Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘hành trình diệu vợi,’ hành trình này gọi là gì?”
“Tâu đại vương, quá khứ là hành trình, vị lai là hành trình, hiện tại là hành trình.”
“Thưa ngài, phải chăng hành trình là hiện hữu?”
“Tâu đại vương, cũng có loại hành trình là hiện hữu, cũng có loại hành trình là không hiện hữu.”
“Thưa ngài, loại nào là hiện hữu, loại nào là không hiện hữu?”
“Tâu đại vương, các hành quá khứ, đã qua khỏi, bị hoại diệt, bị biến đổi, loại hành trình ấy không hiện hữu. Các pháp tạo quả và các pháp có nhân tạo quả, chúng ban cho sự đi tái sanh ở nơi khác, loại hành trình ấy là hiện hữu. Các chúng sanh chết đi rồi sanh lên ở nơi khác, loại hành trình ấy là hiện hữu. Các chúng sanh chết đi rồi không sanh lên ở nơi khác, loại hành trình ấy là không hiện hữu. Và các chúng sanh nào viên tịch Niết Bàn, loại hành trình ấy là không hiện hữu, là sự viên tịch Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Phẩm Hành Trình là thứ nhì.
(Trong phẩm này có chín câu hỏi)
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yaṁ panetaṁ brūsi ‘dīghamaddhānan’ti, kimetaṁ addhānaṁ nāmā”ti?
“Atīto, mahārāja, addhā, anāgato addhā, paccuppanno addhā”ti.
“Kiṁ pana, bhante, sabbe addhā atthī”ti?
“Koci, mahārāja, addhā atthi, koci natthī”ti.
“Katamo pana, bhante, atthi, katamo natthī”ti?
“Ye te, mahārāja, saṅkhārā atītā vigatā niruddhā vipariṇatā, so addhā natthi, ye dhammā vipākā, ye ca vipākadhammadhammā, ye ca aññatra paṭisandhiṁ denti, so addhā atthi.
Ye sattā kālaṅkatā aññatra uppannā, so ca addhā atthi.
Ye sattā kālaṅkatā aññatra anuppannā, so addhā natthi.
Ye ca sattā parinibbutā, so ca addhā natthi parinibbutattā”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Addhānapañho navamo.
Addhānavaggo dutiyo.
Imasmiṁ vagge nava pañhā.
PTS cs 9 The king said: ‘You speak, Nāgasena, of time immemorial. What does this word “time” mean?’
‘Past time, O king, and present, and future.’
‘But what? is there such a thing as time?’
‘There is time which exists, and time which does not.’
‘Which then exists, and which not?’
PTS vp Pali 50 ‘There are conditions (constituent potentialities of being), O king, which are past in the sense of having passed away, and ceased to be, or of having been dissolved, or altogether changed. To them time is not. But there are conditions of heart which are now producing their effect, or still have in them the inherent possibility of producing PTS vp En 78 effect, or which will otherwise lead to reindividualisation. To them time is. In the case of beings who, having died, have been reborn elsewhere, time is. In the case of beings who, having died, have not been reborn elsewhere, time is not; and in the case of beings who are altogether set free (who, having attained Nirvāna in their present life, have come to the end of that life), there time is not—because of their having been quite set free.’
‘You are ready, Nāgasena, in reply.’
Here ends the Second Chapter.
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘hành trình diệu vợi,’ hành trình này gọi là gì?”
“Tâu đại vương, quá khứ là hành trình, vị lai là hành trình, hiện tại là hành trình.”
“Thưa ngài, phải chăng hành trình là hiện hữu?”
“Tâu đại vương, cũng có loại hành trình là hiện hữu, cũng có loại hành trình là không hiện hữu.”
“Thưa ngài, loại nào là hiện hữu, loại nào là không hiện hữu?”
“Tâu đại vương, các hành quá khứ, đã qua khỏi, bị hoại diệt, bị biến đổi, loại hành trình ấy không hiện hữu. Các pháp tạo quả và các pháp có nhân tạo quả, chúng ban cho sự đi tái sanh ở nơi khác, loại hành trình ấy là hiện hữu. Các chúng sanh chết đi rồi sanh lên ở nơi khác, loại hành trình ấy là hiện hữu. Các chúng sanh chết đi rồi không sanh lên ở nơi khác, loại hành trình ấy là không hiện hữu. Và các chúng sanh nào viên tịch Niết Bàn, loại hành trình ấy là không hiện hữu, là sự viên tịch Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Phẩm Hành Trình là thứ nhì.
(Trong phẩm này có chín câu hỏi)
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yaṁ panetaṁ brūsi ‘dīghamaddhānan’ti, kimetaṁ addhānaṁ nāmā”ti?
“Atīto, mahārāja, addhā, anāgato addhā, paccuppanno addhā”ti.
“Kiṁ pana, bhante, sabbe addhā atthī”ti?
“Koci, mahārāja, addhā atthi, koci natthī”ti.
“Katamo pana, bhante, atthi, katamo natthī”ti?
“Ye te, mahārāja, saṅkhārā atītā vigatā niruddhā vipariṇatā, so addhā natthi, ye dhammā vipākā, ye ca vipākadhammadhammā, ye ca aññatra paṭisandhiṁ denti, so addhā atthi.
Ye sattā kālaṅkatā aññatra uppannā, so ca addhā atthi.
Ye sattā kālaṅkatā aññatra anuppannā, so addhā natthi.
Ye ca sattā parinibbutā, so ca addhā natthi parinibbutattā”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Addhānapañho navamo.
Addhānavaggo dutiyo.
Imasmiṁ vagge nava pañhā.