BJT 307Vào lúc ta là con khỉ sống trong hang ở bờ sông, ta đã bị đe dọa bởi con cá sấu nên không đạt được việc ra đi.
BJT 308Tại địa điểm ta thường đứng ở bờ bên này rồi nhảy qua bờ bên kia, tại chỗ ấy có con cá sấu là kẻ thù, là kẻ sát thủ, có dáng vóc hung tợn.
BJT 309Con cá sấu đã thông báo với ta rằng: “Cứ việc đi đến.” Ta đã nói với nó rằng: “Tôi đang đi đến,” rồi đã bước lên đầu của nó và đã đứng vững bờ bên kia.
BJT 310Điều đã được nói với con cá sấu không phải là không đúng sự thật (vì) ta đã hành động đúng theo lời nói. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.
Hạnh của con khỉ chúa là phần thứ bảy.
“Yadā ahaṁ kapi āsiṁ,
nadīkūle darīsaye;
Pīḷito susumārena,
gamanaṁ na labhāmahaṁ.
Yamhokāse ahaṁ ṭhatvā,
orā pāraṁ patāmahaṁ;
Tatthacchi sattu vadhako,
kumbhīlo luddadassano.
So maṁ asaṁsi ‘ehī’ti,
‘ahampemī’ti taṁ vatiṁ;
Tassa matthakamakkamma,
parakūle patiṭṭhahiṁ.
Na tassa alikaṁ bhaṇitaṁ,
yathā vācaṁ akāsahaṁ;
Saccena me samo natthi,
esā me saccapāramī”ti.
Kapirājacariyaṁ sattamaṁ.
“When I was a monkey
in a cleft on the riverbank,
harassed by a crocodile
I could not get across.
Where I used to land
when jumping from the near shore to the far,
there crouched my deadly foe,
the baleful gharial.
Reassuring me, he said ‘Come!’
‘I am coming,’ I said to him.
Stepping on his head
I made it to the far bank.
I spoke no lie to him,
but acted according to my word.
There is no-one to equal my truthfulness:
this is my perfection of truth.”
BJT 307Vào lúc ta là con khỉ sống trong hang ở bờ sông, ta đã bị đe dọa bởi con cá sấu nên không đạt được việc ra đi.
BJT 308Tại địa điểm ta thường đứng ở bờ bên này rồi nhảy qua bờ bên kia, tại chỗ ấy có con cá sấu là kẻ thù, là kẻ sát thủ, có dáng vóc hung tợn.
BJT 309Con cá sấu đã thông báo với ta rằng: “Cứ việc đi đến.” Ta đã nói với nó rằng: “Tôi đang đi đến,” rồi đã bước lên đầu của nó và đã đứng vững bờ bên kia.
BJT 310Điều đã được nói với con cá sấu không phải là không đúng sự thật (vì) ta đã hành động đúng theo lời nói. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.
Hạnh của con khỉ chúa là phần thứ bảy.
“Yadā ahaṁ kapi āsiṁ,
nadīkūle darīsaye;
Pīḷito susumārena,
gamanaṁ na labhāmahaṁ.
Yamhokāse ahaṁ ṭhatvā,
orā pāraṁ patāmahaṁ;
Tatthacchi sattu vadhako,
kumbhīlo luddadassano.
So maṁ asaṁsi ‘ehī’ti,
‘ahampemī’ti taṁ vatiṁ;
Tassa matthakamakkamma,
parakūle patiṭṭhahiṁ.
Na tassa alikaṁ bhaṇitaṁ,
yathā vācaṁ akāsahaṁ;
Saccena me samo natthi,
esā me saccapāramī”ti.
Kapirājacariyaṁ sattamaṁ.