BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, chín hạng người này bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận. Là chín hạng nào? Hạng có tánh ái luyến, hạng có tánh sân, hạng có tánh si, hạng hèn nhát, hạng nặng về vật chất, phụ nữ, hạng nghiện ngập, hạng vô căn, trẻ con.”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Những người ấy có sự sai trái gì?”
“Thưa ngài Nāgasena, hạng có tánh ái luyến bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tác động của sự ái luyến.
Hạng sân hận bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tác động của sân.
Hạng si mê bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tác động của si.
Hạng hèn nhát bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tác động của sự sợ hãi.
Hạng nặng về vật chất bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận vì lý do vật chất.
Phụ nữ bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tánh hay thay đổi.
Hạng nghiện ngập bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tánh thèm rượu.
Hạng vô căn bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tánh không kiên quyết.
Trẻ con bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tánh lao chao.
Vậy ở đây là:
Hạng bị ái luyến, sân hận, si mê, hèn nhát, xem trọng vật chất, phụ nữ, kẻ nghiện ngập, vô căn, và thứ chín là trẻ nít.
Chín hạng người này ở trên đời là hay thay đổi, bị dao động, chao đảo, vì những người này điều bí mật đã được thảo luận mau chóng trở thành phổ biến.”
BJT 8“Thưa ngài Nāgasena, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi do tám lý do. Do tám lý do gì?
Do sự tiến triển của tuổi tác, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự tiến triển của danh tiếng, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do học hỏi, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự sống gần gũi với vị lãnh đạo tinh thần, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự chú tâm đúng đắn, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự bàn luận, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự phục vụ với lòng thương, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sống ở xứ sở thích hợp, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Vậy ở đây là:
Do tuổi tác, danh tiếng, học hỏi, do sống với vị lãnh đạo tinh thần, (chú tâm) đúng đắn, do bàn luận, do sự phục vụ với lòng thương, và do sống ở xứ sở thích hợp.
Tám sự việc này làm cho tánh giác được rõ ràng. Những người nào có các điều này được hiện hữu thì tánh giác của họ được đánh thức.”
“Bhante nāgasena, ayaṁ bhūmibhāgo aṭṭha mantadosavivajjito, ahañca loke paramo mantisahāyo, guyhamanurakkhī cāhaṁ yāvāhaṁ jīvissāmi tāva guyhamanurakkhissāmi, aṭṭhahi ca me kāraṇehi buddhi pariṇāmaṁ gatā, dullabho etarahi mādiso antevāsī, sammā paṭipanne antevāsike ye ācariyānaṁ pañcavīsati ācariyaguṇā, tehi guṇehi ācariyena sammā paṭipajjitabbaṁ.
Katame pañcavīsati guṇā?
Idha, bhante nāgasena, ācariyena antevāsimhi satataṁ samitaṁ ārakkhā upaṭṭhapetabbā, asevanasevanā jānitabbā, pamattāppamattā jānitabbā, seyyāvakāso jānitabbo, gelaññaṁ jānitabbaṁ, bhojanassa laddhāladdhaṁ jānitabbaṁ, viseso jānitabbo, pattagataṁ saṁvibhajitabbaṁ, assāsitabbo ‘mā bhāyi, attho te abhikkamatī’ti, ‘iminā puggalena paṭicaratī’ti paṭicāro jānitabbo, gāme paṭicāro jānitabbo, vihāre paṭicāro jānitabbo, na tena hāso davo kātabbo, tena saha ālāpo kātabbo, chiddaṁ disvā adhivāsetabbaṁ, sakkaccakārinā bhavitabbaṁ, akhaṇḍakārinā bhavitabbaṁ, arahassakārinā bhavitabbaṁ, niravasesakārinā bhavitabbaṁ, ‘janemimaṁ sippesū’ti janakacittaṁ upaṭṭhapetabbaṁ, ‘kathaṁ ayaṁ na parihāyeyyā’ti vaḍḍhicittaṁ upaṭṭhapetabbaṁ, ‘balavaṁ imaṁ karomi sikkhābalenā’ti cittaṁ upaṭṭhapetabbaṁ, mettacittaṁ upaṭṭhapetabbaṁ, āpadāsu na vijahitabbaṁ, karaṇīye nappamajjitabbaṁ, khalite dhammena paggahetabboti.
Ime kho, bhante, pañcavīsati ācariyassa ācariyaguṇā, tehi guṇehi mayi sammā paṭipajjassu, saṁsayo me, bhante, uppanno, atthi meṇḍakapañhā jinabhāsitā, anāgate addhāne tattha viggaho uppajjissati, anāgate ca addhāne dullabhā bhavissanti tumhādisā buddhimanto, tesu me pañhesu cakkhuṁ dehi paravādānaṁ niggahāyā”ti.
PTS cs 8 ‘This spot, Nāgasena, is free from the objections to talking matters over. And I am a model companion for any one desiring to do so. I can keep a PTS vp En 142 secret, and will keep yours as long as I live. In all the eight ways just described my insight has grown ripe. It would be hard to find such a pupil as you may have in me.
PTS vp Pali 94 ‘Now towards a pupil who conducts himself thus aright the teacher ought to conduct himself in accordance with the twenty-five virtues of a teacher. And what are the twenty-five? He must always and without fail keep guard over his pupil. He must let him know what to cultivate, and what to avoid; about what he should be earnest, and what he may neglect. He must instruct him as to sleep, and as to keeping himself in health, and as to what food he may take, and what reject. He should teach him discrimination (in food), and share with him all that is put, as alms, into his own bowl. He should encourage him, saying: “Be not afraid. You will gain advantage (from what is here taught you).” He should advise him as to the people whose company he should keep, and as to the villages and Vihāras he should frequent. He should never indulge in (foolish) talk with him. When he sees any defect in him he should easily pardon it. He should be zealous, he should teach nothing partially, keep nothing secret, and hold nothing back. He should look upon him in his heart as a son, saying to himself: “I have begotten him in PTS vp En 143 learning.” He should strive to bring him forward, saying to himself: “How can I keep him from going back? “He should determine in himself to make him strong in knowledge, saying to himself: “I will make him mighty.” He should love him, never desert him in necessity, never neglect him in anything he ought to do for him, always befriend him—so far as he can rightly do so —when he does wrong. These, Sir, are the twenty-five good qualities in a teacher. Treat me altogether in accordance therewith. Doubt, Lord, has overcome me. There are apparent contradictions in the word of the Conqueror. About them strife will hereafter arise, and in future times it will be hard to find a teacher with insight such as yours. Throw light for me on these dilemmas, to the downfall of the adversaries.’
BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, chín hạng người này bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận. Là chín hạng nào? Hạng có tánh ái luyến, hạng có tánh sân, hạng có tánh si, hạng hèn nhát, hạng nặng về vật chất, phụ nữ, hạng nghiện ngập, hạng vô căn, trẻ con.”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Những người ấy có sự sai trái gì?”
“Thưa ngài Nāgasena, hạng có tánh ái luyến bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tác động của sự ái luyến.
Hạng sân hận bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tác động của sân.
Hạng si mê bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tác động của si.
Hạng hèn nhát bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tác động của sự sợ hãi.
Hạng nặng về vật chất bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận vì lý do vật chất.
Phụ nữ bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tánh hay thay đổi.
Hạng nghiện ngập bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tánh thèm rượu.
Hạng vô căn bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tánh không kiên quyết.
Trẻ con bộc lộ, không gìn giữ điều bí mật đã được thảo luận do tánh lao chao.
Vậy ở đây là:
Hạng bị ái luyến, sân hận, si mê, hèn nhát, xem trọng vật chất, phụ nữ, kẻ nghiện ngập, vô căn, và thứ chín là trẻ nít.
Chín hạng người này ở trên đời là hay thay đổi, bị dao động, chao đảo, vì những người này điều bí mật đã được thảo luận mau chóng trở thành phổ biến.”
BJT 8“Thưa ngài Nāgasena, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi do tám lý do. Do tám lý do gì?
Do sự tiến triển của tuổi tác, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự tiến triển của danh tiếng, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do học hỏi, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự sống gần gũi với vị lãnh đạo tinh thần, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự chú tâm đúng đắn, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự bàn luận, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sự phục vụ với lòng thương, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Do sống ở xứ sở thích hợp, tánh giác tiến triển, đi đến chín muồi.
Vậy ở đây là:
Do tuổi tác, danh tiếng, học hỏi, do sống với vị lãnh đạo tinh thần, (chú tâm) đúng đắn, do bàn luận, do sự phục vụ với lòng thương, và do sống ở xứ sở thích hợp.
Tám sự việc này làm cho tánh giác được rõ ràng. Những người nào có các điều này được hiện hữu thì tánh giác của họ được đánh thức.”
“Bhante nāgasena, ayaṁ bhūmibhāgo aṭṭha mantadosavivajjito, ahañca loke paramo mantisahāyo, guyhamanurakkhī cāhaṁ yāvāhaṁ jīvissāmi tāva guyhamanurakkhissāmi, aṭṭhahi ca me kāraṇehi buddhi pariṇāmaṁ gatā, dullabho etarahi mādiso antevāsī, sammā paṭipanne antevāsike ye ācariyānaṁ pañcavīsati ācariyaguṇā, tehi guṇehi ācariyena sammā paṭipajjitabbaṁ.
Katame pañcavīsati guṇā?
Idha, bhante nāgasena, ācariyena antevāsimhi satataṁ samitaṁ ārakkhā upaṭṭhapetabbā, asevanasevanā jānitabbā, pamattāppamattā jānitabbā, seyyāvakāso jānitabbo, gelaññaṁ jānitabbaṁ, bhojanassa laddhāladdhaṁ jānitabbaṁ, viseso jānitabbo, pattagataṁ saṁvibhajitabbaṁ, assāsitabbo ‘mā bhāyi, attho te abhikkamatī’ti, ‘iminā puggalena paṭicaratī’ti paṭicāro jānitabbo, gāme paṭicāro jānitabbo, vihāre paṭicāro jānitabbo, na tena hāso davo kātabbo, tena saha ālāpo kātabbo, chiddaṁ disvā adhivāsetabbaṁ, sakkaccakārinā bhavitabbaṁ, akhaṇḍakārinā bhavitabbaṁ, arahassakārinā bhavitabbaṁ, niravasesakārinā bhavitabbaṁ, ‘janemimaṁ sippesū’ti janakacittaṁ upaṭṭhapetabbaṁ, ‘kathaṁ ayaṁ na parihāyeyyā’ti vaḍḍhicittaṁ upaṭṭhapetabbaṁ, ‘balavaṁ imaṁ karomi sikkhābalenā’ti cittaṁ upaṭṭhapetabbaṁ, mettacittaṁ upaṭṭhapetabbaṁ, āpadāsu na vijahitabbaṁ, karaṇīye nappamajjitabbaṁ, khalite dhammena paggahetabboti.
Ime kho, bhante, pañcavīsati ācariyassa ācariyaguṇā, tehi guṇehi mayi sammā paṭipajjassu, saṁsayo me, bhante, uppanno, atthi meṇḍakapañhā jinabhāsitā, anāgate addhāne tattha viggaho uppajjissati, anāgate ca addhāne dullabhā bhavissanti tumhādisā buddhimanto, tesu me pañhesu cakkhuṁ dehi paravādānaṁ niggahāyā”ti.