BJT 345Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là đức vua Sutasoma. Bị bắt giữ bởi Porisāda (kẻ ăn thịt người), ta đã nhớ lại lời hứa với vị Bà-la-môn.
BJT 346Sau khi xỏ dây ở lòng bàn tay của một trăm vị Sát-đế-lỵ rồi (treo lên) phơi khô họ, kẻ ấy đã đưa ta đi nhằm mục đích tế thần.
BJT 347Kẻ ăn thịt người đã hỏi ta rằng: “Có phải ngài mong muốn việc cởi trói? Ta sẽ làm theo ý thích của ngài nếu ngài còn quay trở lại.”
BJT 348Vào lúc ấy, sau khi đã hứa hẹn đối với câu hỏi của kẻ (ăn thịt người) ấy về việc trở lại của ta, ta đã đi đến thành phố tráng lệ và đã chối từ vương quốc.
BJT 349Sau khi tưởng nhớ đến Chánh Pháp đã được thực hành bởi các đấng Chiến Thắng thời quá khứ, ta đã trao lại tài sản cho vị Bà-la-môn và đã đi đến gặp kẻ ăn thịt người.
BJT 350Trong trường hợp ấy, không có sự phân vân ở ta về việc kẻ ấy sẽ giết hay không (giết). Trong khi bảo vệ lời nói chân thật, ta đã đi đến để buông bỏ mạng sống. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Sutasoma là phần thứ mười hai.
Dứt sự toàn hảo về chân thật.
“Punāparaṁ yadā homi,
sutasomo mahīpati;
Gahito porisādena,
brāhmaṇe saṅgaraṁ sariṁ.
Khattiyānaṁ ekasataṁ,
āvuṇitvā karattale;
Etesaṁ pamilāpetvā,
yaññatthe upanayī mamaṁ.
Apucchi maṁ porisādo,
‘kiṁ tvaṁ icchasi nissajaṁ;
Yathāmati te kāhāmi,
yadi me tvaṁ punehisi’.
Tassa paṭissuṇitvāna,
paṇhe āgamanaṁ mama;
Upagantvā puraṁ rammaṁ,
rajjaṁ niyyādayiṁ tadā.
Anussaritvā sataṁ dhammaṁ,
pubbakaṁ jinasevitaṁ;
Brāhmaṇassa dhanaṁ datvā,
porisādaṁ upāgamiṁ.
Natthi me saṁsayo tattha,
Ghātayissati vā na vā;
Saccavācānurakkhanto,
Jīvitaṁ cajitumupāgamiṁ;
Saccena me samo natthi,
Esā me saccapāramī”ti.
Sutasomacariyaṁ dvādasamaṁ.
“Then again when I was
Sutasoma, Lord of the Earth,
captured by a cannibal
I remembered my promise to a brahmin.
A hundred aristocrat warriors
he strung up by their hands .
Having drained their blood,
he brought me for sacrifice.
The cannibal asked me,
‘What do you wish for—release?
I shall act as you think,
so long as you will return.’
I promised him that I
would return at dawn.
I went to the delightful city
and then renounced kingship.
Recollecting the true Dhamma,
fostered by former Victors,
I gave money to the brahmin,
and returned to the cannibal.
I had no doubt
that he was going to kill me.
Protecting my truthful speech,
I went to give up my life.
There is no-one to equal my truthfulness:
this is my perfection of truth.”
BJT 345Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là đức vua Sutasoma. Bị bắt giữ bởi Porisāda (kẻ ăn thịt người), ta đã nhớ lại lời hứa với vị Bà-la-môn.
BJT 346Sau khi xỏ dây ở lòng bàn tay của một trăm vị Sát-đế-lỵ rồi (treo lên) phơi khô họ, kẻ ấy đã đưa ta đi nhằm mục đích tế thần.
BJT 347Kẻ ăn thịt người đã hỏi ta rằng: “Có phải ngài mong muốn việc cởi trói? Ta sẽ làm theo ý thích của ngài nếu ngài còn quay trở lại.”
BJT 348Vào lúc ấy, sau khi đã hứa hẹn đối với câu hỏi của kẻ (ăn thịt người) ấy về việc trở lại của ta, ta đã đi đến thành phố tráng lệ và đã chối từ vương quốc.
BJT 349Sau khi tưởng nhớ đến Chánh Pháp đã được thực hành bởi các đấng Chiến Thắng thời quá khứ, ta đã trao lại tài sản cho vị Bà-la-môn và đã đi đến gặp kẻ ăn thịt người.
BJT 350Trong trường hợp ấy, không có sự phân vân ở ta về việc kẻ ấy sẽ giết hay không (giết). Trong khi bảo vệ lời nói chân thật, ta đã đi đến để buông bỏ mạng sống. Không có ai bằng (ta) về sự chân thật, điều này là sự toàn hảo về chân thật của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Sutasoma là phần thứ mười hai.
Dứt sự toàn hảo về chân thật.
“Punāparaṁ yadā homi,
sutasomo mahīpati;
Gahito porisādena,
brāhmaṇe saṅgaraṁ sariṁ.
Khattiyānaṁ ekasataṁ,
āvuṇitvā karattale;
Etesaṁ pamilāpetvā,
yaññatthe upanayī mamaṁ.
Apucchi maṁ porisādo,
‘kiṁ tvaṁ icchasi nissajaṁ;
Yathāmati te kāhāmi,
yadi me tvaṁ punehisi’.
Tassa paṭissuṇitvāna,
paṇhe āgamanaṁ mama;
Upagantvā puraṁ rammaṁ,
rajjaṁ niyyādayiṁ tadā.
Anussaritvā sataṁ dhammaṁ,
pubbakaṁ jinasevitaṁ;
Brāhmaṇassa dhanaṁ datvā,
porisādaṁ upāgamiṁ.
Natthi me saṁsayo tattha,
Ghātayissati vā na vā;
Saccavācānurakkhanto,
Jīvitaṁ cajitumupāgamiṁ;
Saccena me samo natthi,
Esā me saccapāramī”ti.
Sutasomacariyaṁ dvādasamaṁ.