghĩa là thế nào? Lời phát biểu của những người khác có thể xảy đến là: ‘Nāgasena đã tạo niềm tin cho đức vua Milinda, nhưng đã không nhận được vật gì;’ ngài hãy bảo vệ bản thân nghĩa là như vậy. Ngài hãy bảo vệ trẫm nghĩa là thế nào? Lời phát biểu của những người khác có thể xảy đến là: ‘Đức vua Milinda đã được tịnh tín mà không bày tỏ biểu hiện đã được tịnh tín;’ ngài hãy bảo vệ trẫm nghĩa là như vậy.”
“Tâu đại vương, hãy là như vậy.”
“Thưa ngài, cũng giống như con sư tử, chúa của loài thú, bị ném vào trong cái chuồng bằng vàng, nhưng khuôn mặt chỉ hướng ra ngoài, thưa ngài, tương tợ y như thế trẫm dầu sống ở gian nhà nào đó, tuy vẫn tồn tại nhưng khuôn mặt chỉ hướng ra ngoài. Thưa ngài, nếu trẫm có thể rời nhà xuất gia sống không nhà, trẫm không thể sống thọ vì trẫm có nhiều kẻ thù.”
Khi ấy, đại đức Nāgasena, sau khi trả lời câu hỏi của đức vua Milinda, đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi về tu viện của hội chúng. Và khi đại đức Nāgasena ra đi không bao lâu, đức vua Milinda đã khởi ý điều này: “Điều gì đã được ta hỏi, điều gì đã được ngài đại đức trả lời?” Khi ấy đức vua Milinda đã khởi ý điều này: “Tất cả đã được ta hỏi đúng đắn, tất cả đã được ngài đại đức trả lời đúng đắn.” Khi đi về lại tu viện của hội chúng, đại đức Nāgasena cũng đã khởi ý điều này: “Điều gì đã được đức vua Milinda hỏi, điều gì đã được ta trả lời?” Khi ấy đại đức Nāgasena đã khởi ý điều này: “Tất cả đã được đức vua Milinda hỏi đúng đắn, tất cả đã được ta trả lời đúng đắn.”
Sau đó, khi trải qua đêm ấy, đại đức Nāgasena vào buổi sáng đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến chỗ ngụ của đức vua Milinda, sau khi đến đã ngồi xuống chỗ ngồi đã được sắp đặt sẵn. Khi ấy, đức vua Milinda đã đảnh lễ đại đức Nāgasena rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Mong rằng ngài đại đức chớ khởi ý như vầy: ‘Chính vì ‘Nāgasena đã được ta hỏi câu hỏi’ rồi do tâm hoan hỷ đã không ngủ trọn đêm qua.’ Xin ngài đừng nhận thấy như vậy. Thưa ngài, trọn đêm qua trẫm đây đã khởi ý điều này: ‘Điều gì đã được ta hỏi, điều gì đã được ngài đại đức trả lời?’ Tất cả đã được ta hỏi đúng đắn, tất cả đã được ngài đại đức trả lời đúng đắn.”
Vị trưởng lão cũng đã nói như vầy: “Mong rằng đại vương chớ khởi ý như vầy: ‘Chính vì đức vua Milinda đã được ta trả lời câu hỏi, rồi do tâm hoan hỷ đã thức trọn đêm qua.’ Xin đại vương đừng nhận thấy như vậy. Tâu đại vương, trọn đêm qua tôi đây đã khởi ý điều này: ‘Điều gì đã được đức vua Milinda hỏi, điều gì đã được ta trả lời?’ Tất cả đã được đức vua Milinda hỏi đúng đắn, tất cả đã được ta trả lời đúng đắn.” Như thế, hai bậc khổng long ấy đã cùng tùy hỷ về việc đã khéo ăn nói với nhau.
Việc hỏi và trả lời
các câu hỏi của Milinda được đầy đủ.
Thero āha—
“jānāsi kho, mahārāja, sampati kā velā”ti?
“Āma, bhante, jānāmi ‘sampati paṭhamo yāmo atikkanto, majjhimo yāmo pavattati, ukkā padīpīyanti, cattāri paṭākāni āṇattāni gamissanti bhaṇḍato rājadeyyānī’”ti.
Yonakā evamāhaṁsu “kallosi, mahārāja, paṇḍito thero”ti.
“Āma, bhaṇe, paṇḍito thero, ediso ācariyo bhaveyya mādiso ca antevāsī, nacirasseva paṇḍito dhammaṁ ājāneyyā”ti.
Tassa pañhaveyyākaraṇena tuṭṭho rājā theraṁ nāgasenaṁ satasahassagghanakena kambalena acchādetvā “bhante nāgasena, ajjatagge te aṭṭhasataṁ bhattaṁ paññapemi, yaṁ kiñci antepure kappiyaṁ, tena ca pavāremī”ti—āha.
“Alaṁ, mahārāja jīvāmī”ti.
“Jānāmi, bhante nāgasena, jīvasi, api ca attānañca rakkha, mamañca rakkhāhī”ti.
“Kathaṁ attānaṁ rakkhasi, ‘nāgaseno milindaṁ rājānaṁ pasādeti, na ca kiñci alabhī’ti parāpavādo āgaccheyyāti, evaṁ attānaṁ rakkha.
Kathaṁ mamaṁ rakkhasi, ‘milindo rājā pasanno pasannākāraṁ na karotī’ti parāpavādo āgaccheyyāti, evaṁ mamaṁ rakkhāhī”ti.
“Tathā hotu, mahārājā”ti.
“Seyyathāpi, bhante, sīho migarājā suvaṇṇapañjare pakkhittopi bahimukhoyeva hoti;
evameva kho ahaṁ, bhante, kiñcāpi agāraṁ ajjhāvasāmi bahimukho yeva pana acchāmi.
Sace ahaṁ, bhante, agārasmā anāgāriyaṁ pabbajeyyaṁ, na ciraṁ jīveyyaṁ, bahū me paccatthikā”ti.
Atha kho āyasmā nāgaseno milindassa rañño pañhaṁ visajjetvā uṭṭhāyāsanā saṅghārāmaṁ agamāsi.
Acirapakkante ca āyasmante nāgasene milindassa rañño etadahosi—
“kiṁ mayā pucchitaṁ, kiṁ bhadantena nāgasenena visajjitan”ti?
Atha kho milindassa rañño etadahosi—
“sabbaṁ mayā supucchitaṁ, sabbaṁ bhadantena nāgasenena suvisajjitan”ti.
Āyasmatopi nāgasenassa saṅghārāmagatassa etadahosi—
“kiṁ milindena raññā pucchitaṁ, kiṁ mayā visajjitan”ti.
Atha kho āyasmato nāgasenassa etadahosi—
“sabbaṁ milindena raññā supucchitaṁ, sabbaṁ mayā suvisajjitan”ti.
Atha kho āyasmā nāgaseno tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena milindassa rañño nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi, ekamantaṁ nisinno kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“Mā kho bhadantassa evaṁ ahosi ‘nāgaseno mayā pañhaṁ pucchito’ti teneva somanassena taṁ rattāvasesaṁ vītināmesīti na te evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Tassa mayhaṁ, bhante, taṁ rattāvasesaṁ etadahosi—
‘kiṁ mayā pucchitaṁ, kiṁ bhadantena visajjitan’ti, ‘sabbaṁ mayā supucchitaṁ, sabbaṁ bhadantena suvisajjitan’”ti.
Theropi evamāha—
“mā kho mahārājassa evaṁ ahosi ‘milindassa rañño mayā pañho visajjito’ti teneva somanassena taṁ rattāvasesaṁ vītināmesīti na te evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Tassa mayhaṁ, mahārāja, taṁ rattāvasesaṁ etadahosi—
‘kiṁ milindena raññā pucchitaṁ, kiṁ mayā visajjitan’ti, ‘sabbaṁ milindena raññā supucchitaṁ, sabbaṁ mayā suvisajjitan’”ti itiha te mahānāgā aññamaññassa subhāsitaṁ samanumodiṁsūti.
Milindapañhapucchāvisajjanā niṭṭhitā.