BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Đức Như Lai có hội chúng không bị chia rẽ.’ Và còn có nói rằng: ‘Năm trăm tỳ khưu đã bị chia rẽ cùng một lúc bởi Devadatta.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai có hội chúng không bị chia rẽ, như thế thì lời nói rằng: ‘Năm trăm tỳ khưu đã bị chia rẽ cùng một lúc bởi Devadatta’ là sai trái. Nếu năm trăm tỳ khưu đã bị chia rẽ cùng một lúc bởi Devadatta, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Như Lai có hội chúng không bị chia rẽ’ là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài, là thâm sâu, khó tháo gỡ, bị thắt lại còn hơn nút thắt. Ở đây, nhóm người này là bị ngăn cản, bị bưng bít, bị che đậy, bị bao trùm. Xin ngài hãy phô bày năng lực trí tuệ của ngài về các lời nói của những người khác.”
BJT 2“Tâu đại vương, đức Như Lai có hội chúng không bị chia rẽ. Và năm trăm tỳ khưu đã bị chia rẽ cùng một lúc bởi Devadatta. Tuy nhiên, việc ấy là do năng lực của người chia rẽ. Khi người chia rẽ đang hiện hữu, tâu đại vương, không có việc không bị chia rẽ. Khi có người chia rẽ, mẹ cũng bị chia rẽ với con, con cũng bị chia rẽ với mẹ, cha cũng bị chia rẽ với con, con cũng bị chia rẽ với cha, anh em trai cũng bị chia rẽ với chị em gái, chị em gái cũng bị chia rẽ với anh em trai, bạn bè cũng bị chia rẽ với bạn bè, thậm chí con thuyền được kết hợp bởi nhiều thanh gỗ cũng bị chia rẽ bởi tốc độ và sự đập vỗ của sóng nước, cây cối có trái đầy đủ chất mật ngọt bị va chạm với sức mạnh và tốc độ của gió cũng bị chia rẽ, vàng có phẩm chất tự nhiên cũng bị chia rẽ bởi đồng.
BJT 3Tâu đại vương, vả lại việc này không phải là ý định của những người hiểu biết, không phải là khuynh hướng của chư Phật, điều này không phải là ước muốn của các bậc sáng suốt, là việc ‘Đức Như Lai có hội chúng bị chia rẽ.’ Hơn nữa, ở đây còn có lý do, mà với lý do ấy đức Như Lai được gọi là ‘có hội chúng không bị chia rẽ.’ Lý do ở đây là thế nào? Tâu đại vương, ‘hội chúng bị chia rẽ’ do sự không bố thí đã làm, hoặc do lời nói không trìu mến, hoặc do việc thực hành điều không lợi ích, hoặc do tính cách không bình đẳng của đức Như Lai trong lúc Ngài đang thực hành đức hạnh về bất cứ việc nào ở bất cứ nơi đâu là điều chưa từng được nghe trước đây. Bởi lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘có hội chúng không bị chia rẽ.’ Tâu đại vương, đại vương cũng nên biết điều này: Trong lời dạy của đức Phật gồm chín thể loại, có bài Kinh được truyền thừa nào gọi là với lý do này, (nghĩa là) với việc đã làm của Bồ Tát, mà hội chúng của đức Như Lai bị chia rẽ?”
“Thưa ngài, không có. Điều ấy không được thấy, cũng không được nghe ở thế gian. Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc hội chúng không bị chia rẽ là thứ tám.
Phẩm không bị chia rẽ là phẩm thứ nhì.
(Ở phẩm này có tám câu hỏi)
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘tathāgato abhejjapariso’ti, puna ca bhaṇatha—
‘devadattena ekappahāraṁ pañca bhikkhusatāni bhinnānī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgato abhejjapariso, tena hi devadattena ekappahāraṁ pañca bhikkhusatāni bhinnānīti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi devadattena ekappahāraṁ pañca bhikkhusatāni bhinnāni, tena hi ‘tathāgato abhejjapariso’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, gambhīro dunniveṭhiyo, gaṇṭhitopi gaṇṭhitaro, etthāyaṁ jano āvaṭo nivuto ovuto pihito pariyonaddho, ettha tava ñāṇabalaṁ dassehi paravādesū”ti.
“Abhejjapariso, mahārāja, tathāgato, devadattena ca ekappahāraṁ pañca bhikkhusatāni bhinnāni, tañca pana bhedakassa balena, bhedake vijjamāne natthi, mahārāja, abhejjaṁ nāma.
Bhedake sati mātāpi puttena bhijjati, puttopi mātarā bhijjati, pitāpi puttena bhijjati, puttopi pitarā bhijjati, bhātāpi bhaginiyā bhijjati, bhaginīpi bhātarā bhijjati, sahāyopi sahāyena bhijjati, nāvāpi nānādārusaṅghaṭitā ūmivegasampahārena bhijjati, rukkhopi madhukappasampannaphalo anilabalavegābhihato bhijjati, suvaṇṇampi jātimantaṁ lohena bhijjati.
Api ca, mahārāja, neso adhippāyo viññūnaṁ, nesā buddhānaṁ adhimutti, neso paṇḍitānaṁ chando ‘tathāgato bhejjapariso’ti.
Api cettha kāraṇaṁ atthi, yena kāraṇena tathāgato vuccati ‘abhejjapariso’ti.
Katamaṁ ettha kāraṇaṁ?
Tathāgatassa, mahārāja, katena adānena vā appiyavacanena vā anatthacariyāya vā asamānattatāya vā yato kutoci cariyaṁ carantassapi parisā bhinnāti na sutapubbaṁ, tena kāraṇena tathāgato vuccati ‘abhejjapariso’ti.
Tayāpetaṁ, mahārāja, ñātabbaṁ ‘atthi kiñci navaṅge buddhavacane suttāgataṁ, iminā nāma kāraṇena bodhisattassa katena tathāgatassa parisā bhinnā’”ti?
“Natthi, bhante, no cetaṁ loke dissati nopi suyyati.
Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Abhejjaparisapañho aṭṭhamo.
Abhejjavaggo dutiyo.
Imasmiṁ vagge aṭṭha pañhā.
PTS cs 31 ‘Venerable Nāgasena, your people say: “The Tathāgata is a person whose following can never be broken up.” And again they say: “At one stroke Devadatta seduced five hundred of the brethren.” If the first be true the second is false, but if the second be correct then the first is wrong. PTS vp Pali 161 This too is a double-pointed problem, profound, hard to unravel, more knotty than a knot. By it these people are veiled, obstructed, hindered, shut in, and enveloped. Herein show your skill as against the arguments of the adversaries.’
PTS cs 32 ‘Both statements, O king, are correct. But the latter is owing to the power of the breach maker. Where there is one to make the breach, a mother will be separated from her son, and the son will break with the mother, or the father with the son and the son with the father, or the brother from the sister and the sister from the brother, or friend from friend. A ship pieced together with timber of all sorts is broken up by the force of the violence of the waves, and a tree in full bearing and full of sap is broken down by the force of the violence of the wind, and gold of the finest sort is divided by PTS vp En 228 bronze. But it is not the intention of the wise, it is not the will of the Buddhas, it is not the desire of those who are learned that the following of the Tathāgata should be broken up. And there is a special sense in which it is said that that cannot be. It is an unheard-of thing, so far as I know, that his following could be broken up by anything done or taken, any unkindly word, any wrong action, any injustice, in all the conduct, wheresoever or whatsoever, of the Tathāgata himself. In that sense his following is invulnerable. And you yourself, do you know of any instance in all the ninefold word of the Buddha of anything done by a Bodisat which broke up the following of the Tathāgata?’
‘No, Sir. Such a thing has never been seen or heard in the world. It is very good, Nāgasena, what you say: and I accept it so.’
Here ends the dilemma as to schism.
Here ends the Second Chapter.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Đức Như Lai có hội chúng không bị chia rẽ.’ Và còn có nói rằng: ‘Năm trăm tỳ khưu đã bị chia rẽ cùng một lúc bởi Devadatta.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai có hội chúng không bị chia rẽ, như thế thì lời nói rằng: ‘Năm trăm tỳ khưu đã bị chia rẽ cùng một lúc bởi Devadatta’ là sai trái. Nếu năm trăm tỳ khưu đã bị chia rẽ cùng một lúc bởi Devadatta, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Như Lai có hội chúng không bị chia rẽ’ là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài, là thâm sâu, khó tháo gỡ, bị thắt lại còn hơn nút thắt. Ở đây, nhóm người này là bị ngăn cản, bị bưng bít, bị che đậy, bị bao trùm. Xin ngài hãy phô bày năng lực trí tuệ của ngài về các lời nói của những người khác.”
BJT 2“Tâu đại vương, đức Như Lai có hội chúng không bị chia rẽ. Và năm trăm tỳ khưu đã bị chia rẽ cùng một lúc bởi Devadatta. Tuy nhiên, việc ấy là do năng lực của người chia rẽ. Khi người chia rẽ đang hiện hữu, tâu đại vương, không có việc không bị chia rẽ. Khi có người chia rẽ, mẹ cũng bị chia rẽ với con, con cũng bị chia rẽ với mẹ, cha cũng bị chia rẽ với con, con cũng bị chia rẽ với cha, anh em trai cũng bị chia rẽ với chị em gái, chị em gái cũng bị chia rẽ với anh em trai, bạn bè cũng bị chia rẽ với bạn bè, thậm chí con thuyền được kết hợp bởi nhiều thanh gỗ cũng bị chia rẽ bởi tốc độ và sự đập vỗ của sóng nước, cây cối có trái đầy đủ chất mật ngọt bị va chạm với sức mạnh và tốc độ của gió cũng bị chia rẽ, vàng có phẩm chất tự nhiên cũng bị chia rẽ bởi đồng.
BJT 3Tâu đại vương, vả lại việc này không phải là ý định của những người hiểu biết, không phải là khuynh hướng của chư Phật, điều này không phải là ước muốn của các bậc sáng suốt, là việc ‘Đức Như Lai có hội chúng bị chia rẽ.’ Hơn nữa, ở đây còn có lý do, mà với lý do ấy đức Như Lai được gọi là ‘có hội chúng không bị chia rẽ.’ Lý do ở đây là thế nào? Tâu đại vương, ‘hội chúng bị chia rẽ’ do sự không bố thí đã làm, hoặc do lời nói không trìu mến, hoặc do việc thực hành điều không lợi ích, hoặc do tính cách không bình đẳng của đức Như Lai trong lúc Ngài đang thực hành đức hạnh về bất cứ việc nào ở bất cứ nơi đâu là điều chưa từng được nghe trước đây. Bởi lý do ấy, đức Như Lai được gọi là ‘có hội chúng không bị chia rẽ.’ Tâu đại vương, đại vương cũng nên biết điều này: Trong lời dạy của đức Phật gồm chín thể loại, có bài Kinh được truyền thừa nào gọi là với lý do này, (nghĩa là) với việc đã làm của Bồ Tát, mà hội chúng của đức Như Lai bị chia rẽ?”
“Thưa ngài, không có. Điều ấy không được thấy, cũng không được nghe ở thế gian. Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc hội chúng không bị chia rẽ là thứ tám.
Phẩm không bị chia rẽ là phẩm thứ nhì.
(Ở phẩm này có tám câu hỏi)
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘tathāgato abhejjapariso’ti, puna ca bhaṇatha—
‘devadattena ekappahāraṁ pañca bhikkhusatāni bhinnānī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgato abhejjapariso, tena hi devadattena ekappahāraṁ pañca bhikkhusatāni bhinnānīti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi devadattena ekappahāraṁ pañca bhikkhusatāni bhinnāni, tena hi ‘tathāgato abhejjapariso’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, gambhīro dunniveṭhiyo, gaṇṭhitopi gaṇṭhitaro, etthāyaṁ jano āvaṭo nivuto ovuto pihito pariyonaddho, ettha tava ñāṇabalaṁ dassehi paravādesū”ti.
“Abhejjapariso, mahārāja, tathāgato, devadattena ca ekappahāraṁ pañca bhikkhusatāni bhinnāni, tañca pana bhedakassa balena, bhedake vijjamāne natthi, mahārāja, abhejjaṁ nāma.
Bhedake sati mātāpi puttena bhijjati, puttopi mātarā bhijjati, pitāpi puttena bhijjati, puttopi pitarā bhijjati, bhātāpi bhaginiyā bhijjati, bhaginīpi bhātarā bhijjati, sahāyopi sahāyena bhijjati, nāvāpi nānādārusaṅghaṭitā ūmivegasampahārena bhijjati, rukkhopi madhukappasampannaphalo anilabalavegābhihato bhijjati, suvaṇṇampi jātimantaṁ lohena bhijjati.
Api ca, mahārāja, neso adhippāyo viññūnaṁ, nesā buddhānaṁ adhimutti, neso paṇḍitānaṁ chando ‘tathāgato bhejjapariso’ti.
Api cettha kāraṇaṁ atthi, yena kāraṇena tathāgato vuccati ‘abhejjapariso’ti.
Katamaṁ ettha kāraṇaṁ?
Tathāgatassa, mahārāja, katena adānena vā appiyavacanena vā anatthacariyāya vā asamānattatāya vā yato kutoci cariyaṁ carantassapi parisā bhinnāti na sutapubbaṁ, tena kāraṇena tathāgato vuccati ‘abhejjapariso’ti.
Tayāpetaṁ, mahārāja, ñātabbaṁ ‘atthi kiñci navaṅge buddhavacane suttāgataṁ, iminā nāma kāraṇena bodhisattassa katena tathāgatassa parisā bhinnā’”ti?
“Natthi, bhante, no cetaṁ loke dissati nopi suyyati.
Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Abhejjaparisapañho aṭṭhamo.
Abhejjavaggo dutiyo.
Imasmiṁ vagge aṭṭha pañhā.