TRONG VIỆC THỌ NHẬN CỦA ĐỨC THẾ TÔN
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Đức Thế Tôn có được sự thọ nhận về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ nằm ngồi, và thuốc chữa bệnh.’ Và thêm nữa, ‘Đức Thế Tôn sau khi đi vào khất thực ở ngôi làng Bà-la-môn Pañcasālā đã không nhận được bất cứ vật gì, rồi đã trở ra với bình bát đã được rửa sạch như thế.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn có được sự thọ nhận về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ nằm ngồi, và thuốc chữa bệnh, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn sau khi đi vào khất thực ở ngôi làng Bà-la-môn Pañcasālā, đã không nhận được bất cứ vật gì, rồi đã trở ra với bình bát đã được rửa sạch như thế’ là sai trái. Nếu đức Thế Tôn sau khi đi vào khất thực ở ngôi làng Bà-la-môn Pañcasālā, đã không nhận được bất cứ vật gì, rồi đã trở ra với bình bát đã được rửa sạch như thế, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn có được sự thọ nhận về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ nằm ngồi, và thuốc chữa bệnh’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, vô cùng quan trọng, khó tháo gỡ, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, đức Thế Tôn có được sự thọ nhận về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ nằm ngồi, và thuốc chữa bệnh. Ngài sau khi đi vào khất thực ở ngôi làng Bà-la-môn Pañcasālā đã không nhận được bất cứ vật gì, rồi đã trở ra với bình bát đã được rửa sạch như thế. Tuy nhiên việc làm ấy có lý do là bởi Ma Vương ác độc.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì thiện pháp của đức Thế Tôn, được tạo lập theo cách thức tính toán bằng kiếp sống đã trải qua, đã được hoàn tất như thế nào? Sự triển khai về tốc độ và năng lực của thiện pháp ấy đã bị Ma Vương ác độc, kẻ mới xuất hiện vào lúc này, đóng lại như thế nào? Thưa ngài Nāgasena, như thế thì trong việc này sự chỉ trích tiếp cận dựa trên hai cơ sở: Bất thiện pháp có sức mạnh hơn cả thiện pháp, năng lực của Ma Vương có sức mạnh hơn cả năng lực của đức Phật. Vì lý do gì mà cây cối lại có ngọn mang nặng hơn cả rễ? Và điều ác lại có sức mạnh hơn cả đức hạnh đã được tích tụ?”
BJT 3“Tâu đại vương, đương nhiên chỉ với chừng ấy thì không thể nói là bất thiện pháp có sức mạnh hơn cả thiện pháp, năng lực của Ma Vương có sức mạnh hơn cả năng lực của đức Phật. Vậy thì lý do ở trường hợp này là được mong mỏi. Tâu đại vương, giống như có người đàn ông đem mật ong, hoặc bánh mật ong, hoặc tặng phẩm dâng lên đức Chuyển Luân Vương, người gác cổng của đức vua nói với người ấy như vầy: ‘Này ông, nay không phải là thời điểm để diện kiến đức vua. Này ông, như thế thì ông hãy cầm lấy tặng phẩm của ông và mau mau đi trở lui. Chớ để đức vua giáng hình phạt đến ông.’ Do đó, người đàn ông ấy bị run rẩy, bị chấn động do nỗi sợ hãi về hình phạt, liền cầm lấy tặng phẩm ấy và mau mau đi trở lui. Tâu đại vương, phải chăng chỉ với từng ấy sự việc không đúng thời điểm của tặng phẩm mà gọi là đức Chuyển Luân ấy có năng lực kém hơn người gác cổng, hay là đức Chuyển Luân còn có thể nhận bất cứ tặng phẩm nào khác nữa?”
BJT 4“Thưa ngài, không đúng. Do bản chất ganh ghét mà người gác cổng ấy ngăn chặn tặng phẩm. Tuy nhiên tặng phẩm của đức vua, thậm chí có phẩm chất cả trăm ngàn lần, đi đến bằng cánh cửa khác.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do bản chất ganh ghét mà Ma Vương ác độc đã nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Trái lại, hàng trăm ngàn Thiên nhân mang theo thuốc bất tử, là dưỡng chất của cõi trời, đến gần lễ bái đức Thế Tôn rồi đứng chắp tay (thưa rằng): ‘Chúng tôi sẽ đặt dưỡng chất vào cơ thể của đức Thế Tôn.’”
“Thưa ngài Nāgasena, hãy là vậy. Đối với đức Thế Tôn, bậc Tối Thượng Nhân ở thế gian, bốn món vật dụng là dễ dàng nhận được, chừng ấy thức ăn được thọ nhận theo như ước muốn. Được thỉnh cầu bởi chư Thiên và nhân loại mà đức Thế Tôn thọ dụng bốn món vật dụng. Tuy nhiên, ý định của Ma Vương có sự thành tựu liền tức thời, là việc Ma Vương đã tạo ra sự chướng ngại về vật thực đến đức Thế Tôn. Thưa ngài, trong việc này nỗi hoài nghi của trẫm không được cắt đứt. Trẫm bị sanh khởi nỗi phân vân, bị rơi vào sự nghi ngờ. Về việc ấy, tâm ý của trẫm không chấp nhận việc Ma Vương, là thây ma, hèn hạ, nhỏ nhoi, độc ác, không cao thượng, tội lỗi, đã tạo ra sự chướng ngại trong việc thọ nhận của đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, nhân vật cao quý tối cao ở thế gian có cả chư Thiên, cội nguồn của những phước báu cao quý về thiện pháp, không ai sánh bằng, không kẻ tương đương, không người tương xứng.”
BJT 5“Tâu đại vương, quả là có bốn sự chướng ngại: Chướng ngại do chưa được nhìn thấy, chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng. Ở đây chướng ngại do chưa được nhìn thấy nghĩa là khi vật được làm xong còn chưa chỉ định (người nhận) do việc chưa nhìn thấy thì có người nào đó tạo ra sự chướng ngại rằng: ‘Có điều gì với việc cho đến người khác?’ Đây gọi là chướng ngại do chưa được nhìn thấy. Chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận) là thế nào? Ở đây, vật thực là được chuẩn bị dành cho, được chỉ định cho một cá nhân, rồi có người nào đó tạo ra sự chướng ngại cho người ấy. Đây gọi là chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận). Chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong là thế nào? Ở đây, bất cứ vật gì đã được chuẩn bị xong còn chưa được thọ nhận. Tại nơi ấy, có người nào đó tạo ra sự chướng ngại. Đây gọi là chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong. Chướng ngại về sự thọ dụng là thế nào? Ở đây là bất kỳ sự thọ dụng nào, tại nơi ấy có người nào đó tạo ra sự chướng ngại. Đây gọi là chướng ngại về sự thọ dụng. Tâu đại vương, đây là bốn sự chướng ngại.
Hơn nữa, việc Ma Vương ác độc đã nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā là vật thọ dụng còn chưa thuộc về đức Thế Tôn, chưa được đem đến gần, chưa được chỉ định (người nhận), và Ngài còn chưa đi đến, chưa ngự đến; chướng ngại đã được tạo ra đối với Ngài là do việc chưa được nhìn thấy. Hơn nữa, việc ấy không phải chỉ riêng một mình đức Thế Tôn. Vào thời điểm ấy, thậm chí tất cả những người đã rời khỏi, đã đi đến vào ngày hôm ấy cũng đã không nhận được vật thực. Tâu đại vương, tôi không nhìn thấy người nào ở thế gian, tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, có thể tạo ra chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng đối với đức Thế Tôn ấy được. Nếu có kẻ nào đó do ganh ghét rồi tạo ra chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng (đối với đức Thế Tôn) thì sẽ khiến cho đầu của kẻ ấy vỡ ra thành trăm mảnh hoặc ngàn mảnh.
BJT 6Tâu đại vương, đây là bốn đức tính không thể bị che lấp bởi bất cứ người nào của đức Như Lai. Bốn đức tính gì? Tâu đại vương, lợi lộc đã được chỉ định dành cho đức Thế Tôn, đã được chuẩn bị xong, thì không người nào có thể tạo ra chướng ngại cho Ngài. Tâu đại vương, ánh sáng hào quang của đức Thế Tôn là di chuyển dọc theo thân, không người nào có thể tạo ra chướng ngại. Tâu đại vương, bản thể Toàn Tri là vật báu trí tuệ của đức Thế Tôn, không người nào có thể tạo ra chướng ngại cho Ngài. Tâu đại vương, không người nào có thể tạo ra chướng ngại đến mạng sống của đức Thế Tôn. Tâu đại vương, đây là bốn đức tính không thể bị che lấp bởi bất cứ người nào của đức Như Lai. Tâu đại vương, tất cả các đức tính này chỉ có một phẩm chất, không bị bệnh, không bị chuyển dịch, không có sự sánh kịp bởi những người khác, là những sự việc không bị đụng chạm. Tâu đại vương, nhờ vào việc không nhìn thấy, Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Tâu đại vương, giống như ở các vùng biên địa không bằng phẳng của đức vua, nhờ vào việc không nhìn thấy, các kẻ cướp đã ẩn nấp rồi làm hư hỏng con đường. Tuy nhiên, nếu đức vua nhìn thấy các kẻ cướp ấy, phải chăng những kẻ cướp ấy có thể đạt được sự bình yên?”
“Thưa ngài, không đúng. Đức vua có thể ra lệnh phanh thây bằng búa thành trăm mảnh hay ngàn mảnh.”
BJT 7“Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhờ vào việc không nhìn thấy, Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Tâu đại vương, hoặc là giống như người đàn bà có chồng nhờ vào việc không nhìn thấy, ẩn núp rồi gần gũi người đàn ông khác. Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhờ vào việc không nhìn thấy, Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Tâu đại vương, nếu người đàn bà gần gũi người đàn ông khác trước mặt chồng, phải chăng người đàn bà ấy có thể đạt được sự bình yên?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, người chồng có thể giết chết, hành hạ, giam cầm cô ấy, hoặc đem đi làm nô lệ.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhờ vào việc không nhìn thấy, Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Tâu đại vương, nếu Ma Vương ác độc tạo ra chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng đối với đức Thế Tôn thì có thể khiến cho đầu của Ma Vương bị vỡ ra thành trăm mảnh hoặc ngàn mảnh.”
“Thưa ngài Nāgasena, Ma Vương ác độc đã làm điều ấy tương tợ như kẻ cướp. Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Thưa ngài, nếu Ma Vương ác độc tạo ra chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng đối với đức Thế Tôn thì có thể khiến cho đầu của Ma Vương bị vỡ ra thành trăm mảnh hoặc ngàn mảnh, hoặc thân thể của Ma Vương có thể tan tác như là nắm trấu.
Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự chướng ngại
trong việc thọ nhận của đức Thế Tôn là thứ năm.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘lābhī tathāgato cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānan’ti.
Puna ca tathāgato pañcasālaṁ brāhmaṇagāmaṁ piṇḍāya pavisitvā kiñcideva alabhitvā yathādhotena pattena nikkhantoti.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgato lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ, tena hi pañcasālaṁ brāhmaṇagāmaṁ piṇḍāya pavisitvā kiñcideva alabhitvā yathādhotena pattena nikkhantoti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi pañcasālaṁ brāhmaṇagāmaṁ piṇḍāya pavisitvā kiñcideva alabhitvā yathādhotena pattena nikkhanto, tena hi lābhī tathāgato cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānanti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho sumahanto dunnibbeṭho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Lābhī, mahārāja, tathāgato cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ, pañcasālañca brāhmaṇagāmaṁ piṇḍāya pavisitvā kiñcideva alabhitvā yathādhotena pattena nikkhanto, tañca pana mārassa pāpimato kāraṇā”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, bhagavato gaṇanapathaṁ vītivattakappe abhisaṅkhataṁ kusalaṁ kinti niṭṭhitaṁ, adhunuṭṭhitena mārena pāpimatā tassa kusalassa balavegaṁ kinti pihitaṁ;
tena hi, bhante nāgasena, tasmiṁ vatthusmiṁ dvīsu ṭhānesu upavādo āgacchati, kusalatopi akusalaṁ balavataraṁ hoti, buddhabalatopi mārabalaṁ balavataraṁ hotīti;
tena hi rukkhassa mūlatopi aggaṁ bhārataraṁ hoti, guṇasamparikiṇṇatopi pāpiyaṁ balavataraṁ hotī”ti.
“Na, mahārāja, tāvatakena kusalatopi akusalaṁ balavataraṁ nāma hoti, na buddhabalatopi mārabalaṁ balavataraṁ nāma hoti.
Api cettha kāraṇaṁ icchitabbaṁ.
Yathā, mahārāja, puriso rañño cakkavattissa madhuṁ vā madhupiṇḍikaṁ vā aññaṁ vā upāyanaṁ abhihareyya, tamenaṁ rañño dvārapālo evaṁ vadeyya ‘akālo, bho, ayaṁ rañño dassanāya, tena hi, bho, tava upāyanaṁ gahetvā sīghasīghaṁ paṭinivatta, pure tava rājā daṇḍaṁ dhāressatī’ti.
Tato so puriso daṇḍabhayā tasito ubbiggo taṁ upāyanaṁ ādāya sīghasīghaṁ paṭinivatteyya, api nu kho so, mahārāja, rājā cakkavattī tāvatakena upāyanavikalamattakena dvārapālato dubbalataro nāma hoti, aññaṁ vā pana kiñci upāyanaṁ na labheyyā”ti?
“Na hi, bhante, issāpakato so, bhante, dvārapālo upāyanaṁ nivāresi, aññena pana dvārena satasahassaguṇampi rañño upāyanaṁ upetī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, issāpakato māro pāpimā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi, aññāni pana anekāni devatāsatasahassāni amataṁ dibbaṁ ojaṁ gahetvā upagatāni ‘bhagavato kāye ojaṁ odahissāmā’ti bhagavantaṁ namassamānāni pañjalikāni ṭhitānī”ti.
“Hotu, bhante nāgasena, sulabhā bhagavato cattāro paccayā loke uttamapurisassa, yācitova bhagavā devamanussehi cattāro paccaye paribhuñjati, api ca kho pana mārassa yo adhippāyo, so tāvatakena siddho, yaṁ so bhagavato bhojanassa antarāyamakāsi.
Ettha me, bhante, kaṅkhā na chijjati, vimatijātohaṁ tattha saṁsayapakkhando.
Na me tattha mānasaṁ pakkhandati, yaṁ tathāgatassa arahato sammāsambuddhassa sadevake loke aggapuggalavarassa kusalavarapuññasambhavassa asamasamassa anupamassa appaṭisamassa chavakaṁ lāmakaṁ parittaṁ pāpaṁ anariyaṁ vipannaṁ māro lābhantarāyamakāsī”ti.
“Cattāro kho, mahārāja, antarāyā adiṭṭhantarāyo uddissa katantarāyo upakkhaṭantarāyo paribhogantarāyoti.
Tattha katamo adiṭṭhantarāyo?
Anodissa adassanena anabhisaṅkhataṁ koci antarāyaṁ karoti ‘kiṁ parassa dinnenā’ti, ayaṁ adiṭṭhantarāyo nāma.
Katamo uddissa katantarāyo?
Idhekaccaṁ puggalaṁ upadisitvā uddissa bhojanaṁ paṭiyattaṁ hoti, taṁ koci antarāyaṁ karoti, ayaṁ uddissa katantarāyo nāma.
Katamo upakkhaṭantarāyo?
Idha yaṁ kiñci upakkhaṭaṁ hoti appaṭiggahitaṁ, tattha koci antarāyaṁ karoti, ayaṁ upakkhaṭantarāyo nāma.
Katamo paribhogantarāyo?
Idha yaṁ kiñci paribhogaṁ, tattha koci antarāyaṁ karoti, ayaṁ paribhogantarāyo nāma.
Ime kho, mahārāja, cattāro antarāyā.
Yaṁ pana māro pāpimā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi, taṁ neva bhagavato paribhogaṁ na upakkhaṭaṁ na uddissakataṁ, anāgataṁ asampattaṁ adassanena antarāyaṁ kataṁ, taṁ pana nekassa bhagavatoyeva, atha kho ye te tena samayena nikkhantā abbhāgatā, sabbepi te taṁ divasaṁ bhojanaṁ na labhiṁsu, nāhaṁ taṁ, mahārāja, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yo tassa bhagavato uddissa kataṁ upakkhaṭaṁ paribhogaṁ antarāyaṁ kareyya.
Sace koci issāya uddissa kataṁ upakkhaṭaṁ paribhogaṁ antarāyaṁ kareyya, phaleyya tassa muddhā satadhā vā sahassadhā vā.
Cattārome, mahārāja, tathāgatassa kenaci anāvaraṇīyā guṇā.
Katame cattāro?
Lābho, mahārāja, bhagavato uddissa kato upakkhaṭo na sakkā kenaci antarāyaṁ kātuṁ;
sarīrānugatā, mahārāja, bhagavato byāmappabhā na sakkā kenaci antarāyaṁ kātuṁ;
sabbaññutaṁ, mahārāja, bhagavato ñāṇaratanaṁ na sakkā kenaci antarāyaṁ kātuṁ;
jīvitaṁ, mahārāja, bhagavato na sakkā kenaci antarāyaṁ kātuṁ.
Ime kho, mahārāja, cattāro tathāgatassa kenaci anāvaraṇīyā guṇā, sabbepete, mahārāja, guṇā ekarasā arogā akuppā aparūpakkamā aphusāni kiriyāni.
Adassanena, mahārāja, māro pāpimā nilīyitvā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi.
Yathā, mahārāja, rañño paccante dese visame adassanena nilīyitvā corā panthaṁ dūsenti.
Yadi pana rājā te core passeyya, api nu kho te corā sotthiṁ labheyyun”ti?
“Na hi, bhante, pharasunā phālāpeyya satadhā vā sahassadhā vā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, adassanena māro pāpimā nilīyitvā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi.
Yathā vā pana, mahārāja, itthī sapatikā adassanena nilīyitvā parapurisaṁ sevati;
evameva kho, mahārāja, adassanena māro pāpimā nilīyitvā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi.
Yadi, mahārāja, itthī sāmikassa sammukhā parapurisaṁ sevati, api nu kho sā itthī sotthiṁ labheyyā”ti?
“Na hi, bhante, haneyyāpi taṁ, bhante, sāmiko vadheyyāpi bandheyyāpi dāsittaṁ vā upaneyyā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, adassanena māro pāpimā nilīyitvā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi.
Yadi, mahārāja, māro pāpimā bhagavato uddissa kataṁ upakkhaṭaṁ paribhogaṁ antarāyaṁ kareyya, phaleyya tassa muddhā satadhā vā sahassadhā vā”ti.
“Evametaṁ, bhante nāgasena, corikāya kataṁ mārena pāpimatā, nilīyitvā māro pāpimā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi.
Sace so, bhante, māro pāpimā bhagavato uddissa kataṁ upakkhaṭaṁ paribhogaṁ antarāyaṁ kareyya, muddhā vāssa phaleyya satadhā vā sahassadhā vā, kāyo vāssa bhusamuṭṭhi viya vikireyya.
Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Buddhalābhantarāyapañho pañcamo.
PTS cs 20 ‘Venerable Nāgasena, your people say thus: “The Tathāgata was in the constant receipt of the things necessary for a recluse-robes, food, lodging, and the requisites for the sick.” And again they say: “When the Tathāgata entered the Brahman village called the Five Sāla trees he received nothing, and had to return with his bowl as clean as before.” If the first passage is true the second is false, and if the second passage is true PTS vp Pali 155 The first is false. This too is a double-headed problem, a mighty crux hard to unravel. It is now put to you. It is for you to solve it.’
PTS cs 21 ‘Both statements are true, but when he received nothing that day, that was the work of Māra, the evil one.’
‘Then, Nāgasena, how was it that the merit laid up by the Blessed One through countless aeons of time came to end that day? How was it that Māra, who had only just been produced, could overcome the strength and influence of that merit? In that case, Nāgasena, the blame must fall in one of two PTS vp En 220 ways—either demerit must be more powerful than merit, or the power of Māra be greater than that of the Buddha. The root of the tree must be heavier than the top of it, or the sinner stronger than he who has heaped up virtue.’
PTS cs 22 ‘Great king, that is not enough to prove either the one or the other of your alternatives. Still a reason is certainly desirable in this matter.
Suppose, O king, a man were to bring a complimentary present to a king of kings—honey or honeycomb or something of that kind. And the king’s doorkeeper were to say to him: “This is the wrong time for visiting the king. So, my good fellow, take your present as quickly as ever you can, and go back before the king inflicts a fine upon you.” And then that man, in dread and awe, should pick up his present, and return in great haste. Now would the king of kings, merely from the fact that the man brought his gift at the wrong time, be less powerful than the doorkeeper, or never receive a complimentary present any more?’
‘No, Sir. The doorkeeper turned back the giver of that present out of the surliness of his nature, and one a hundred thousand times as valuable PTS vp Pali 156 might be brought in by some other device.’
‘Just so, O king, it was out of the jealousy of his nature that Māra, the evil one, possessed the Brahmans and householders at the Five Sāla trees. And hundreds of thousands of other deities came up to offer the Buddha the strength-giving ambrosia from heaven, and stood reverencing him with clasped hands and thinking to themselves that they would thus imbue him with vigour.’
PTS cs 23 ‘That may be so, Nāgasena. The Blessed PTS vp En 221 One found it easy to get the four requisites of a recluse—he, the best in the world—and at the request of gods and men he enjoyed all the requisites. But still Māra’s intention to stop the supply of food to the Blessed One was so far carried out. Herein, Sir, my doubt is not removed. I am still in perplexity and hesitation about this. My mind is not clear how the Tathāgata, the Arahat, the supreme Buddha, the best of all the best in the world of gods and men, he who had so glorious a treasure of the merit of virtue, the unequalled one, unrivalled and peerless—how so vile, mean, insignificant, sinful, and ignoble a being as Māra could put any obstacle in the way of gifts to Him.’
PTS cs 24 ‘There are four kinds, O king, of obstacles—the obstacle to a gift not intended for any particular person, to a gift set apart for some one, to the gift got ready, and to the enjoyment of a gift. And the first is when any one puts an obstacle in the way of the actual gift of a thing put ready to be given away, but not with a view to or having seen any particular donee—an obstacle raised, for instance, by saying: “What is the good of giving it away to any one else?” the second is when any one puts an obstacle in the way of the actual gift of food intended to be prepared to be given to a person specified. The third is when any one puts an obstacle in the way when such a gift has been got ready, but not yet accepted. And the fourth is when any one puts an obstacle in the way of the enjoyment of a gift already given (and so the property of the donee).’
PTS cs 25 ‘Now when Māra, the evil one, possessed the PTS vp En 222 Brahmans and householders at the Five Sāla trees, the food in that case was neither the property of, nor got ready for, nor intended to be prepared specially for the Blessed One. PTS vp Pali 157 The obstacle was put in the way of some one who was yet to come, who had not arrived, and for whom no gift was intended. That was not against the Blessed One alone. But all who had gone out that day, and were coming to the village, failed to receive an alms. I know no one, O king, in the world of men and gods, no one among Māras or Brahmas, no one of the class of Brahmans or recluses, who could put any obstacle in the way of an alms intended for, or got ready for, or already given to the Blessed One. And if any one, out of jealousy, were to raise up any obstacle in that case, then would his head split into a hundred or into a thousand pieces.’
PTS cs 26 ‘There are four things, O king, connected with the Tathāgatas, to which no one can do any harm. And what are the four? To the alms intended for, and got ready for the Blessed One—to the halo of a fathom’s length when it has once spread out from him-to the treasure of the knowledge of his omniscience—and to his life. All these things, O king, are one in essence—they are free from defect, immovable, unassailable by other beings, unchangeable by other circumstances. And Māra, the evil one, lay in ambush, out of sight, when he possessed the Brahmans and householders at the Five Sāla trees. It was as when robbers, O king, PTS vp En 223 hiding out of sight in the inaccessible country over the border, beset the highways. But if the king caught sight of them, do you think those robbers would be safe?’
‘No, Sir, he might have them cut into a hundred or a thousand pieces with an axe.’
‘Well, just so it was, hiding out of sight, that Māra possessed them. It was as when a married woman, in ambush, and out of sight, frequents the company of her paramour. PTS vp Pali 158 But if, O king, she were to carry on her intrigues in her husband’s presence, do you think she would be safe?’
‘No, Sir, he might slay her, or wound her, or put her in bonds, or reduce her to slavery.’
‘Well. It was like that, hiding out of sight, that Māra possessed them. But if, O king, he had raised any obstacle in the case of an alms intended for, got ready for, or in possession of the Blessed One, then his head would have split into a hundred or a thousand pieces.’
‘That is so, Nāgasena. Māra, the evil one, acted after the manner of robbers, he lay in ambush, possessing the Brahmans and householders of the Five Sāla trees. But if the same Māra, the evil one, had interfered with any alms intended for, or made ready for the Blessed One, or with his partaking thereof, then would his head have been split into a hundred or a thousand pieces, or his bodily frame have been dissipated like a handful of chaff.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma as to Māra’s interference with alms.]
TRONG VIỆC THỌ NHẬN CỦA ĐỨC THẾ TÔN
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Đức Thế Tôn có được sự thọ nhận về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ nằm ngồi, và thuốc chữa bệnh.’ Và thêm nữa, ‘Đức Thế Tôn sau khi đi vào khất thực ở ngôi làng Bà-la-môn Pañcasālā đã không nhận được bất cứ vật gì, rồi đã trở ra với bình bát đã được rửa sạch như thế.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn có được sự thọ nhận về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ nằm ngồi, và thuốc chữa bệnh, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn sau khi đi vào khất thực ở ngôi làng Bà-la-môn Pañcasālā, đã không nhận được bất cứ vật gì, rồi đã trở ra với bình bát đã được rửa sạch như thế’ là sai trái. Nếu đức Thế Tôn sau khi đi vào khất thực ở ngôi làng Bà-la-môn Pañcasālā, đã không nhận được bất cứ vật gì, rồi đã trở ra với bình bát đã được rửa sạch như thế, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Thế Tôn có được sự thọ nhận về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ nằm ngồi, và thuốc chữa bệnh’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, vô cùng quan trọng, khó tháo gỡ, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, đức Thế Tôn có được sự thọ nhận về các vật dụng là y phục, vật thực, chỗ nằm ngồi, và thuốc chữa bệnh. Ngài sau khi đi vào khất thực ở ngôi làng Bà-la-môn Pañcasālā đã không nhận được bất cứ vật gì, rồi đã trở ra với bình bát đã được rửa sạch như thế. Tuy nhiên việc làm ấy có lý do là bởi Ma Vương ác độc.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì thiện pháp của đức Thế Tôn, được tạo lập theo cách thức tính toán bằng kiếp sống đã trải qua, đã được hoàn tất như thế nào? Sự triển khai về tốc độ và năng lực của thiện pháp ấy đã bị Ma Vương ác độc, kẻ mới xuất hiện vào lúc này, đóng lại như thế nào? Thưa ngài Nāgasena, như thế thì trong việc này sự chỉ trích tiếp cận dựa trên hai cơ sở: Bất thiện pháp có sức mạnh hơn cả thiện pháp, năng lực của Ma Vương có sức mạnh hơn cả năng lực của đức Phật. Vì lý do gì mà cây cối lại có ngọn mang nặng hơn cả rễ? Và điều ác lại có sức mạnh hơn cả đức hạnh đã được tích tụ?”
BJT 3“Tâu đại vương, đương nhiên chỉ với chừng ấy thì không thể nói là bất thiện pháp có sức mạnh hơn cả thiện pháp, năng lực của Ma Vương có sức mạnh hơn cả năng lực của đức Phật. Vậy thì lý do ở trường hợp này là được mong mỏi. Tâu đại vương, giống như có người đàn ông đem mật ong, hoặc bánh mật ong, hoặc tặng phẩm dâng lên đức Chuyển Luân Vương, người gác cổng của đức vua nói với người ấy như vầy: ‘Này ông, nay không phải là thời điểm để diện kiến đức vua. Này ông, như thế thì ông hãy cầm lấy tặng phẩm của ông và mau mau đi trở lui. Chớ để đức vua giáng hình phạt đến ông.’ Do đó, người đàn ông ấy bị run rẩy, bị chấn động do nỗi sợ hãi về hình phạt, liền cầm lấy tặng phẩm ấy và mau mau đi trở lui. Tâu đại vương, phải chăng chỉ với từng ấy sự việc không đúng thời điểm của tặng phẩm mà gọi là đức Chuyển Luân ấy có năng lực kém hơn người gác cổng, hay là đức Chuyển Luân còn có thể nhận bất cứ tặng phẩm nào khác nữa?”
BJT 4“Thưa ngài, không đúng. Do bản chất ganh ghét mà người gác cổng ấy ngăn chặn tặng phẩm. Tuy nhiên tặng phẩm của đức vua, thậm chí có phẩm chất cả trăm ngàn lần, đi đến bằng cánh cửa khác.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế do bản chất ganh ghét mà Ma Vương ác độc đã nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Trái lại, hàng trăm ngàn Thiên nhân mang theo thuốc bất tử, là dưỡng chất của cõi trời, đến gần lễ bái đức Thế Tôn rồi đứng chắp tay (thưa rằng): ‘Chúng tôi sẽ đặt dưỡng chất vào cơ thể của đức Thế Tôn.’”
“Thưa ngài Nāgasena, hãy là vậy. Đối với đức Thế Tôn, bậc Tối Thượng Nhân ở thế gian, bốn món vật dụng là dễ dàng nhận được, chừng ấy thức ăn được thọ nhận theo như ước muốn. Được thỉnh cầu bởi chư Thiên và nhân loại mà đức Thế Tôn thọ dụng bốn món vật dụng. Tuy nhiên, ý định của Ma Vương có sự thành tựu liền tức thời, là việc Ma Vương đã tạo ra sự chướng ngại về vật thực đến đức Thế Tôn. Thưa ngài, trong việc này nỗi hoài nghi của trẫm không được cắt đứt. Trẫm bị sanh khởi nỗi phân vân, bị rơi vào sự nghi ngờ. Về việc ấy, tâm ý của trẫm không chấp nhận việc Ma Vương, là thây ma, hèn hạ, nhỏ nhoi, độc ác, không cao thượng, tội lỗi, đã tạo ra sự chướng ngại trong việc thọ nhận của đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, nhân vật cao quý tối cao ở thế gian có cả chư Thiên, cội nguồn của những phước báu cao quý về thiện pháp, không ai sánh bằng, không kẻ tương đương, không người tương xứng.”
BJT 5“Tâu đại vương, quả là có bốn sự chướng ngại: Chướng ngại do chưa được nhìn thấy, chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng. Ở đây chướng ngại do chưa được nhìn thấy nghĩa là khi vật được làm xong còn chưa chỉ định (người nhận) do việc chưa nhìn thấy thì có người nào đó tạo ra sự chướng ngại rằng: ‘Có điều gì với việc cho đến người khác?’ Đây gọi là chướng ngại do chưa được nhìn thấy. Chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận) là thế nào? Ở đây, vật thực là được chuẩn bị dành cho, được chỉ định cho một cá nhân, rồi có người nào đó tạo ra sự chướng ngại cho người ấy. Đây gọi là chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận). Chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong là thế nào? Ở đây, bất cứ vật gì đã được chuẩn bị xong còn chưa được thọ nhận. Tại nơi ấy, có người nào đó tạo ra sự chướng ngại. Đây gọi là chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong. Chướng ngại về sự thọ dụng là thế nào? Ở đây là bất kỳ sự thọ dụng nào, tại nơi ấy có người nào đó tạo ra sự chướng ngại. Đây gọi là chướng ngại về sự thọ dụng. Tâu đại vương, đây là bốn sự chướng ngại.
Hơn nữa, việc Ma Vương ác độc đã nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā là vật thọ dụng còn chưa thuộc về đức Thế Tôn, chưa được đem đến gần, chưa được chỉ định (người nhận), và Ngài còn chưa đi đến, chưa ngự đến; chướng ngại đã được tạo ra đối với Ngài là do việc chưa được nhìn thấy. Hơn nữa, việc ấy không phải chỉ riêng một mình đức Thế Tôn. Vào thời điểm ấy, thậm chí tất cả những người đã rời khỏi, đã đi đến vào ngày hôm ấy cũng đã không nhận được vật thực. Tâu đại vương, tôi không nhìn thấy người nào ở thế gian, tính luôn cõi chư Thiên, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, cho đến dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, có thể tạo ra chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng đối với đức Thế Tôn ấy được. Nếu có kẻ nào đó do ganh ghét rồi tạo ra chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng (đối với đức Thế Tôn) thì sẽ khiến cho đầu của kẻ ấy vỡ ra thành trăm mảnh hoặc ngàn mảnh.
BJT 6Tâu đại vương, đây là bốn đức tính không thể bị che lấp bởi bất cứ người nào của đức Như Lai. Bốn đức tính gì? Tâu đại vương, lợi lộc đã được chỉ định dành cho đức Thế Tôn, đã được chuẩn bị xong, thì không người nào có thể tạo ra chướng ngại cho Ngài. Tâu đại vương, ánh sáng hào quang của đức Thế Tôn là di chuyển dọc theo thân, không người nào có thể tạo ra chướng ngại. Tâu đại vương, bản thể Toàn Tri là vật báu trí tuệ của đức Thế Tôn, không người nào có thể tạo ra chướng ngại cho Ngài. Tâu đại vương, không người nào có thể tạo ra chướng ngại đến mạng sống của đức Thế Tôn. Tâu đại vương, đây là bốn đức tính không thể bị che lấp bởi bất cứ người nào của đức Như Lai. Tâu đại vương, tất cả các đức tính này chỉ có một phẩm chất, không bị bệnh, không bị chuyển dịch, không có sự sánh kịp bởi những người khác, là những sự việc không bị đụng chạm. Tâu đại vương, nhờ vào việc không nhìn thấy, Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Tâu đại vương, giống như ở các vùng biên địa không bằng phẳng của đức vua, nhờ vào việc không nhìn thấy, các kẻ cướp đã ẩn nấp rồi làm hư hỏng con đường. Tuy nhiên, nếu đức vua nhìn thấy các kẻ cướp ấy, phải chăng những kẻ cướp ấy có thể đạt được sự bình yên?”
“Thưa ngài, không đúng. Đức vua có thể ra lệnh phanh thây bằng búa thành trăm mảnh hay ngàn mảnh.”
BJT 7“Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhờ vào việc không nhìn thấy, Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Tâu đại vương, hoặc là giống như người đàn bà có chồng nhờ vào việc không nhìn thấy, ẩn núp rồi gần gũi người đàn ông khác. Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhờ vào việc không nhìn thấy, Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Tâu đại vương, nếu người đàn bà gần gũi người đàn ông khác trước mặt chồng, phải chăng người đàn bà ấy có thể đạt được sự bình yên?”
“Thưa ngài, không đúng. Thưa ngài, người chồng có thể giết chết, hành hạ, giam cầm cô ấy, hoặc đem đi làm nô lệ.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế nhờ vào việc không nhìn thấy, Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Tâu đại vương, nếu Ma Vương ác độc tạo ra chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng đối với đức Thế Tôn thì có thể khiến cho đầu của Ma Vương bị vỡ ra thành trăm mảnh hoặc ngàn mảnh.”
“Thưa ngài Nāgasena, Ma Vương ác độc đã làm điều ấy tương tợ như kẻ cướp. Ma Vương ác độc đã ẩn núp rồi nhập hồn vào gia chủ Bà-la-môn ở Pañcasālā. Thưa ngài, nếu Ma Vương ác độc tạo ra chướng ngại khi đã chỉ định (người nhận), chướng ngại khi đã được chuẩn bị xong, chướng ngại về sự thọ dụng đối với đức Thế Tôn thì có thể khiến cho đầu của Ma Vương bị vỡ ra thành trăm mảnh hoặc ngàn mảnh, hoặc thân thể của Ma Vương có thể tan tác như là nắm trấu.
Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự chướng ngại
trong việc thọ nhận của đức Thế Tôn là thứ năm.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘lābhī tathāgato cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānan’ti.
Puna ca tathāgato pañcasālaṁ brāhmaṇagāmaṁ piṇḍāya pavisitvā kiñcideva alabhitvā yathādhotena pattena nikkhantoti.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgato lābhī cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ, tena hi pañcasālaṁ brāhmaṇagāmaṁ piṇḍāya pavisitvā kiñcideva alabhitvā yathādhotena pattena nikkhantoti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi pañcasālaṁ brāhmaṇagāmaṁ piṇḍāya pavisitvā kiñcideva alabhitvā yathādhotena pattena nikkhanto, tena hi lābhī tathāgato cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānanti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho sumahanto dunnibbeṭho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Lābhī, mahārāja, tathāgato cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ, pañcasālañca brāhmaṇagāmaṁ piṇḍāya pavisitvā kiñcideva alabhitvā yathādhotena pattena nikkhanto, tañca pana mārassa pāpimato kāraṇā”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, bhagavato gaṇanapathaṁ vītivattakappe abhisaṅkhataṁ kusalaṁ kinti niṭṭhitaṁ, adhunuṭṭhitena mārena pāpimatā tassa kusalassa balavegaṁ kinti pihitaṁ;
tena hi, bhante nāgasena, tasmiṁ vatthusmiṁ dvīsu ṭhānesu upavādo āgacchati, kusalatopi akusalaṁ balavataraṁ hoti, buddhabalatopi mārabalaṁ balavataraṁ hotīti;
tena hi rukkhassa mūlatopi aggaṁ bhārataraṁ hoti, guṇasamparikiṇṇatopi pāpiyaṁ balavataraṁ hotī”ti.
“Na, mahārāja, tāvatakena kusalatopi akusalaṁ balavataraṁ nāma hoti, na buddhabalatopi mārabalaṁ balavataraṁ nāma hoti.
Api cettha kāraṇaṁ icchitabbaṁ.
Yathā, mahārāja, puriso rañño cakkavattissa madhuṁ vā madhupiṇḍikaṁ vā aññaṁ vā upāyanaṁ abhihareyya, tamenaṁ rañño dvārapālo evaṁ vadeyya ‘akālo, bho, ayaṁ rañño dassanāya, tena hi, bho, tava upāyanaṁ gahetvā sīghasīghaṁ paṭinivatta, pure tava rājā daṇḍaṁ dhāressatī’ti.
Tato so puriso daṇḍabhayā tasito ubbiggo taṁ upāyanaṁ ādāya sīghasīghaṁ paṭinivatteyya, api nu kho so, mahārāja, rājā cakkavattī tāvatakena upāyanavikalamattakena dvārapālato dubbalataro nāma hoti, aññaṁ vā pana kiñci upāyanaṁ na labheyyā”ti?
“Na hi, bhante, issāpakato so, bhante, dvārapālo upāyanaṁ nivāresi, aññena pana dvārena satasahassaguṇampi rañño upāyanaṁ upetī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, issāpakato māro pāpimā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi, aññāni pana anekāni devatāsatasahassāni amataṁ dibbaṁ ojaṁ gahetvā upagatāni ‘bhagavato kāye ojaṁ odahissāmā’ti bhagavantaṁ namassamānāni pañjalikāni ṭhitānī”ti.
“Hotu, bhante nāgasena, sulabhā bhagavato cattāro paccayā loke uttamapurisassa, yācitova bhagavā devamanussehi cattāro paccaye paribhuñjati, api ca kho pana mārassa yo adhippāyo, so tāvatakena siddho, yaṁ so bhagavato bhojanassa antarāyamakāsi.
Ettha me, bhante, kaṅkhā na chijjati, vimatijātohaṁ tattha saṁsayapakkhando.
Na me tattha mānasaṁ pakkhandati, yaṁ tathāgatassa arahato sammāsambuddhassa sadevake loke aggapuggalavarassa kusalavarapuññasambhavassa asamasamassa anupamassa appaṭisamassa chavakaṁ lāmakaṁ parittaṁ pāpaṁ anariyaṁ vipannaṁ māro lābhantarāyamakāsī”ti.
“Cattāro kho, mahārāja, antarāyā adiṭṭhantarāyo uddissa katantarāyo upakkhaṭantarāyo paribhogantarāyoti.
Tattha katamo adiṭṭhantarāyo?
Anodissa adassanena anabhisaṅkhataṁ koci antarāyaṁ karoti ‘kiṁ parassa dinnenā’ti, ayaṁ adiṭṭhantarāyo nāma.
Katamo uddissa katantarāyo?
Idhekaccaṁ puggalaṁ upadisitvā uddissa bhojanaṁ paṭiyattaṁ hoti, taṁ koci antarāyaṁ karoti, ayaṁ uddissa katantarāyo nāma.
Katamo upakkhaṭantarāyo?
Idha yaṁ kiñci upakkhaṭaṁ hoti appaṭiggahitaṁ, tattha koci antarāyaṁ karoti, ayaṁ upakkhaṭantarāyo nāma.
Katamo paribhogantarāyo?
Idha yaṁ kiñci paribhogaṁ, tattha koci antarāyaṁ karoti, ayaṁ paribhogantarāyo nāma.
Ime kho, mahārāja, cattāro antarāyā.
Yaṁ pana māro pāpimā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi, taṁ neva bhagavato paribhogaṁ na upakkhaṭaṁ na uddissakataṁ, anāgataṁ asampattaṁ adassanena antarāyaṁ kataṁ, taṁ pana nekassa bhagavatoyeva, atha kho ye te tena samayena nikkhantā abbhāgatā, sabbepi te taṁ divasaṁ bhojanaṁ na labhiṁsu, nāhaṁ taṁ, mahārāja, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yo tassa bhagavato uddissa kataṁ upakkhaṭaṁ paribhogaṁ antarāyaṁ kareyya.
Sace koci issāya uddissa kataṁ upakkhaṭaṁ paribhogaṁ antarāyaṁ kareyya, phaleyya tassa muddhā satadhā vā sahassadhā vā.
Cattārome, mahārāja, tathāgatassa kenaci anāvaraṇīyā guṇā.
Katame cattāro?
Lābho, mahārāja, bhagavato uddissa kato upakkhaṭo na sakkā kenaci antarāyaṁ kātuṁ;
sarīrānugatā, mahārāja, bhagavato byāmappabhā na sakkā kenaci antarāyaṁ kātuṁ;
sabbaññutaṁ, mahārāja, bhagavato ñāṇaratanaṁ na sakkā kenaci antarāyaṁ kātuṁ;
jīvitaṁ, mahārāja, bhagavato na sakkā kenaci antarāyaṁ kātuṁ.
Ime kho, mahārāja, cattāro tathāgatassa kenaci anāvaraṇīyā guṇā, sabbepete, mahārāja, guṇā ekarasā arogā akuppā aparūpakkamā aphusāni kiriyāni.
Adassanena, mahārāja, māro pāpimā nilīyitvā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi.
Yathā, mahārāja, rañño paccante dese visame adassanena nilīyitvā corā panthaṁ dūsenti.
Yadi pana rājā te core passeyya, api nu kho te corā sotthiṁ labheyyun”ti?
“Na hi, bhante, pharasunā phālāpeyya satadhā vā sahassadhā vā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, adassanena māro pāpimā nilīyitvā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi.
Yathā vā pana, mahārāja, itthī sapatikā adassanena nilīyitvā parapurisaṁ sevati;
evameva kho, mahārāja, adassanena māro pāpimā nilīyitvā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi.
Yadi, mahārāja, itthī sāmikassa sammukhā parapurisaṁ sevati, api nu kho sā itthī sotthiṁ labheyyā”ti?
“Na hi, bhante, haneyyāpi taṁ, bhante, sāmiko vadheyyāpi bandheyyāpi dāsittaṁ vā upaneyyā”ti.
“Evameva kho, mahārāja, adassanena māro pāpimā nilīyitvā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi.
Yadi, mahārāja, māro pāpimā bhagavato uddissa kataṁ upakkhaṭaṁ paribhogaṁ antarāyaṁ kareyya, phaleyya tassa muddhā satadhā vā sahassadhā vā”ti.
“Evametaṁ, bhante nāgasena, corikāya kataṁ mārena pāpimatā, nilīyitvā māro pāpimā pañcasālake brāhmaṇagahapatike anvāvisi.
Sace so, bhante, māro pāpimā bhagavato uddissa kataṁ upakkhaṭaṁ paribhogaṁ antarāyaṁ kareyya, muddhā vāssa phaleyya satadhā vā sahassadhā vā, kāyo vāssa bhusamuṭṭhi viya vikireyya.
Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Buddhalābhantarāyapañho pañcamo.