Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘danh sắc,’ ở nơi ấy cái gì là danh, cái gì là sắc?”
“Tâu đại vương, ở nơi ấy cái nào thô thiển cái ấy là sắc. Ở nơi ấy những pháp nào vi tế, là tâm và sở hữu tâm, cái ấy là danh.”
“Thưa ngài Nāgasena, vì lý do gì không chỉ riêng danh đi tái sanh, hoặc không chỉ riêng sắc (đi tái sanh)?”
“Tâu đại vương, các pháp này nương tựa lẫn nhau, sanh lên chung với nhau.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như không có mầm trứng ở con gà mái thì cũng không có quả trứng. Và trong trường hợp ấy, cái nào là mầm trứng, và cái nào là quả trứng, cả hai vật này nương tựa lẫn nhau, chúng có sự sanh lên chung với nhau. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ở nơi ấy nếu không có danh thì cũng không có sắc. Ở nơi ấy cái nào là danh, cái nào là sắc, cả hai cái này cũng nương tựa lẫn nhau, chúng có sự sanh lên chung với nhau. Như vậy hành trình diệu vợi này được tạo nên.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yaṁ panetaṁ brūsi ‘nāmarūpan’ti, tattha katamaṁ nāmaṁ, katamaṁ rūpan”ti.
“Yaṁ tattha, mahārāja, oḷārikaṁ, etaṁ rūpaṁ, ye tattha sukhumā cittacetasikā dhammā, etaṁ nāman”ti.
“Bhante nāgasena, kena kāraṇena nāmaṁyeva na paṭisandahati, rūpaṁyeva vā”ti?
“Aññamaññūpanissitā, mahārāja, ete dhammā ekatova uppajjantī”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, kukkuṭiyā kalalaṁ na bhaveyya, aṇḍampi na bhaveyya, yañca tattha kalalaṁ, yañca aṇḍaṁ, ubhopete aññamaññūpanissitā, ekatova nesaṁ uppatti hoti;
evameva kho, mahārāja, yadi tattha nāmaṁ na bhaveyya, rūpampi na bhaveyya, yañceva tattha nāmaṁ, yañceva rūpaṁ, ubhopete aññamaññūpanissitā, ekatova nesaṁ uppatti hoti.
Evametaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitan”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Nāmarūpapaṭisandahanapañho aṭṭhamo.
PTS cs 8 The king said: ‘You were talking just now of name-and-form. What does “name” mean in that expression, and what “form”?’
‘Whatever is gross therein, that is “form": whatever is subtle, mental, that is “name.”’
‘Why is it, Nāgasena, that name is not reborn separately, or form separately?’
‘These conditions, great king, are connected one with the other; and spring into being together.’
‘Give me an illustration.’
‘As a hen, great king, would not get a yolk or PTS vp En 77 an egg-shell separately, but both would arise in one, they two being intimately dependent one on the other; just so, if there were no name there would be no form. What is meant by name in that expression being intimately dependent on what is meant by form, they spring up together. And this is, through time immemorial, their nature.’
‘You are ready, Nāgasena, in reply.’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘danh sắc,’ ở nơi ấy cái gì là danh, cái gì là sắc?”
“Tâu đại vương, ở nơi ấy cái nào thô thiển cái ấy là sắc. Ở nơi ấy những pháp nào vi tế, là tâm và sở hữu tâm, cái ấy là danh.”
“Thưa ngài Nāgasena, vì lý do gì không chỉ riêng danh đi tái sanh, hoặc không chỉ riêng sắc (đi tái sanh)?”
“Tâu đại vương, các pháp này nương tựa lẫn nhau, sanh lên chung với nhau.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như không có mầm trứng ở con gà mái thì cũng không có quả trứng. Và trong trường hợp ấy, cái nào là mầm trứng, và cái nào là quả trứng, cả hai vật này nương tựa lẫn nhau, chúng có sự sanh lên chung với nhau. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ở nơi ấy nếu không có danh thì cũng không có sắc. Ở nơi ấy cái nào là danh, cái nào là sắc, cả hai cái này cũng nương tựa lẫn nhau, chúng có sự sanh lên chung với nhau. Như vậy hành trình diệu vợi này được tạo nên.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yaṁ panetaṁ brūsi ‘nāmarūpan’ti, tattha katamaṁ nāmaṁ, katamaṁ rūpan”ti.
“Yaṁ tattha, mahārāja, oḷārikaṁ, etaṁ rūpaṁ, ye tattha sukhumā cittacetasikā dhammā, etaṁ nāman”ti.
“Bhante nāgasena, kena kāraṇena nāmaṁyeva na paṭisandahati, rūpaṁyeva vā”ti?
“Aññamaññūpanissitā, mahārāja, ete dhammā ekatova uppajjantī”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, kukkuṭiyā kalalaṁ na bhaveyya, aṇḍampi na bhaveyya, yañca tattha kalalaṁ, yañca aṇḍaṁ, ubhopete aññamaññūpanissitā, ekatova nesaṁ uppatti hoti;
evameva kho, mahārāja, yadi tattha nāmaṁ na bhaveyya, rūpampi na bhaveyya, yañceva tattha nāmaṁ, yañceva rūpaṁ, ubhopete aññamaññūpanissitā, ekatova nesaṁ uppatti hoti.
Evametaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitan”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Nāmarūpapaṭisandahanapañho aṭṭhamo.