BJT 5193Vào lúc đức Phật, đấng Chiến Thắng Dīpaṅkara đã chú nguyện cho (vị ẩn sĩ) Sumedha rằng: “Vô lượng kiếp về sau, vị này sẽ trở thành đức Phật.
BJT 5194Người mẹ sanh ra vị này sẽ có tên là Māyā. Người cha tên là Suddhodana. Vịnày sẽ là Gotama.
BJT 5195Sau khi đã ra sức nỗ lực và thực hiện hành động khó thực hành được, vị này sẽ được giác ngộ ở gốc cội cây Assattha, trở thành bậc Toàn Giác có danh vọng lớn lao.
BJT 5196Upatissa và Kolita sẽ là (hai vị) Thinh Văn hàng đầu. Vị thị giả tên là Ānanda sẽ phục vụ đấng Chiến Thắng này.
BJT 5197Khemā và Uppalavaṇṇā sẽlà (hai vị) nữ Thinh Văn hàng đầu. Citta và luôn cảĀḷavaka sẽ là hai nam cư sĩ hàng đầu.
BJT 5198Khujjuttarā và Nandamātā sẽ là hai nữ cư sĩ hàng đầu. Cội Bồ Đề của đấng Chiến Thắng này được gọi tên là ‘Assattha’.”
BJT 5199Sau khi nghe được lời nói này của bậc Đại Ẩn Sĩ không ai sánh bằng, chư Thiên và nhân loại, được hoan hỷ, chắp tay lên lễ bái.
BJT 5200Khi ấy, tôi đã là người trai trẻ khéo được học tập tên Megha. Tôi đã nghe được lời chú nguyện thù thắng của bậc Đại Hiền Trí đến vị Sumedha.
BJT 5201Có được niềm tin với vị Sumedha đầy lòng bi mẫn, trong khi vị anh hùng ấy đang hành hạnh xuất gia, tôi đã cùng xuất gia (với vị ấy).
BJT 5202Tôi đã thu thúc trong giới bổn Pātimokkhavà ở năm giác quan, có sự nuôi mạng trong sạch, có niệm, là vị anh hùng, là người thực hành lời dạy của đấng Chiến Thắng.
BJT 5203Trong khi đang an trú như thế, do một người bạn xấu xa nào đó tôi bị xúi giục vào hành vi sai trái và đã đánh mất đạo lộ tốt đẹp.
BJT 5204Là người bị tác động bởi sự suy tầm, tôi đã xa lìa lời giáo huấn. Sau đó vì người bạn tồi ấy, tôi đã phạm vào việc giết chết người mẹ.
BJT 5205Tôi đã thực hiện nghiệp vô gián, với tâm ý xấu xa tôi đã giết chết (người mẹ). Từ nơi ấy chết đi, tôi đã đi đến đại địa ngục Avīci vô cùng khiếp đảm.
BJT 5206Trong khi đang ở chốn đọa đày, bị khổ sở, tôi đã chịu đựng dài lâu. Tôi đã không nhìn thấy vị anh hùng Sumedha bậc cao quý của loài người nữa.
BJT 5207Trong kiếp này, tôi đã là loài cá khổng lồ ở biển cả. Sau khi nhìn thấy con thuyền ở biển khơi, tôi đã đến gần mục tiêu của việc kiếm mồi.
BJT 5208Sau khi nhìn thấy tôi, các người thương buôn kinh sợ đã tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng. Tôi đã nghe tiếng kêu lớn “Gotama” đã được thốt lên bởi những người ấy.
BJT 5209Sau khi nhớ lại sự hiểu biết trước đây, từ nơi ấy tôi đã mệnh chung. Tôi đã được sanh ra trong gia đình sung túc dòng dõi Bà-la-môn ở thành Sāvatthī.
BJT 5210Có tên là Dhammaruci, tôi đã là người ghê tởm tất cả các điều ác. Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã nhìn thấy bậc Quang Đăng của thế gian.
BJT 5211Tôi đã đi đến tu viện Jetavana to lớn và đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Tôi đã đi đến (nương nhờ) đức Phật ba lần vào ban đêm và ban ngày.
BJT 5212Khi ấy, bậc Hiền Trí đã nhìn thấy và đã nói với tôi rằng: “Này Dhammaruci, lâu thật.” Do đó, tôi đã nói với đức Phật về sự việc quá khứ đã xảy ra:
BJT 5213“Thật là lâu lắm, hôm nay con quả nhiên được nhìn thấy hình dáng xinh đẹp của Ngài, thân thể không gì sánh bằng, có một trăm phước tướng, là vật làm duyên đưa đến Niết Bàn trước đây.
BJT 5214Bạch đấng Đại Hiền Trí, bóng tối đã được Ngài tiêu diệt lâu lắm rồi. Dòng sông (ái dục) đã được làm cho khô cạn nhờ vào sự hộ trì tốt đẹp. Sự ô nhiễm đã được làm trong sạch lâu lắm rồi. Con mắt đã có được cấu tạo bằng trí tuệ.
BJT 5215Bạch đức Gotama, con được gần gũi với Ngài trong thời gian dài, con đã không bị tiêu hoại lần nữa trong khoảng thời gian dài. Hôm nay con được hội tụ với Ngài lần nữa bởi vì những việc đã làm không bị hoại diệt.”
BJT 5216Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5217Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5218Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Dhammaruci đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Dhammaruci là phần thứ chín.
“Yadā dīpaṅkaro buddho,
sumedhaṁ byākarī jino;
‘Aparimeyye ito kappe,
ayaṁ buddho bhavissati.
Imassa janikā mātā,
māyā nāma bhavissati;
Pitā suddhodano nāma,
ayaṁ hessati gotamo.
Padhānaṁ padahitvāna,
katvā dukkarakārikaṁ;
Assatthamūle sambuddho,
bujjhissati mahāyaso.
Upatisso kolito ca,
aggā hessanti sāvakā;
Ānando nāma nāmena,
upaṭṭhissatimaṁ jinaṁ.
Khemā uppalavaṇṇā ca,
aggā hessanti sāvikā;
Citto āḷavako ceva,
aggā hessantupāsakā.
Khujjuttarā nandamātā,
aggā hessantupāsikā;
Bodhi imassa vīrassa,
assatthoti pavuccati’.
Idaṁ sutvāna vacanaṁ,
asamassa mahesino;
Āmoditā naramarū,
namassanti katañjalī.
Tadāhaṁ māṇavo āsiṁ,
megho nāma susikkhito;
Sutvā byākaraṇaṁ seṭṭhaṁ,
sumedhassa mahāmune.
Saṁvisaṭṭho bhavitvāna,
sumedhe karuṇāsaye;
Pabbajantañca taṁ vīraṁ,
sahāva anupabbajiṁ.
Saṁvuto pātimokkhasmiṁ,
indriyesu ca pañcasu;
Suddhājīvo sato vīro,
jinasāsanakārako.
Evaṁ viharamānohaṁ,
pāpamittena kenaci;
Niyojito anācāre,
sumaggā paridhaṁsito.
Vitakkavasiko hutvā,
sāsanato apakkamiṁ;
Pacchā tena kumittena,
payutto mātughātanaṁ.
Akariṁ ānantariyaṁ,
ghātayiṁ duṭṭhamānaso;
Tato cuto mahāvīciṁ,
upapanno sudāruṇaṁ.
Vinipātagato santo,
saṁsariṁ dukkhito ciraṁ;
Na puno addasaṁ vīraṁ,
sumedhaṁ narapuṅgavaṁ.
Asmiṁ kappe samuddamhi,
maccho āsiṁ timiṅgalo;
Disvāhaṁ sāgare nāvaṁ,
gocaratthamupāgamiṁ.
Disvā maṁ vāṇijā bhītā,
buddhaseṭṭhamanussaruṁ;
Gotamoti mahāghosaṁ,
sutvā tehi udīritaṁ.
Pubbasaññaṁ saritvāna,
tato kālaṅkato ahaṁ;
Sāvatthiyaṁ kule iddhe,
jāto brāhmaṇajātiyaṁ.
Āsiṁ dhammaruci nāma,
sabbapāpajigucchako;
Disvāhaṁ lokapajjotaṁ,
jātiyā sattavassiko.
Mahājetavanaṁ gantvā,
pabbajiṁ anagāriyaṁ;
Upemi buddhaṁ tikkhattuṁ,
rattiyā divasassa ca.
Tadā disvā muni āha,
ciraṁ dhammarucīti maṁ;
Tatohaṁ avacaṁ buddhaṁ,
pubbakammapabhāvitaṁ.
Suciraṁ satapuññalakkhaṇaṁ,
Patipubbena visuddhapaccayaṁ;
Ahamajjasupekkhanaṁ vata,
Tava passāmi nirupamaṁ viggahaṁ.
Suciraṁ vihatattamo mayā,
Sucirakkhena nadī visositā;
Suciraṁ amalaṁ visodhitaṁ,
Nayanaṁ ñāṇamayaṁ mahāmune.
Cirakālasamaṅgito tayā,
Avinaṭṭho punarantaraṁ ciraṁ;
Punarajjasamāgato tayā,
Na hi nassanti katāni gotama.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā dhammaruciyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Dhammaruciyattherassāpadānaṁ navamaṁ.
Walt 5193 When Dipaṅkara was Buddha,
the Victor said of Sumedha:
“Aeons beyond measure from now,
this one will become a Buddha. Verse 1
Walt 5194 The one named Māyā’s going to be
the birth-mother of this person;
Suddhodhana the father’s name;
this one will be named Gotama. Verse 2
Walt 5195 Being one bent on exertion,
having practiced austerities,
the Sambuddha will awaken
Great Famed, at the Bodhi tree’s roots. Verse 3
Walt 5196 Upatissa and Kolita
will be the two chief followers;
the one whose name is Ānanda
will attend upon this Victor. Verse 4
Walt 5197 Khemā and Uppalavaṇṇā
will be chief female followers;
Citta and Ālavaka will
be the chief pious laymen. Verse 5
Walt 5198 Khujjuttarā, Nandamātā
will be chief pious laywomen;
the Bodhi tree of this Hero
is known as the Aśvattha tree.” Verse 6
Walt 5199 After having heard those words of
the Great Sage, the Unequaled One,
overjoyed, both gods and men, are
praising him, hands pressed together. Verse 7
Walt 5200-5201 At that time I was a young man,
well-educated, named Megha.
Having heard that best prophesy
for Sumedha, then a great sage,
cultivating confidence in
Sumedha, font of compassion,
when that hero renounced the world,
I renounced right along with him. Verse 8-9
Walt 5202 Restrained in the monastic rules,
and also in the five senses,
he lived pure, mindful, a hero,
doer of what the Victor taught. Verse 10
Walt 5203 While I was living in that way,
I strayed away from the good road,
urged into bad behavior by
a certain evil friend of mine. Verse 11
Walt 5204 Having been controlled by reason,
I fell from the dispensation;
afterward, by that bad friend, the
murder of my mother was schemed. Verse 12
Walt 5205 I did no-interval karma,
and I killed with an evil mind;
I fell from there right into hell,
born in a very cruel place. Verse 13
Walt 5206 Being gone to that woeful state,
I long transmigrated in pain,
not seeing the Hero again,
Sumedha, the Bull among Men. Verse 14
Walt 5207 In this aeon, in the ocean,
I was a timiṅgala fish.
Having seen a ship in the sea,
I approached it looking for food. Verse 15
Walt 5208 Seeing me, the traders, afraid,
remembered the Best of Buddhas;
I heard a huge sound shouted out,
“Gotama!” they cried in terror. Verse 16
Walt 5209 Recalling the past perception,
I passed away right on the spot.
I was reborn in Śrāvasti,
a brahmin in a high-ranked clan. Verse 17
Walt 5210 My name was Dhammarucī then,
a loather of every evil.
Having seen the Lamp of the World,
being only seven years old, Verse 18
Walt 5211 I went to great Jetavana,
and went forth into homelessness.
I approach the Buddha three times
every night, also every day. Verse 19
Walt 5212 Seeing me, seeing me, the Sage
called me “long time Dhammarucī.”
After that I told the Buddha
how my past karma had progressed: Verse 20
Walt 5213 Very long, marked with hundreds of good deeds,
conditions then gradually purified.
Today I am looking closely indeed,
I am seeing your body without compare. Verse 21
Walt 5214 Very long, darkness is destroyed by it.
Through guarding purity, the stream has been cleansed.
Very long, now purified without fault,
is the eye made out of knowledge, O Great Sage. Verse 22
Walt 5215 A long time, now come together with you;
not destroyed, again the interval was long;
today, again come together with you,
O Gotama, deeds do not just disappear. Verse 23
Walt 5216 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 24
Walt 5217 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 25
Walt 5218 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 26
Thus indeed Venerable Dhammarucī Thera spoke these verses.
The legend of Dhammarucī Thera is finished.