BJT 1Khi ấy, đức vua Milinda đã đi đến gặp đại đức Nāgasena, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Nāgasena rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Milinda có sự mong muốn được biết, mong muốn được nghe, mong muốn ghi nhớ, mong muốn nhìn thấy ánh sáng của trí tuệ, mong muốn phá vỡ sự không biết, mong muốn làm sanh khởi ánh sáng của trí tuệ, mong muốn tiêu diệt bóng tối của vô minh, sau khi thiết lập sự can đảm vượt bậc, sự cố gắng, sự ghi nhớ, và sự nhận biết rõ rệt, rồi đã nói với đại đức Nāgasena điều này:
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, có phải đức Phật đã được ngài nhìn thấy?”
“Tâu đại vương, không có.”
“Có phải đức Phật đã được các vị thầy của ngài nhìn thấy?”
“Tâu đại vương, không có.”
“Thưa ngài Nāgasena, nghe nói đức Phật đã không được ngài nhìn thấy, cũng nghe nói đức Phật đã không được các vị thầy của ngài nhìn thấy. Thưa ngài Nāgasena, như thế thì không có đức Phật. Bởi vì ở đây đức Phật không được biết đến.”
“Tâu đại vương, vậy thì những vị tổ tiên của dòng dõi Sát-đế-lỵ của đại vương, có các vị Sát-đế-lỵ tiền bối ấy không?”
“Thưa ngài, có. Có sự nghi ngờ gì? Có các vị Sát-đế-lỵ tiền bối, họ là tổ tiên của dòng dõi Sát-đế-lỵ của trẫm.”
“Tâu đại vương, có phải các vị Sát-đế-lỵ tiền bối đã được đại vương nhìn thấy?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, vậy thì các vị quân sư, tướng lãnh, quan tòa, quan đại thần đang cố vấn cho đại vương, có phải các vị Sát-đế-lỵ tiền bối đã được những người ấy nhìn thấy?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, nếu các vị Sát-đế-lỵ tiền bối đã không được đại vương nhìn thấy, nghe nói các vị Sát-đế-lỵ tiền bối cũng đã không được những vị cố vấn của đại vương nhìn thấy, vậy thì các vị Sát-đế-lỵ tiền bối ở đâu? Bởi vì ở đây các vị Sát-đế-lỵ tiền bối không được nhận biết.”
“Thưa ngài Nāgasena, những đồ dùng đã được các vị Sát-đế-lỵ tiền bối sử dụng được nhìn thấy như là: chiếc lọng màu trắng, khăn bịt đầu, đôi giày, quạt phất trần, viên ngọc ở thanh gươm, và các giường nằm vô cùng giá trị, nhờ chúng mà chúng tôi có thể biết được, có thể tin tưởng là: ‘Có các vị Sát-đế-lỵ tiền bối.’”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế chúng tôi cũng có thể biết được, có thể tin tưởng về đức Thế Tôn ấy. Có lý do mà với lý do ấy chúng tôi có thể biết được, có thể tin tưởng là: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’ Lý do ấy là điều nào? Tâu đại vương, quả là có những đồ dùng đã được đức Thế Tôn ấy, vị biết, vị thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác sử dụng, như là: Bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh tinh tấn, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy chi phần đưa đến giác ngộ, Thánh Đạo tám chi phần, nhờ chúng mà thế gian luôn cả chư Thiên biết được, tin tưởng là: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’ Tâu đại vương, với lý do này, với nguyên nhân này, với phương pháp này, với sự suy luận này mà có thể biết được rằng: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’
‘Sau khi đã giúp cho nhiều người vượt qua, Ngài đã tịch diệt ở sự đoạn tận mầm mống tái sanh. Nhờ vào sự suy luận, có thể biết được rằng: ‘Có bậc Tối Thượng Nhân ấy.’”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như nhà kiến trúc đô thị có ý định xây dựng thành phố thì trước tiên hết xem qua khoảnh đất bằng phẳng, không bị nhô lên không bị lõm xuống, không sạn sỏi và đá tảng, không nguy hiểm, không bị chê trách, đáng được yêu thích, rồi chỗ nào không bằng phẳng thì cho san bằng chỗ ấy, cho dọn sạch gốc cây và gai góc, rồi tại chỗ ấy xây dựng thành phố lộng lẫy, được phân chia thành từng phần, đã được đo đạc, có đường hào đã được đào lên và thành lũy, có tháp canh và cổng thành vững chắc, có đường băng ngang, ngã tư, giao lộ, bồn binh rộng lớn, có đường lộ chính sạch sẽ và có bề mặt bằng phẳng, có cửa tiệm khéo được bố trí bên trong, được đầy đủ với các khu vườn, công viên, hồ ao, đầm sen, giếng nước, được tô điểm với nhiều loại điện thờ chư Thiên, toàn bộ đều không có khuyết điểm. Khi thành phố ấy đã đạt đến sự phát triển về mọi mặt, người ấy có thể đi đến khu vực khác. Rồi thời gian sau đó, thành phố ấy trở nên thịnh vượng, giàu có, vật thực dễ dàng, an toàn, được phát đạt, thắng lợi, không có rủi ro, không có bất hạnh, đông đảo với nhiều hạng người, các Sát-đế-lỵ có tầm cỡ, các Bà-la-môn, các thương buôn, các nô lệ, các quản tượng, các kỵ sĩ, các người đánh xe, các khách bộ hành, các cung thủ, các kiếm sĩ, các hiệp sĩ, các quân nhân, các nhà cung cấp vật thực, các hoàng tử dũng mãnh, các cảm tử quân, các yếu nhân, các vị anh hùng, các chiến sĩ mặc áo giáp, các người con của kẻ nô bộc, các người con của kẻ làm thuê, các toán đấu vật, các người nấu ăn, các đầu bếp, các thợ cạo, các người hầu tắm, các thợ rèn, các người làm tràng hoa, các thợ vàng, các thợ bạc, các thợ chì, các thợ thiếc, các thợ đồng, các thợ hợp kim, các thợ sắt, các thợ ngọc ma-ni, các thợ dệt, các thợ gốm, các người làm muối, các thợ thuộc da, các thợ làm xe, các thợ làm ngà, các thợ làm dây, các thợ làm lược, các thợ quay tơ, các thợ đan giỏ, các thợ làm cung, các thợ làm dây cung, các thợ làm tên, các thợ vẽ tranh, các thợ làm màu, các thợ nhuộm, các thợ dệt vải, các thợ may, các thợ phân kim, các người buôn vải, các người buôn hương liệu, các người cắt cỏ, các người nhặt củi, các người làm thuê, các người bán rau, các người bán trái cây, các người bán rễ cây, các người bán cơm, các người bán bánh, các người bán cá, các người bán thịt, các người bán rượu, các kịch sĩ, các vũ công, các người múa rối, các ảo thuật gia, các nhạc công, các người đấu vật, các người thiêu xác,—
—các người đổ rác hoa, các thợ làm tre, các thợ săn, các kỹ nữ, các vũ nữ, các tớ gái đội nước, các người ở Saka, ở Yavana, ở Cīna, ở Vilāta, ở Ujjenī, ở Bhārukaccha, ở Kāsi, ở Kosala, ở Paranta, ở Magadha, ở Sāketa, ở Soraṭṭha, ở Pāvā, ở Koṭumbara, ở Madhura, ở Alasanda, ở Kasmīra, ở Gandhāra đã đi đến cư ngụ ở thành phố ấy, những người ở các địa phương khác nhau sau khi nhìn thấy thành phố ấy mới mẻ, khéo được bố trí, không khuyết điểm, không bị chê trách, đáng được yêu thích, bằng cách suy luận nhận biết rằng: ‘Này ông bạn, nhà kiến trúc đô thị xây dựng thành phố này quả là thành thạo.’
Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn ấy, là vị không ai sánh bằng, tương đương với bậc không thể sánh bằng, không người đối xứng, không kẻ tương đương, không người so sánh, không thể ước lượng, không thể đo lường, không thể định lượng, có đức hạnh vô lượng, đã đạt đết sự toàn hảo của đức hạnh, có sự can đảm vô biên, có sự vinh quang vô biên, có sự tinh tấn vô biên, có năng lực vô biên, đã đạt đến sự toàn hảo về Phật lực, sau khi đánh bại Ma Vương cùng với đạo binh, sau khi đã phá tung mạng lưới tà kiến, sau khi dẹp bỏ vô minh, sau khi làm cho minh sanh khởi, sau khi nắm giữ ngọn đuốc Chánh Pháp, sau khi đạt được bản thể Toàn Tri, với trận chiến không bị khuất phục, đã được chiến thắng, Ngài đã xây dựng thành phố Giáo Pháp.
Tâu đại vương, thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn có thành lũy là giới, có đường hào là sự hổ thẹn tội lỗi, có cổng thành là trí, có tháp canh là sự tinh tấn, có trụ chống là đức tin, có người gác cổng là niệm, có tòa lâu đài là tuệ, có đường băng ngang là Kinh, có bồn binh là Vi Diệu Pháp, có tòa án là Luật, có đường phố là sự thiết lập niệm. Tâu đại vương, hơn nữa ở đường phố về sự thiết lập niệm của thành phố ấy, có các cửa tiệm với hình thức như vầy khéo là được chưng bày, như là: cửa tiệm bông hoa, cửa tiệm hương liệu, cửa tiệm trái cây, cửa tiệm thuốc giải độc, cửa tiệm thuốc chữa bệnh, cửa tiệm thuốc bất tử, cửa tiệm châu báu, cửa tiệm tổng hợp.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm bông hoa của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, có các sự phân loại về đối tượng (tham thiền) đã được đức Thế Tôn ấy, vị biết, vị thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, nói đến như là: tưởng về vô thường, tưởng về khổ não, tưởng về vô ngã, tưởng về bất mỹ, tưởng về điều bất lợi, tưởng về sự dứt bỏ, tưởng về ly luyến ái, tưởng về sự tịch diệt, tưởng về sự không hứng thú với mọi thứ ở thế gian, tưởng về vô thường trong tất cả các sự tạo tác, niệm hơi thở vào ra, tưởng về tử thi bị trương sình, tưởng về tử thi có màu xanh xám, tưởng về tử thi bắt đầu thối rữa, tưởng về tử thi bị thủng nhiều lỗ, tưởng về tử thi bị thú ăn, tưởng về tử thi bị vung vãi, tưởng về tử thi bị hủy hoại và vung vãi, tưởng về tử thi bị đẫm máu, tưởng về tử thi bị giòi bọ rút rỉa, tưởng về bộ xương, tưởng về tâm từ, tưởng về tâm bi, tưởng về tâm hỷ, tưởng về tâm xả, niệm về sự chết, niệm được đặt ở thân. Tâu đại vương, các sự phân loại về đối tượng (tham thiền) này đã được đức Phật Thế Tôn nói đến.
Ở nơi ấy, người nào có ước muốn được thoát khỏi sự già và sự chết, người ấy nắm giữ một đối tượng nào đó trong số đó, rồi nhờ vào đối tượng ấy được thoát khỏi luyến ái, được thoát khỏi sân, được thoát khỏi si, được thoát khỏi ngã mạn, được thoát khỏi (tà) kiến, vượt qua luân hồi, ngăn chặn dòng chảy tham ái, làm trong sạch ba loại vết bẩn, sau khi hủy diệt tất cả phiền não, sau khi đi vào thành phố tối thượng là thành phố Niết Bàn, không vết nhơ, hết bụi bặm, trong sạch, tinh khiết, không sanh, không già, không chết, an lạc, có trạng thái mát lạnh, không có nỗi sợ hãi, rồi làm cho tâm được giải thoát ở phẩm vị A-la-hán. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm bông hoa của đức Thế Tôn.’
‘Sau khi nắm lấy tiền vốn là nghiệp (thiện),hãy đi đến cửa tiệm, hãy mua lấy đối tượng, từ đó hãy được tự do ở sự giải thoát.’”
BJT 5“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm hương liệu của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, có các sự phân loại về giới đã được đức Thế Tôn ấy nói đến. Được thoa bởi hương thơm của giới ấy, các người con trai của đức Thế Tôn tỏa hơi, tràn ngập thế gian luôn cả chư Thiên bằng hương thơm của giới, rồi thổi đến, bao trùm hướng chính, hướng phụ, gió thuận chiều, gió nghịch chiều, sau khi tỏa khắp thì lắng đọng lại. Các sự phân loại về giới ấy là các cái nào? Là giới của sự nương nhờ (tam quy), năm giới, tám điều giới, mười điều giới, giới của sự thu thúc theo giới bổn Pātimokkha được bao gồm ở năm phần đọc tụng. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm hương liệu của đức Thế Tôn.’ Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến:
‘Hương thơm của bông hoa không bay ngược chiều gió,
(hương thơm của) gỗ trầm, gỗ tagara, hoặc hoa nhài cũng không.
Còn hương thơm của những người tốt bay ngược chiều gió,
bậc thiện nhân tỏa hương (thơm giới hạnh) khắp mọi phương.
Gỗ trầm, gỗ tagara, hoặc ngay cả hoa sen và hoa nhài, trong số các loại có hương thơm này, hương thơm của giới là vô thượng.
Hương thơm này của gỗ tagara hay gỗ trầm là nhỏ nhoi, còn hương thơm của những người có giới hạnh thổi giữa chư Thiên là tối thượng.’”
BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm trái cây của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, các loại quả đã được đức Thế Tôn ấy nói đến như là: Quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, quả vị A-la-hán, sự thể nhập quả vị không tánh, sự thể nhập quả vị vô tướng, sự thể nhập quả vị vô nguyện. Ở nơi ấy, người nào ước muốn quả vị nào, người ấy sau khi trao ra tiền vốn là nghiệp (thiện) rồi mua lấy quả vị đã được mong mỏi, nếu là quả vị Nhập Lưu, hay quả vị Nhất Lai, hay quả vị Bất Lai, hay quả vị A-la-hán, hay sự thể nhập quả vị không tánh, hay sự thể nhập quả vị vô tướng, hay sự thể nhập quả vị vô nguyện.
Tâu đại vương, giống như cây xoài của người đàn ông nào đó là có trái thường xuyên. Cho đến khi nào người mua chưa đi đến, thì người ấy còn chưa làm cho các trái từ trên cây rơi xuống. Trái lại, khi người mua đã đến thì người ấy nhận tiền vốn ở người mua rồi bảo như vầy: ‘Này ông, cây xoài này quả là có trái thường xuyên, ông muốn chừng nào ở cây ấy thì hãy lấy chừng ấy, hoặc còn sống, hoặc còn non, hoặc còn lông tơ, hoặc chưa chín, hoặc đã chín.’ Người ấy, với số tiền vốn đã được trao ra ấy của mình, nếu muốn trái còn sống thì lấy trái còn sống, nếu muốn trái còn non thì lấy trái còn non, nếu muốn trái còn lông tơ thì lấy trái còn lông tơ, nếu muốn trái chưa chín thì lấy trái chưa chín, nếu muốn trái chín thì lấy trái chín. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào ước muốn quả vị nào, thì sau khi trao ra tiền vốn là nghiệp (thiện), người ấy nhận lấy quả vị đã được mong mỏi, nếu là quả vị Nhập Lưu … (như trên) … hay sự thể nhập quả vị vô nguyện. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm trái cây của đức Thế Tôn.’
‘Sau khi trao ra tiền vốn là nghiệp (thiện), rồi cầm lấy trái cây bất tử, những người nào mua trái cây bất tử, do việc ấy những người ấy được an lạc.’”
BJT 7“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm thuốc giải độc của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, các thuốc giải độc đã được đức Thế Tôn nói đến, với các thuốc giải độc này đức Thế Tôn ấy giúp cho thế gian luôn cả chư Thiên thoát khỏi thuốc độc phiền não. Vậy thì các thuốc giải độc ấy là các loại nào? Tâu đại vương, bốn Chân Lý Cao Thượng này đã được đức Thế Tôn nói đến, như là: Chân Lý Cao Thượng về sự Khổ, Chân Lý Cao Thượng về nguyên nhân của Khổ, Chân Lý Cao Thượng về sự diệt Khổ, Chân Lý Cao Thượng về sự thực hành theo con đường đưa đến sự diệt Khổ. Tại nơi ấy, những người nào mong muốn trí tuệ lắng nghe Giáo Pháp về bốn Chân Lý, những người ấy được giải thoát khỏi sự sanh, được giải thoát khỏi sự già, được giải thoát khỏi sự chết, được giải thoát khỏi các sầu, bi, khổ, ưu, não. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm thuốc giải độc của đức Thế Tôn.’
‘Bất cứ các thuốc giải độc nào ở thế gian đều là những vật đẩy lùi các chất độc, không có loại nào sánh bằng thuốc giải độc là Giáo Pháp, này các tỳ khưu, các ngươi hãy uống loại này.’”
BJT 8“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm thuốc chữa bệnh của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, các thuốc chữa bệnh đã được đức Thế Tôn nói đến, với các thuốc chữa bệnh này đức Thế Tôn ấy chữa bệnh cho chư Thiên và nhân loại, như là: Bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh tinh tấn, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy chi phần đưa đến giác ngộ, Thánh Đạo tám chi phần. Với những thuốc chữa bệnh này đức Thế Tôn tẩy sạch tà kiến, tẩy sạch tà tư duy, tẩy sạch tà ngữ, tẩy sạch tà nghiệp, tẩy sạch tà mạng, tẩy sạch tà tinh tấn, tẩy sạch tà niệm, tẩy sạch tà định, làm cho ói ra tham, làm cho ói ra sân, làm cho ói ra si, làm cho ói ra ngã mạn, làm cho ói ra tà kiến, làm cho ói ra hoài nghi, làm cho ói ra phóng dật, làm cho ói ra sự dã dượi buồn ngủ, làm cho ói ra sự không hổ thẹn và không ghê sợ (tội lỗi), làm cho ói ra tất cả phiền não. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm thuốc chữa bệnh của đức Thế Tôn.’
‘Bất cứ các thuốc chữa bệnh nào được tìm thấy ở thế gian là đa dạng và có nhiều, không có loại nào sánh bằng thuốc chữa bệnh là Giáo Pháp, này các tỳ khưu, các ngươi hãy uống loại này.
Sau khi uống vào thuốc chữa bệnh là Giáo Pháp, thì có thể trở thành không già không chết. Sau khi tu tập và sau khi nhìn thấy, thì được tịch diệt ở sự đoạn tận mầm mống tái sanh.’”
BJT 9“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm thuốc bất tử của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, thuốc bất tử đã được đức Thế Tôn nói đến, với thuốc bất tử này đức Thế Tôn ấy rưới rắc cho thế gian luôn cả chư Thiên, do đã được rưới rắc với thuốc bất tử này, chư Thiên và nhân loại đã được giải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Thuốc bất tử ấy là cái nào? Tức là niệm đặt ở thân. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến: ‘Này các tỳ khưu, những người nào thọ hưởng niệm đặt ở thân, những người ấy thọ hưởng sự bất tử.’ Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm bất tử của đức Thế Tôn.’
‘Sau khi nhìn thấy loài người bị bệnh, Ngài đã bày ra cửa hàng thuốc bất tử. Này các tỳ khưu, các người hãy mua vật ấy bằng nghiệp (thiện) và hãy nhận lấy thuốc bất tử.’”
BJT 10“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm châu báu của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, các châu báu đã được đức Thế Tôn nói đến. Được trang điểm với các châu báu này, những người con trai của đức Thế Tôn chiếu sáng, soi sáng, tỏa sáng, rực sáng, phát sáng ở thế gian luôn cả chư Thiên, phô bày ánh sáng ở hướng trên, ở hướng dưới, ở hướng ngang. Các châu báu ấy là các loại nào? Giới báu, định báu, tuệ báu, giải thoát báu, trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát báu, các tuệ phân tích báu, các giác chi báu.
Tâu đại vương, giới báu của đức Thế Tôn là cái nào? Giới của sự thu thúc theo giới bổn Pātimokkha, giới của sự thu thúc ở các quyền, giới của sự trong sạch về nuôi mạng, giới liên quan đến các vật dụng, giới nhỏ, giới trung, giới lớn, giới của Đạo, giới của Quả. Tâu đại vương, thế gian luôn cả chư Thiên, cùng với Ma Vương, Phạm Thiên, và các dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn đều ước muốn, mong cầu người đã được trang sức với châu báu của giới.
Tâu đại vương, được chưng diện với châu báu của giới, vị tỳ khưu chiếu sáng, chiếu chói lọi ở hướng chính, hướng phụ, hướng trên, hướng dưới, hướng ngang. Vị ấy vượt qua, ngự trên, nhấn chìm tất cả các châu ngọc ở trong khoảng giữa, tính từ phía dưới là địa ngục Vô Gián từ phía trên là cõi cao nhất, rồi đứng lại. Tâu đại vương, các giới báu có hình thức như thế được chưng bày ở cửa tiệm châu báu của đức Thế Tôn. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘giới báu của đức Thế Tôn.’
‘Các giới có hình thức như thế hiện diện ở cửa tiệm của đức Phật. Các ngươi hãy mua châu báu ấy bằng nghiệp (thiện), và hãy chưng diện.’
BJT 11Tâu đại vương, định báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, định có tầm có tứ, định không tầm chỉ có tứ, định không tầm không tứ, định không tánh, định vô tướng, định vô nguyện. Tâu đại vương, đối với vị tỳ khưu chưng diện định báu, các suy nghĩ về (ngũ) dục, các suy nghĩ về oán hận, các suy nghĩ về hãm hại, ngã mạn, phóng dật, tà kiến, hoài nghi, các nền tảng của phiền não, và nhiều loại suy nghĩ xấu xa, tất cả chúng sau khi tiếp cận với định thì phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, không trụ lại, không đeo bám. Tâu đại vương, giống như nước ở lá sen thì phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, không trụ lại, không đeo bám. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Vì tính chất trong sạch của cây sen. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với vị tỳ khưu chưng diện định báu, các suy nghĩ về (ngũ) dục, các suy nghĩ về oán hận, các suy nghĩ về hãm hại, ngã mạn, phóng dật, tà kiến, hoài nghi, các nền tảng của phiền não, và nhiều loại suy nghĩ xấu xa, tất cả chúng sau khi tiếp cận với định thì phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, không trụ lại, không đeo bám. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Vì tính chất trong sạch của định. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘định báu của đức Thế Tôn.’ Tâu đại vương, các định báu có hình thức như thế được chưng bày ở cửa tiệm châu báu của đức Thế Tôn.
‘Đối với vị có tràng hoa là định báu, các suy nghĩ xấu xa không sanh lên, và tâm không bị tán loạn, các ngươi hãy chưng diện vật ấy.’
BJT 12Tâu đại vương, tuệ báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, với tuệ nào vị Thánh đệ tử nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Cái này là thiện,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Cái này là bất thiện,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Cái này là có tội, cái này là không có tội, cái này là nên thực hành, cái này là không nên thực hành, cái này là thấp kém, cái này là hảo hạng, cái này là đen, cái này là trắng, cái này có sự lẫn lộn giữa đen và trắng,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’ Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘tuệ báu của đức Thế Tôn.’
‘Đối với vị có tràng hoa là tuệ báu, sự hiện hữu không xoay chuyển lâu dài. Vị ấy mau chóng chạm đến Bất Tử, và không thích thú ở sự hiện hữu.’
BJT 13Tâu đại vương, giải thoát báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, ‘giải thoát báu’ được gọi là phẩm vị A-la-hán. Tâu đại vương, vị tỳ khưu đã đạt đến phẩm vị A-la-hán được gọi là ‘chưng diện giải thoát báu.’
Tâu đại vương, giống như người đàn ông, được trang điểm với đồ trang sức là xâu chuỗi ngọc trai, ngọc ma-ni, vàng, san hô, thân thể được thoa với dầu thơm của các cây tagara, tālīsa, và trầm hương đỏ, được điểm tô với các loại hoa lim, hoa nguyệt quế, hoa salaḷa, hoa cầy, hoa nhài vàng, hoa atimuttaka, hoa vòi voi, hoa sen, hoa nhài trâu, hoa nhài Ả-rập, thì vượt trội, chiếu sáng, chói sáng, soi sáng, tỏa sáng, lóe sáng, rực sáng, phát sáng, ngự trị, nhấn chìm những người còn lại bằng các đồ trang sức là vòng hoa, hương thơm, và châu báu. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị đã đạt đến phẩm vị A-la-hán, có lậu hoặc đã cạn kiệt, được chưng diện giải thoát báu, so với các tỳ khưu đã được giải thoát có liên quan điều này điều khác, thì vượt trội, vượt lên, chiếu sáng, chói sáng, soi sáng, lóe sáng, rực sáng, phát sáng, ngự trị, nhấn chìm với sự giải thoát (của bản thân). Điều ấy có nguyên nhân là gì? Tâu đại vương, vật chưng diện này là tối thắng trong số tất cả các vật chưng diện, tức là giải thoát báu. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘giải thoát báu của đức Thế Tôn.’
‘Người (làm công) trong nhà ngước nhìn người chủ đang mang tràng hoa có ngọc ma-ni, còn thế gian có cả chư Thiên ngước nhìn tràng hoa có giải thoát báu.’
BJT 14Tâu đại vương, trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, trí về việc quán xét lại được gọi là ‘trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát báu’ của đức Thế Tôn, nhờ vào trí ấy vị Thánh đệ tử quán xét lại Đạo, Quả, Niết Bàn, các phiền não đã dứt bỏ và các phiền não còn sót lại.
‘Nhờ vào trí nào, các bậc Thánh biết rõ trạng thái đã hoàn thành phận sự, hỡi những người con của đấng Chiến Thắng, hãy tinh tấn để đạt được châu báu trí tuệ ấy.’
BJT 15Tâu đại vương, tuệ phân tích báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, là bốn tuệ phân tích là ‘tuệ phân tích về ý nghĩa, tuệ phân tích về pháp, tuệ phân tích về ngôn từ, tuệ phân tích về phép biện giải.’ Tâu đại vương, được trang điểm với bốn tuệ phân tích báu này, vị tỳ khưu đi đến mỗi một tập thể nào, dầu là tập thể Sát-đế-lỵ, hay tập thể Bà-la-môn, hay tập thể gia chủ, hay tập thể Sa-môn, đều đi đến với sự tự tin, không có trạng thái hổ thẹn, không nhút nhát, không hãi sợ, không hốt hoảng, đi đến tập thể không bị nổi da gà. Tâu đại vương, giống như người chiến sĩ, anh hùng của chiến trận, đã vũ trang năm loại vũ khí, không kinh sợ, lao vào chiến trận (nghĩ rằng): ‘Nếu các quân địch ở xa, ta sẽ hạ gục bằng mũi tên, kế đó gần hơn nữa thì ta sẽ đánh bằng cây lao, kế đó gần hơn nữa thì ta sẽ đánh bằng cây thương, với kẻ đang tiến đến gần thì ta sẽ chém làm hai bằng cây kiếm lưỡi cong, còn kẻ đã đến sát bên thân thì ta sẽ đâm thủng bằng cây dao.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị tỳ khưu được trang sức với bốn tuệ phân tích đi vào tập thể không kinh sợ (nghĩ rằng): ‘Bất cứ người nào hỏi ta câu hỏi về phân tích ý nghĩa, đối với người ấy ta sẽ thuyết giảng về ý nghĩa bằng ý nghĩa, ta sẽ thuyết giảng về lý do bằng lý do, ta sẽ thuyết giảng về nguyên nhân bằng nguyên nhân, ta sẽ thuyết giảng về phương pháp bằng phương pháp, ta sẽ làm cho không còn nghi ngờ, ta sẽ cô lập sự phân vân, ta sẽ làm cho hoan hỷ bằng sự giải thích câu hỏi.
Bất cứ người nào hỏi ta câu hỏi về phân tích pháp, đối với người ấy ta sẽ thuyết giảng về pháp bằng pháp, ta sẽ thuyết giảng về Bất Tử bằng Bất Tử, ta sẽ thuyết giảng về không tạo tác bằng không tạo tác, ta sẽ thuyết giảng về Niết Bàn bằng Niết Bàn, ta sẽ thuyết giảng về không tánh bằng không tánh, ta sẽ thuyết giảng về vô tướng bằng vô tướng, ta sẽ thuyết giảng về vô nguyện bằng vô nguyện, ta sẽ thuyết giảng về bất động bằng bất động, ta sẽ làm cho không còn nghi ngờ, ta sẽ cô lập sự phân vân, ta sẽ làm cho hoan hỷ bằng sự giải thích câu hỏi.
Bất cứ người nào hỏi ta câu hỏi về phân tích ngôn từ, đối với người ấy ta sẽ thuyết giảng về ngôn từ bằng ngôn từ, ta sẽ thuyết giảng về đoạn kệ đầu bằng đoạn kệ đầu, ta sẽ thuyết giảng về đoạn kệ kế tiếp bằng đoạn kệ kế tiếp, ta sẽ thuyết giảng về âm từ bằng âm từ, ta sẽ thuyết giảng về nối âm bằng nối âm, ta sẽ thuyết giảng về phụ âm bằng phụ âm, ta sẽ thuyết giảng về âm phụ thuộc bằng âm phụ thuộc, ta sẽ thuyết giảng về hình thức bằng hình thức, ta sẽ thuyết giảng về nguyên âm bằng nguyên âm, ta sẽ thuyết giảng về khái niệm bằng khái niệm, ta sẽ thuyết giảng về tên gọi bằng tên gọi, ta sẽ làm cho không còn nghi ngờ, ta sẽ cô lập sự phân vân, ta sẽ làm cho hoan hỷ bằng sự giải thích câu hỏi.
Bất cứ người nào hỏi ta câu hỏi về phân tích phép biện giải, đối với người ấy ta sẽ thuyết giảng về phép biện giải bằng phép biện giải, ta sẽ thuyết giảng về ví dụ bằng ví dụ, ta sẽ thuyết giảng về tướng trạng bằng tướng trạng, ta sẽ thuyết giảng về phẩm vị bằng phẩm vị, ta sẽ làm cho không còn nghi ngờ, ta sẽ cô lập sự phân vân, ta sẽ làm cho hoan hỷ bằng việc giải thích câu hỏi. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘các tuệ phân tích báu của đức Thế Tôn.’
‘Sau khi mua các tuệ phân tích, nhờ vào trí vị nào có thể chạm đến, thì (vị ấy) không kinh sợ, không xao động, chói sáng thế gian luôn cả chư Thiên.’
BJT 16Tâu đại vương, giác chi báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, có bảy giác chi này là: ‘Niệm giác chi, trạch pháp giác chi, cần giác chi, hỷ giác chi, tịnh giác chi, định giác chi, xả giác chi.’ Tâu đại vương, được trang điểm với bảy giác chi báu này, vị tỳ khưu chế ngự mọi sự tối tăm, soi sáng, tỏa sáng, thế gian luôn cả chư Thiên, và làm sanh lên ánh sáng. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘giác chi báu của đức Thế Tôn.’
‘Thế gian luôn cả chư Thiên đều đứng dậy (chào) đối với người có tràng hoa là giác chi báu. các ngươi hãy mua châu báu ấy bằng nghiệp (thiện), và hãy chưng diện.’”
BJT 17“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm tổng hợp của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, cửa tiệm tổng hợp của đức Thế Tôn có lời dạy của đức Phật gồm chín thể loại, các xá-lợi, các vật dụng, các bảo tháp, và Hội Chúng báu. Tâu đại vương, do đức Thế Tôn ở cửa tiệm tổng hợp sự thành tựu về sanh chủng được chưng bày, sự thành tựu về của cải được chưng bày, sự thành tựu về tuổi thọ được chưng bày, sự thành tựu về không bệnh được chưng bày, sự thành tựu về sắc đẹp được chưng bày, sự thành tựu về tuệ được chưng bày, sự thành tựu về cõi người được chưng bày, sự thành tựu về cõi trời được chưng bày, sự thành tựu về Niết Bàn được chưng bày.
Tại nơi ấy, những người nào ước muốn sự thành tựu này hay sự thành tựu nọ, những người ấy sau khi trao ra tiền vốn là nghiệp (thiện) rồi mua lấy sự thành tựu đã được mong mỏi thế này thế nọ. Nhiều người mua bằng sự thọ trì giới, nhiều người mua bằng việc hành trì trai giới, rồi nhận được các sự thành tựu tùy theo từng phần tiền vốn là nghiệp (thiện) ít ỏi. Tâu đại vương, giống như ở cửa tiệm của người chủ tiệm có các loại mè, đậu mugga, đậu māsa, những người ấy mua gạo, đậu mugga, đậu māsa, với số lượng chút ít tùy theo từng phần tiền vốn ít ỏi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ở cửa tiệm tổng hợp của đức Thế Tôn, những người ấy nhận được các sự thành tựu tùy theo từng phần tiền vốn là nghiệp (thiện) ít ỏi. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm tổng hợp của đức Thế Tôn.’
‘Tuổi thọ, sự không bệnh, sắc đẹp, cõi trời, việc có được gia tộc cao sang, và sự không tạo tác, sự Bất Tử là có ở của hàng tổng hợp, ở đấng Chiến Thắng.
Được nhận lấy ít hay nhiều tùy theo phần tiền vốn là nghiệp (thiện). Này các tỳ khưu, sau khi mua bằng tiền vốn là đức tin, các ngươi hãy được thành tựu.’
BJT 18Tâu đại vương, ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn có những người như thế này sinh sống: Các vị chuyên về Kinh, các vị chuyên về Luật, các vị chuyên về Vi Diệu Pháp, các vị thuyết giảng về Pháp, các vị trì tụng Bổn Sanh, các vị trì tụng Trường Bộ, các vị trì tụng Trung Bộ, các vị trì tụng Tương Ưng, các vị trì tụng Tăng Chi, các vị trì tụng Tiểu Bộ, các vị đầy đủ giới, các vị đầy đủ định, các vị đầy đủ tuệ, các vị thích thú việc tu tập các giác chi, các vị hành minh sát, các vị gắn liền với mục đích của mình, các vị ngụ ở rừng, các vị ngụ ở gốc cây, các vị ngụ ở ngoài trời, các vị ngụ ở đống rơm, các vị ngụ ở mộ địa, các vị (hành pháp) về oai nghi ngồi (không nằm), các vị đã tiến đến (Đạo), các vị đã trú ở Quả, các vị Hữu Học đã đạt được quả vị, các vị Nhập Lưu, các vị Nhất Lai, các vị Bất Lai, các vị A-la-hán có ba Minh, có sáu Thắng Trí, có thần thông, đã đạt đến sự toàn hảo về tuệ, thiện xảo về sự thiết lập niệm, chánh tinh tấn, nền tảng của thần thông, quyền, lực, giác chi, Đạo, thiền, giải thoát, sắc và vô sắc, về việc thể nhập vào sự tịch tịnh và an lạc. Thành phố Giáo Pháp đã là đông đúc, dầy đặc, chen chúc, tràn ngập với các vị A-la-hán ấy, tợ như rừng sậy hay rừng mía đường. Ở đây có:
‘Các vị có luyến ái đã lìa, có sân đã lìa, có si đã lìa, không còn lậu hoặc, có tham ái đã lìa, không còn chấp thủ, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị ngụ ở rừng, duy trì pháp từ khước, chứng thiền, có y thô xấu, thỏa thích sự cô độc, sáng suốt, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị giữ oai nghi ngồi, ngụ chỗ được chỉ định, đứng và đi kinh hành, tất cả đều mang y may bằng vải quăng bỏ, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị sử dụng ba y, thanh tịnh, có mảnh da thú là vật thứ tư, thích thú việc (thọ thực) một chỗ ngồi, hiểu biết, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị ít ham muốn, chín chắn, sáng suốt, (thọ) chút ít vật thực, không tham lam, tự biết đủ với việc có hay không có, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị chứng thiền, thích thú với thiền, sáng suốt, có tâm thanh tịnh, được định tĩnh, có sự mong mỏi về cõi thiền Vô Sở Hữu, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị đã tiến đến (Đạo), đã trú ở Quả, là các bậc Hữu Học, đã đạt được quả vị, là những vị mong mỏi mục đích tối thượng, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị Nhập Lưu, không vết nhơ, và các vị Nhất Lai, các vị Bất Lai, và các vị A-la-hán, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị thiện xảo về sự thiết lập niệm, thích thú việc tu tập các Giác chi, các vị hành Minh Sát, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị thiện xảo về các nền tảng của thần thông, thích thú việc tu tập định, gắn bó với chánh tinh tấn, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị đã đạt đến sự toàn hảo về các Thắng Trí, thích thú với hành xứ có tính chất truyền thống, có sự di chuyển ở không trung, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị có mắt nhìn xuống, nói năng chừng mực, có các giác quan được canh phòng, khéo thu thúc, đã được huấn luyện tốt đẹp ở Giáo Pháp tối thượng, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị có ba Minh, và sáu Thắng Trí, đã đi đến sự toàn hảo của thần thông, đã đạt được sự toàn hảo về tuệ, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.’
BJT 19Tâu đại vương, những vị tỳ khưu nào có sự gìn giữ trí cao quý không đo lường được, không bị ràng buộc, có đức hạnh không thể so sánh, có danh vọng không so sánh được, có năng lực không so sánh được, có vinh quanh không so sánh được, là các vị tiếp tục chuyển vận bánh xe Giáo Pháp, đã đi đến sự toàn hảo về tuệ, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘các tướng quân Chánh Pháp’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào có thần thông, có các tuệ phân tích đã được chứng đạt, có các sự tự tín đã được đạt đến, có sự di chuyển ở không trung, khó sánh bằng, khó khuất phục, di chuyển không cần vật để bám víu, làm rúng động trái đất có biển và núi, có thể vuốt ve mặt trăng và mặt trời, thiện xảo về biến hóa, về sự chú nguyện và phát nguyện, đã đi đến sự toàn hảo về thần thông, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị quân sư’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào đã theo đuổi các pháp từ khước, ít ham muốn, tự biết đủ, chán ghét sự yêu cầu và sự tầm cầu sai trái, đi khất thực theo từng nhà, tợ như các con ong hút lấy hương hoa rồi đi vào khu rừng cô quạnh, không quan tâm đến thân thể và mạng sống, đã đạt được phẩm vị A-la-hán, đã được xem là tối thắng về đức hạnh của các pháp từ khước, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị quan tòa’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào thanh tịnh, không vết nhơ, không còn phiền não, thiện xảo về tử sanh, đã đi đến sự toàn hảo về Thiên nhãn, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị thắp sáng thành phố’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào nghe nhiều, có Kinh điển được truyền thừa, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, có sự ghi nhớ về Luật, có sự ghi nhớ về các tiêu đề, thiện xảo về việc chia chẻ các âm là không gió hay có gió, dài hay ngằn, nặng hay nhẹ, có sự ghi nhớ về các lời giáo huấn gồm chín thể loại, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị bảo vệ Giáo Pháp’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào hiểu biết về Luật, thông thái về Luật, thiện xảo về phần mở đầu và phần đọc tụng, thiện xảo về sự phạm tội, sự không phạm tội, tội nặng có thể chữa trị hay không thể chữa trị, sự thoát tội, sự trình báo tội, sự khiển trách, sự sửa chữa, sự mời vào, sự đuổi ra, sự hòa giải, đã đi đến sự toàn hảo về Luật, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị thành thạo về nghi thức’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào được quàng vào tràng hoa gồm các bông hoa cao quý của sự giải thoát, đã đạt được bản thể cao quý, ưu tú, giá trị cao, đứng đầu, được yêu quý và mong mỏi của số đông người, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm hoa’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào đã được thấu triệt sự lãnh hội về bốn Sự Thật, đã nhìn thấy Sự Thật, đã nhận thức được Giáo Pháp, đã vượt qua các sự hoài nghi về bốn quả vị Sa-môn, đã đạt được an lạc của quả vị, và chia phần những quả vị ấy cùng với những vị khác cũng đang thực hành, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm trái cây’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào được thoa hương thơm tốt đẹp cao quý của giới, mang nhiều đức hạnh đủ các loại, làm tiêu tan mùi thối của phiền não và ô nhiễm, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm hương liệu’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào yêu mến Giáo Pháp, có lời nói đáng yêu quý, có sự vui thích tột bực ở Thắng Pháp, ở Thắng Luật, những vị đi vào rừng, đi đến cội cây, đi đến ngôi nhà trống vắng, uống vào vị nếm cao quý của Giáo Pháp, được thấm nhuần hương vị cao quý của Giáo Pháp bằng thân, bằng khẩu, và bằng ý, có tài biện giải tuyệt vời, đã thực hành sự tầm cầu về Pháp trong số các Pháp, từ nơi này hoặc từ nơi kia, ở nơi nào có sự thuyết giảng về ít ham muốn, thuyết giảng về sự tự hoan hỷ, thuyết giảng về sự tách ly, thuyết giảng về sự không kết giao, thuyết giảng về việc khởi sự tinh tấn, thuyết giảng về giới, thuyết giảng về định, thuyết giảng về tuệ, thuyết giảng về giải thoát, thuyết giảng về trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát, sau khi đi đến nơi này nơi khác và uống vào từng hương vị của cuộc thuyết giảng, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị nghiện uống, có sự khao khát’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào đầu đêm và cuối đêm gắn bó với sự rèn luyện về tỉnh thức, trải qua đêm ngày với việc ngồi, đứng, và đi kinh hành, gắn bó với sự rèn luyện về việc phát triển (thiền), đang đeo đuổi mục đích của mình nhằm xua đuổi các phiền não, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người canh giữ thành phố’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào bảo đọc, bảo đọc theo, giảng giải, lập lại lời dạy của đức Phật gồm chín thể loại về ý nghĩa, về văn tự, về phương pháp, về lý do, về nguyên nhân, và về ví dụ, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm Giáo Pháp’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào là những người có của cải, có tài sản, với của cải là châu báu về Giáo Pháp, với của cải là sự học tập và lắng nghe về Kinh điển, có sự thấu triệt về nguyên âm, phụ âm, và đặc điểm đã được diễn đạt, có sự hiểu biết rộng rãi, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người triệu phú về Giáo Pháp’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào có sự thấu triệt sự thuyết giảng tột bực, đã quen thuộc với sự phân loại và mô tả đối tượng (của tâm), đã đạt đến sự toàn hảo về đức hạnh của việc học tập, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những nhà đạo đức nổi tiếng’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn đã khéo được bố trí như vậy, khéo được xây dựng như vậy, khéo được sắp xếp như vậy, khéo được bồi đắp như vậy, khéo được xác định như vậy, khéo được bảo vệ như vậy, khéo được gìn giữ như vậy, khó bị chế ngự như vậy bởi những kẻ nghịch, những kẻ thù. Tâu đại vương, với lý do này, với nguyên nhân này, với phương pháp này, với sự suy luận này, nên nhận biết rằng: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’
‘Cũng giống như sau khi nhìn thấy thành phố khéo được bố trí, làm thích ý, bằng suy luận họ nhận biết sự vĩ đại của nhà kiến trúc.
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy thành phố Giáo Pháp cao quý của đấng Bảo Hộ Thế Gian, bằng suy luận họ biết rằng: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’
Sau khi nhìn thấy làn sóng ở biển cả, bằng suy luận họ biết rằng theo như làn sóng này được nhìn thấy thì biển cả sẽ là lớn lao.
Tương tợ, đức Phật là bậc xua đi nỗi sầu muộn, không bị đánh bại ở mọi nơi, đã đạt đến sự cạn kiệt của tham ái, có sự thoát khỏi sự luân chuyển trong các cõi.
Sau khi nhìn thấy làn sóng ở thế gian luôn cả chư Thiên, theo như sự lan rộng của làn sóng Giáo Pháp, bằng suy luận có thể biết được đức Phật sẽ là hạng nhất.
Sau khi nhìn thấy ngọn núi vươn cao, theo như cách nó được vươn cao, bằng suy luận họ biết rằng nó sẽ là núi Hi-mã-lạp.
Tương tợ, sau khi nhìn thấy ngọn núi Giáo Pháp của đức Thế Tôn có trạng thái mát lạnh, không có mầm mống tái sanh, vươn cao, không dao động, khéo được thiết lập.
Sau khi nhìn thấy ngọn núi Giáo Pháp, bằng suy luận có thể biết được bậc Đại Hùng ấy chính là như thế, đức Phật sẽ là hạng nhất.
Cũng giống như sau khi nhìn thấy bàn chân của con voi chúa, bằng suy luận mọi người biết được rằng: ‘Con voi ấy là to lớn.’
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy dấu chân của đức Phật vĩ đại, bậc có sự thông suốt, bằng suy luận họ biết rằng vị ấy sẽ là tột bực.
Sau khi nhìn thấy những con thú nhỏ bị sợ hãi, bằng suy luận họ biết rằng: ‘Những con thú nhỏ này bị sợ hãi bởi âm thanh của con thú chúa.’
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy các ngoại đạo bị bối rối, có tâm sợ hãi, bằng suy luận có thể biết được tiếng rống của đấng Pháp Vương.
Sau khi nhìn thấy trái đất đã được nguội lạnh, đạt được màu xanh, có nhiều nước, bằng suy luận họ biết rằng (trái đất) đã được nguội lạnh nhờ đám mưa lớn.
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy người này được vui mừng, hớn hở, bằng suy luận có thể biết được (người ấy) đã được toại ý bởi cơn mưa Giáo Pháp.
Sau khi nhìn thấy bụi bặm bị kết dính, bùn lầy, mặt đất trở thành lầy lội ẩm thấp, bằng suy luận họ biết rằng có khối nước lớn đã đi đến.
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy người này bị lấm lem bởi bụi bặm và bùn lầy, đã được đưa đến ở dòng sông Giáo Pháp, đã được chuyển đến ở biển cả Giáo Pháp.
Sau khi nhìn thấy quả đất này luôn cả chư Thiên đi đến sự Bất Tử của Giáo Pháp, bằng suy luận có thể biết được có Pháp uẩn vĩ đại đã đi đến.
Sau khi ngửi mùi hương tối thượng, bằng suy luận họ biết rằng là theo như mùi hương này thổi đến thì sẽ có những cây đã được trổ hoa.
Y như thế ấy, mùi hương giới đức này thổi ở thế gian luôn cả chư Thiên, bằng suy luận có thể biết được là có đức Phật vô thượng.’
BJT 20Tâu đại vương, có thể chỉ cho thấy năng lực của đức Phật bằng một trăm lý do, bắng một ngàn lý do, bằng một trăm nguyên nhân, bằng một ngàn nguyên nhân, bằng một trăm phương pháp, bằng một ngàn phương pháp, bằng một trăm ví dụ, bằng một ngàn ví dụ. Tâu đại vương, giống như người làm tràng hoa khôn khéo, từ đống bông hoa nhiều loại, theo sự chỉ dạy của người thầy, bằng việc làm của cá nhân một người, có thể tạo thành một đống các kiểu tràng hoa nhiều màu sắc.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn ấy, có đức hạnh vô biên, có đức hạnh vô lượng, ví như đống bông hoa nhiều màu sắc. Giờ đây, ví như người làm tràng hoa, người kết bông hoa trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, cũng bằng đường lối của các vị thầy tiền bối, cũng bằng năng lực ở sự sáng suốt của tôi, tôi sẽ giải thích năng lực của đức Phật bằng cách suy luận bằng nhiều lý lẽ không thể đếm được. Vậy thì trong trường hợp này, đại vương hãy khởi lên ước muốn về việc lắng nghe.”
BJT 21“Thưa ngài Nāgasena, thật là việc khó khăn để chỉ cho thấy năng lực của đức Phật bằng sự suy luận bằng lý lẽ có hình thức như vầy đối với những người khác. Thưa ngài Nāgasena, trẫm đã được thỏa mãn với việc giải thích câu hỏi một cách vô cùng đa dạng của ngài.”
Câu hỏi (giảng bằng sự) suy luận là thứ nhất.
Atha kho milindo rājā yenāyasmā nāgaseno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nāgasenaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi, ekamantaṁ nisinno kho milindo rājā ñātukāmo sotukāmo dhāretukāmo ñāṇālokaṁ daṭṭhukāmo aññāṇaṁ bhinditukāmo ñāṇālokaṁ uppādetukāmo avijjandhakāraṁ nāsetukāmo adhimattaṁ dhitiñca ussāhañca satiñca sampajaññañca upaṭṭhapetvā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“bhante nāgasena, kiṁ pana buddho tayā diṭṭho”ti.
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kiṁ pana te ācariyehi buddho diṭṭho”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Bhante nāgasena, na kira tayā buddho diṭṭho, nāpi kira te ācariyehi buddho diṭṭho.
Tena hi, bhante nāgasena, natthi buddho, na hettha buddho paññāyatī”ti.
“Atthi pana te, mahārāja, pubbakā khattiyā, ye te tava khattiyavaṁsassa pubbaṅgamā”ti?
“Āma, bhante.
Ko saṁsayo, atthi pubbakā khattiyā, ye mama khattiyavaṁsassa pubbaṅgamā”ti.
“Diṭṭhapubbā tayā, mahārāja, pubbakā khattiyā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Ye pana taṁ, mahārāja, anusāsanti purohitā senāpatino akkhadassā mahāmattā, tehi pubbakā khattiyā diṭṭhapubbā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Yadi pana te, mahārāja, pubbakā khattiyā na diṭṭhā, nāpi kira te anusāsakehi pubbakā khattiyā diṭṭhā, tena hi natthi pubbakā khattiyā, na hettha pubbakā khattiyā paññāyantī”ti.
“Dissanti, bhante nāgasena, pubbakānaṁ khattiyānaṁ anubhūtāni paribhogabhaṇḍāni.
Seyyathidaṁ—
setacchattaṁ uṇhīsaṁ pādukā vālabījanī khaggaratanaṁ mahārahāni ca sayanāni.
Yehi mayaṁ jāneyyāma saddaheyyāma ‘atthi pubbakā khattiyā’”ti.
“Evameva kho, mahārāja, mayampetaṁ bhagavantaṁ jāneyyāma saddaheyyāma.
Atthi taṁ kāraṇaṁ, yena mayaṁ kāraṇena jāneyyāma saddaheyyāma ‘atthi so bhagavā’ti.
Katamaṁ taṁ kāraṇaṁ?
Atthi kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena anubhūtāni paribhogabhaṇḍāni.
Seyyathidaṁ—
cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, yehi sadevako loko jānāti saddahati ‘atthi so bhagavā’ti.
Iminā, mahārāja, kāraṇena iminā hetunā iminā nayena iminā anumānena ñātabbo ‘atthi so bhagavā’ti.
‘Bahū jane tārayitvā,
nibbuto upadhikkhaye;
Anumānena ñātabbaṁ,
atthi so dvipaduttamo’”ti.
“Bhante nāgasena, opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, nagaravaḍḍhakī nagaraṁ māpetukāmo paṭhamaṁ tāva samaṁ anunnatamanonataṁ asakkharapāsāṇaṁ nirupaddavamanavajjaṁ ramaṇīyaṁ bhūmibhāgaṁ anuviloketvā yaṁ tattha visamaṁ, taṁ samaṁ kārāpetvā khāṇukaṇṭakaṁ visodhāpetvā tattha nagaraṁ māpeyya sobhanaṁ vibhattaṁ bhāgaso mitaṁ ukkiṇṇaparikhāpākāraṁ daḷhagopuraṭṭālakoṭṭakaṁ puthucaccaracatukkasandhisiṅghāṭakaṁ sucisamatalarājamaggaṁ suvibhattaantarāpaṇaṁ ārāmuyyānataḷākapokkharaṇiudapānasampannaṁ bahuvidhadevaṭṭhānappaṭimaṇḍitaṁ sabbadosavirahitaṁ, so tasmiṁ nagare sabbathā vepullattaṁ patte aññaṁ desaṁ upagaccheyya, atha taṁ nagaraṁ aparena samayena iddhaṁ bhaveyya phītaṁ subhikkhaṁ khemaṁ samiddhaṁ sivaṁ anītikaṁ nirupaddavaṁ nānājanasamākulaṁ, puthū khattiyā brāhmaṇā vessā suddā hatthārohā assārohā rathikā pattikā dhanuggahā tharuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā rājaputtā pakkhandino mahānāgā sūrā vammino yodhino dāsikaputtā bhaṭiputtā mallakā gaṇakā āḷārikā sūdā kappakā nahāpakā cundā mālākārā suvaṇṇakārā sajjhukārā sīsakārā tipukārā lohakārā vaṭṭakārā ayokārā maṇikārā pesakārā kumbhakārā veṇukārā loṇakārā cammakārā rathakārā dantakārā rajjukārā kocchakārā suttakārā vilīvakārā dhanukārā jiyakārā usukārā cittakārā raṅgakārā rajakā tantavāyā tunnavāyā heraññikā dussikā gandhikā tiṇahārakā kaṭṭhahārakā bhatakā paṇṇikā phalikā mūlikā odanikā pūvikā macchikā maṁsikā majjikā naṭakā naccakā laṅghakā indajālikā vetālikā mallā chavaḍāhakā pupphachaḍḍakā venā nesādā gaṇikā lāsikā kumbhadāsiyo sakkayavanacīnavilātā ujjenakā bhārukacchakā kāsikosalā parantakā māgadhakā sāketakā soreyyakā pāveyyakā koṭumbaramāthurakā alasandakasmīragandhārā taṁ nagaraṁ vāsāya upagatā nānāvisayino janā navaṁ suvibhattaṁ adosamanavajjaṁ ramaṇīyaṁ taṁ nagaraṁ passitvā anumānena jānanti ‘cheko vata bho so nagaravaḍḍhakī, yo imassa nagarassa māpetā’ti.
Evameva kho, mahārāja, so bhagavā asamo asamasamo appaṭisamo asadiso atulo asaṅkhyeyyo appameyyo aparimeyyo amitaguṇo guṇapāramippatto anantadhiti anantatejo anantavīriyo anantabalo buddhabalapāramiṁ gato sasenamāraṁ parājetvā diṭṭhijālaṁ padāletvā avijjaṁ khepetvā vijjaṁ uppādetvā dhammukkaṁ dhārayitvā sabbaññutaṁ pāpuṇitvā vijitasaṅgāmo dhammanagaraṁ māpesi.
Bhagavato kho, mahārāja, dhammanagaraṁ sīlapākāraṁ hiriparikhaṁ ñāṇadvārakoṭṭhakaṁ vīriyaaṭṭālakaṁ saddhāesikaṁ satidovārikaṁ paññāpāsādaṁ suttantacaccaraṁ abhidhammasiṅghāṭakaṁ vinayavinicchayaṁ satipaṭṭhānavīthikaṁ, tassa kho pana, mahārāja, satipaṭṭhānavīthiyaṁ evarūpā āpaṇā pasāritā honti.
Seyyathidaṁ—
pupphāpaṇaṁ gandhāpaṇaṁ phalāpaṇaṁ agadāpaṇaṁ osadhāpaṇaṁ amatāpaṇaṁ ratanāpaṇaṁ sabbāpaṇan”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato pupphāpaṇan”ti?
“Atthi kho pana, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ārammaṇavibhattiyo akkhātā.
Seyyathidaṁ—
aniccasaññā dukkhasaññā anattasaññā asubhasaññā ādīnavasaññā pahānasaññā virāgasaññā nirodhasaññā sabbaloke anabhiratisaññā sabbasaṅkhāresu aniccasaññā ānāpānassati uddhumātakasaññā vinīlakasaññā vipubbakasaññā vicchiddakasaññā vikkhāyitakasaññā vikkhittakasaññā hatavikkhittakasaññā lohitakasaññā puḷavakasaññā aṭṭhikasaññā mettāsaññā karuṇāsaññā muditāsaññā upekkhāsaññā maraṇānussati kāyagatāsati, ime kho, mahārāja, buddhena bhagavatā ārammaṇavibhattiyo akkhātā.
Tattha yo koci jarāmaraṇā muccitukāmo, so tesu aññataraṁ ārammaṇaṁ gaṇhāti, tena ārammaṇena rāgā vimuccati, dosā vimuccati, mohā vimuccati, mānato vimuccati, diṭṭhito vimuccati, saṁsāraṁ tarati, taṇhāsotaṁ nivāreti, tividhaṁ malaṁ visodheti, sabbakilese upahantvā amalaṁ virajaṁ suddhaṁ paṇḍaraṁ ajātiṁ ajaraṁ amaraṁ sukhaṁ sītibhūtaṁ abhayaṁ nagaruttamaṁ nibbānanagaraṁ pavisitvā arahatte cittaṁ vimoceti, idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato pupphāpaṇan’ti.
‘Kammamūlaṁ gahetvāna,
āpaṇaṁ upagacchatha;
Ārammaṇaṁ kiṇitvāna,
tato muccatha muttiyā’”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato gandhāpaṇan”ti?
“Atthi kho pana, mahārāja, tena bhagavatā sīlavibhattiyo akkhātā, yena sīlagandhena anulittā bhagavato puttā sadevakaṁ lokaṁ sīlagandhena dhūpenti sampadhūpenti, disampi anudisampi anuvātampi paṭivātampi vāyanti ativāyanti, pharitvā tiṭṭhanti.
Katamā tā sīlavibhattiyo?
Saraṇasīlaṁ pañcaṅgasīlaṁ aṭṭhaṅgasīlaṁ dasaṅgasīlaṁ pañcuddesapariyāpannaṁ pātimokkhasaṁvarasīlaṁ.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato gandhāpaṇan’ti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena—
‘Na pupphagandho paṭivātameti,
Na candanaṁ taggaramallikā vā;
Satañca gandho paṭivātameti,
Sabbā disā sappuriso pavāyati.
Candanaṁ tagaraṁ vāpi,
uppalaṁ atha vassikī;
Etesaṁ gandhajātānaṁ,
sīlagandho anuttaro.
Appamatto ayaṁ gandho,
yvāyaṁ tagaracandanaṁ;
Yo ca sīlavataṁ gandho,
vāti devesu uttamo’”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato phalāpaṇan”ti?
“Phalāni kho, mahārāja, bhagavatā akkhātāni.
Seyyathidaṁ—
sotāpattiphalaṁ sakadāgāmiphalaṁ anāgāmiphalaṁ arahattaphalaṁ suññataphalasamāpatti animittaphalasamāpatti appaṇihitaphalasamāpatti.
Tattha yo koci yaṁ phalaṁ icchati, so kammamūlaṁ datvā patthitaṁ phalaṁ kiṇāti.
Yadi sotāpattiphalaṁ, yadi sakadāgāmiphalaṁ, yadi anāgāmiphalaṁ, yadi arahattaphalaṁ, yadi suññataphalasamāpattiṁ, yadi animittaphalasamāpattiṁ, yadi appaṇihitaphalasamāpattiṁ.
Yathā, mahārāja, kassaci purisassa dhuvaphalo ambo bhaveyya, so na tāva tato phalāni pāteti, yāva kayikā na āgacchanti, anuppatte pana kayike mūlaṁ gahetvā evaṁ ācikkhati ‘ambho purisa, eso kho dhuvaphalo ambo, tato yaṁ icchasi, ettakaṁ phalaṁ gaṇhāhi salāṭukaṁ vā dovilaṁ vā kesikaṁ vā āmaṁ vā pakkaṁ vā’ti, so tena attanā dinnamūlena yadi salāṭukaṁ icchati, salāṭukaṁ gaṇhāti, yadi dovilaṁ icchati, dovilaṁ gaṇhāti, yadi kesikaṁ icchati, kesikaṁ gaṇhāti, yadi āmakaṁ icchati, āmakaṁ gaṇhāti, yadi pakkaṁ icchati, pakkaṁ gaṇhāti.
Evameva kho, mahārāja, yo yaṁ phalaṁ icchati, so kammamūlaṁ datvā patthitaṁ phalaṁ gaṇhāti, yadi sotāpattiphalaṁ …pe…
yadi appaṇihitaphalasamāpattiṁ, idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato phalāpaṇan’ti.
‘Kammamūlaṁ janā datvā,
gaṇhanti amatapphalaṁ;
Tena te sukhitā honti,
ye kītā amatapphalan’”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato agadāpaṇan”ti?
“Agadāni kho, mahārāja, bhagavatā akkhātāni, yehi agadehi so bhagavā sadevakaṁ lokaṁ kilesavisato parimoceti.
Katamāni pana tāni agadāni?
Yānimāni, mahārāja, bhagavatā cattāri ariyasaccāni akkhātāni.
Seyyathidaṁ—
dukkhaṁ ariyasaccaṁ dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ, tattha ye keci aññāpekkhā catusaccaṁ dhammaṁ suṇanti, te jātiyā parimuccanti, jarāya parimuccanti, maraṇā parimuccanti, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi parimuccanti, idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato agadāpaṇan’ti.
‘Ye keci agadā loke,
visānaṁ paṭibāhakā;
Dhammāgadasamaṁ natthi,
etaṁ pivatha bhikkhavo’”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato osadhāpaṇan”ti?
“Osadhāni kho, mahārāja, bhagavatā akkhātāni, yehi osadhehi so bhagavā devamanusse tikicchati.
Seyyathidaṁ—
cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, etehi osadhehi bhagavā micchādiṭṭhiṁ vireceti, micchāsaṅkappaṁ vireceti, micchāvācaṁ vireceti, micchākammantaṁ vireceti, micchāājīvaṁ vireceti, micchāvāyāmaṁ vireceti, micchāsatiṁ vireceti, micchāsamādhiṁ vireceti, lobhavamanaṁ kāreti, dosavamanaṁ kāreti, mohavamanaṁ kāreti, mānavamanaṁ kāreti, diṭṭhivamanaṁ kāreti, vicikicchāvamanaṁ kāreti, uddhaccavamanaṁ kāreti, thinamiddhavamanaṁ kāreti, ahirikānottappavamanaṁ kāreti, sabbakilesavamanaṁ kāreti, idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato osadhāpaṇan’ti.
‘Ye keci osadhā loke,
vijjanti vividhā bahū;
Dhammosadhasamaṁ natthi,
etaṁ pivatha bhikkhavo.
Dhammosadhaṁ pivitvāna,
ajarāmaraṇā siyuṁ;
Bhāvayitvā ca passitvā,
nibbutā upadhikkhaye’”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato amatāpaṇan”ti?
“Amataṁ kho, mahārāja, bhagavatā akkhātaṁ, yena amatena so bhagavā sadevakaṁ lokaṁ abhisiñci, yena amatena abhisittā devamanussā jātijarābyādhimaraṇasokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi parimucciṁsu.
Katamaṁ taṁ amataṁ?
Yadidaṁ kāyagatāsati.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena ‘amataṁ te, bhikkhave, paribhuñjanti, ye kāyagatāsatiṁ paribhuñjantī’ti.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato amatāpaṇan’ti.
‘Byādhitaṁ janataṁ disvā,
Amatāpaṇaṁ pasārayi;
Kammena taṁ kiṇitvāna,
Amataṁ ādetha bhikkhavo’”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato ratanāpaṇan”ti?
“Ratanāni kho, mahārāja, bhagavatā akkhātāni, yehi ratanehi vibhūsitā bhagavato puttā sadevakaṁ lokaṁ virocanti obhāsenti pabhāsenti jalanti pajjalanti uddhaṁ adho tiriyaṁ ālokaṁ dassenti.
Katamāni tāni ratanāni?
Sīlaratanaṁ samādhiratanaṁ paññāratanaṁ vimuttiratanaṁ vimuttiñāṇadassanaratanaṁ paṭisambhidāratanaṁ bojjhaṅgaratanaṁ.
Katamaṁ, mahārāja, bhagavato sīlaratanaṁ?
Pātimokkhasaṁvarasīlaṁ indriyasaṁvarasīlaṁ ājīvapārisuddhisīlaṁ paccayasannissitasīlaṁ cūḷasīlaṁ majjhimasīlaṁ mahāsīlaṁ maggasīlaṁ phalasīlaṁ.
Sīlaratanena kho, mahārāja, vibhūsitassa puggalassa sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā pihayati pattheti, sīlaratanapiḷandho kho, mahārāja, bhikkhu disampi anudisampi uddhampi adhopi tiriyampi virocati ativirocati, heṭṭhato avīciṁ uparito bhavaggaṁ upādāya etthantare sabbaratanāni atikkamitvā abhibhavitvā ajjhottharitvā tiṭṭhati, evarūpāni kho, mahārāja, sīlaratanāni bhagavato ratanāpaṇe pasāritāni, idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato sīlaratanan’ti.
‘Evarūpāni sīlāni,
santi buddhassa āpaṇe;
Kammena taṁ kiṇitvāna,
ratanaṁ vo piḷandhathā’ti.
Katamaṁ, mahārāja, bhagavato samādhiratanaṁ?
Savitakkasavicāro samādhi, avitakkavicāramatto samādhi, avitakkaavicāro samādhi, suññato samādhi, animitto samādhi, appaṇihito samādhi.
Samādhiratanaṁ kho, mahārāja, piḷandhassa bhikkhuno ye te kāmavitakkabyāpādavitakkavihiṁsāvitakkamānuddhaccadiṭṭhivicikicchākilesavatthūni vividhāni ca kuvitakkāni, te sabbe samādhiṁ āsajja vikiranti vidhamanti viddhaṁsanti na saṇṭhanti na upalimpanti.
Yathā, mahārāja, vāri pokkharapatte vikirati vidhamati viddhaṁsati na saṇṭhāti na upalimpati.
Taṁ kissa hetu?
Parisuddhattā padumassa.
Evameva kho, mahārāja, samādhiratanaṁ piḷandhassa bhikkhuno ye te kāmavitakkabyāpādavitakkavihiṁsāvitakkamānuddhaccadiṭṭhivicikicchākilesavatthūni vividhāni ca kuvitakkāni, te sabbe samādhiṁ āsajja vikiranti vidhamanti viddhaṁsanti na saṇṭhanti na upalimpanti.
Taṁ kissa hetu?
Parisuddhattā samādhissa.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato samādhiratanan’ti, evarūpāni kho, mahārāja, samādhiratanāni bhagavato ratanāpaṇe pasāritāni.
‘Samādhiratanamālassa,
kuvitakkā na jāyare;
Na ca vikkhipate cittaṁ,
etaṁ tumhe piḷandhathā’ti.
Katamaṁ, mahārāja, bhagavato paññāratanaṁ?
Yāya, mahārāja, paññāya ariyasāvako ‘idaṁ kusalan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘idaṁ akusalan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘idaṁ sāvajjaṁ, idaṁ anavajjaṁ, idaṁ sevitabbaṁ, idaṁ na sevitabbaṁ, idaṁ hīnaṁ, idaṁ paṇītaṁ, idaṁ kaṇhaṁ, idaṁ sukkaṁ, idaṁ kaṇhasukkasappaṭibhāgan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato paññāratanan’ti.
‘Paññāratanamālassa,
na ciraṁ vattate bhavo;
Khippaṁ phasseti amataṁ,
na ca so rocate bhave’ti.
Katamaṁ, mahārāja, bhagavato vimuttiratanaṁ?
Vimuttiratanaṁ kho, mahārāja, arahattaṁ vuccati, arahattaṁ patto kho, mahārāja, bhikkhu ‘vimuttiratanaṁ piḷandho’ti vuccati.
Yathā, mahārāja, puriso muttākalāpamaṇikalāpapavāḷakalāpābharaṇappaṭimaṇḍito agalutagaratālīsakalohitacandanānulittagatto nāgapunnāgasālasalaḷacampakayūthikātimuttakapāṭaluppalavassikamallikāvicitto sesajane atikkamitvā virocati ativirocati obhāsati pabhāsati sampabhāsati jalati pajjalati abhibhavati ajjhottharati mālāgandharatanābharaṇehi;
evameva kho, mahārāja, arahattaṁ patto khīṇāsavo vimuttiratanapiḷandho upādāyupādāya vimuttānaṁ bhikkhūnaṁ atikkamitvā samatikkamitvā virocati ativirocati obhāsati pabhāsati sampabhāsati jalati pajjalati abhibhavati ajjhottharati vimuttiyā.
Taṁ kissa hetu?
Aggaṁ, mahārāja, etaṁ piḷandhanaṁ sabbapiḷandhanānaṁ, yadidaṁ vimuttipiḷandhanaṁ.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato vimuttiratanan’ti.
‘Maṇimālādharaṁ geha,
jano sāmiṁ udikkhati;
Vimuttiratanamālantu,
udikkhanti sadevakā’ti.
Katamaṁ, mahārāja, bhagavato vimuttiñāṇadassanaratanaṁ?
Paccavekkhaṇañāṇaṁ, mahārāja, bhagavato vimuttiñāṇadassanaratananti vuccati, yena ñāṇena ariyasāvako maggaphalanibbānāni pahīnakilesāvasiṭṭhakilese ca paccavekkhati.
‘Yena ñāṇena bujjhanti,
ariyā katakiccataṁ;
Taṁ ñāṇaratanaṁ laddhuṁ,
vāyametha jinorasā’ti.
Katamaṁ, mahārāja, bhagavato paṭisambhidāratanaṁ?
Catasso kho, mahārāja, paṭisambhidāyo atthapaṭisambhidā dhammapaṭisambhidā niruttipaṭisambhidā paṭibhānapaṭisambhidāti.
Imehi kho, mahārāja, catūhi paṭisambhidāratanehi samalaṅkato bhikkhu yaṁ yaṁ parisaṁ upasaṅkamati, yadi khattiyaparisaṁ, yadi brāhmaṇaparisaṁ, yadi gahapatiparisaṁ, yadi samaṇaparisaṁ, visārado upasaṅkamati amaṅkubhūto abhīru acchambhī anutrāsī vigatalomahaṁso parisaṁ upasaṅkamati.
Yathā, mahārāja, yodho saṅgāmasūro sannaddhapañcāvudho acchambhito saṅgāmaṁ otarati, ‘sace amittā dūre bhavissanti usunā pātayissāmi, tato orato bhavissanti sattiyā paharissāmi, tato orato bhavissanti kaṇayena paharissāmi, upagataṁ santaṁ maṇḍalaggena dvidhā chindissāmi, kāyūpagataṁ churikāya vinivijjhissāmī’ti;
evameva kho, mahārāja, catupaṭisambhidāratanamaṇḍito bhikkhu acchambhito parisaṁ upasaṅkamati.
‘Yo koci maṁ atthapaṭisambhide pañhaṁ pucchissati, tassa atthena atthaṁ kathayissāmi, kāraṇena kāraṇaṁ kathayissāmi, hetunā hetuṁ kathayissāmi, nayena nayaṁ kathayissāmi, nissaṁsayaṁ karissāmi, vimatiṁ vivecessāmi, tosayissāmi pañhaveyyākaraṇena.
Yo koci maṁ dhammapaṭisambhide pañhaṁ pucchissati, tassa dhammena dhammaṁ kathayissāmi, amatena amataṁ kathayissāmi, asaṅkhatena asaṅkhataṁ kathayissāmi, nibbānena nibbānaṁ kathayissāmi, suññatena suññataṁ kathayissāmi, animittena animittaṁ kathayissāmi, appaṇihitena appaṇihitaṁ kathayissāmi, anejena anejaṁ kathayissāmi, nissaṁsayaṁ karissāmi, vimatiṁ vivecessāmi, tosayissāmi pañhaveyyākaraṇena.
Yo koci maṁ niruttipaṭisambhide pañhaṁ pucchissati, tassa niruttiyā niruttiṁ kathayissāmi, padena padaṁ kathayissāmi, anupadena anupadaṁ kathayissāmi, akkharena akkharaṁ kathayissāmi, sandhiyā sandhiṁ kathayissāmi, byañjanena byañjanaṁ kathayissāmi, anubyañjanena anubyañjanaṁ kathayissāmi, vaṇṇena vaṇṇaṁ kathayissāmi, sarena saraṁ kathayissāmi, paññattiyā paññattiṁ kathayissāmi, vohārena vohāraṁ kathayissāmi, nissaṁsayaṁ karissāmi, vimatiṁ vivecessāmi, tosayissāmi pañhaveyyākaraṇena.
Yo koci maṁ paṭibhānapaṭisambhide pañhaṁ pucchissati, tassa paṭibhānena paṭibhānaṁ kathayissāmi, opammena opammaṁ kathayissāmi, lakkhaṇena lakkhaṇaṁ kathayissāmi, rasena rasaṁ kathayissāmi, nissaṁsayaṁ karissāmi, vimatiṁ vivecessāmi, tosayissāmi pañhaveyyākaraṇenā’ti.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato paṭisambhidāratanan’ti.
‘Paṭisambhidā kiṇitvāna,
Ñāṇena phassayeyya yo;
Acchambhito anubbiggo,
Atirocati sadevake’ti.
Katamaṁ, mahārāja, bhagavato bojjhaṅgaratanaṁ?
Sattime, mahārāja, bojjhaṅgā, satisambojjhaṅgo dhammavicayasambojjhaṅgo vīriyasambojjhaṅgo pītisambojjhaṅgo passaddhisambojjhaṅgo samādhisambojjhaṅgo upekkhāsambojjhaṅgo.
Imehi kho, mahārāja, sattahi bojjhaṅgaratanehi paṭimaṇḍito bhikkhu sabbaṁ tamaṁ abhibhuyya sadevakaṁ lokaṁ obhāseti pabhāseti ālokaṁ janeti.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato bojjhaṅgaratanan’ti.
‘Bojjhaṅgaratanamālassa,
uṭṭhahanti sadevakā;
Kammena taṁ kiṇitvāna,
ratanaṁ vo piḷandhathā’”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato sabbāpaṇan”ti?
“Sabbāpaṇaṁ kho, mahārāja, bhagavato navaṅgaṁ buddhavacanaṁ sārīrikāni pāribhogikāni cetiyāni saṅgharatanañca.
Sabbāpaṇe, mahārāja, bhagavatā jātisampatti pasāritā, bhogasampatti pasāritā, āyusampatti pasāritā, ārogyasampatti pasāritā, vaṇṇasampatti pasāritā, paññāsampatti pasāritā, mānusikasampatti pasāritā, dibbasampatti pasāritā, nibbānasampatti pasāritā.
Tattha ye taṁ taṁ sampattiṁ icchanti, te kammamūlaṁ datvā patthitapatthitaṁ sampattiṁ kiṇanti, keci sīlasamādānena kiṇanti, keci uposathakammena kiṇanti, appamattakenapi kammamūlena upādāyupādāya sampattiyo paṭilabhanti.
Yathā, mahārāja, āpaṇikassa āpaṇe tilamuggamāse parittakenapi taṇḍulamuggamāsena appakenapi mūlena upādāyupādāya gaṇhanti;
evameva kho, mahārāja, bhagavato sabbāpaṇe appamattakenapi kammamūlena upādāyupādāya sampattiyo paṭilabhanti.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato sabbāpaṇan’ti.
‘Āyu arogatā vaṇṇaṁ,
saggaṁ uccākulīnatā;
Asaṅkhatañca amataṁ,
atthi sabbāpaṇe jine.
Appena bahukenāpi,
kammamūlena gayhati;
Kiṇitvā saddhāmūlena,
samiddhā hotha bhikkhavo’ti.
Bhagavato kho, mahārāja, dhammanagare evarūpā janā paṭivasanti, suttantikā venayikā ābhidhammikā dhammakathikā jātakabhāṇakā dīghabhāṇakā majjhimabhāṇakā saṁyuttabhāṇakā aṅguttarabhāṇakā khuddakabhāṇakā sīlasampannā samādhisampannā paññāsampannā bojjhaṅgabhāvanāratā vipassakā sadatthamanuyuttā āraññikā rukkhamūlikā abbhokāsikā palālapuñjikā sosānikā nesajjikā paṭipannakā phalaṭṭhā sekkhā phalasamaṅgino sotāpannā sakadāgāmino anāgāmino arahanto tevijjā chaḷabhiññā iddhimanto paññāya pāramiṅgatā satipaṭṭhānasammappadhānaiddhipādaindriyabalabojjhaṅgamaggavarajhānavimokkharūpārūpasantasukhasamāpattikusalā, tehi arahantehi ākulaṁ samākulaṁ ākiṇṇaṁ samākiṇṇaṁ naḷavanasaravanamiva dhammanagaraṁ ahosi.
Bhavatīha—
‘Vītarāgā vītadosā,
vītamohā anāsavā;
Vītataṇhā anādānā,
dhammanagare vasanti te.
Āraññikā dhutadharā,
jhāyino lūkhacīvarā;
Vivekābhiratā dhīrā,
dhammanagare vasanti te.
Nesajjikā santhatikā,
athopi ṭhānacaṅkamā;
Paṁsukūladharā sabbe,
dhammanagare vasanti te.
Ticīvaradharā santā,
cammakhaṇḍacatutthakā;
Ratā ekāsane viññū,
dhammanagare vasanti te.
Appicchā nipakā dhīrā,
appāhārā alolupā;
Lābhālābhena santuṭṭhā,
dhammanagare vasanti te.
Jhāyī jhānaratā dhīrā,
santacittā samāhitā;
Ākiñcaññaṁ patthayānā,
dhammanagare vasanti te.
Paṭipannā phalaṭṭhā ca,
sekkhā phalasamaṅgino;
Āsīsakā uttamatthaṁ,
dhammanagare vasanti te.
Sotāpannā ca vimalā,
sakadāgāmino ca ye;
Anāgāmī ca arahanto,
dhammanagare vasanti te.
Satipaṭṭhānakusalā,
bojjhaṅgabhāvanāratā;
Vipassakā dhammadharā,
dhammanagare vasanti te.
Iddhipādesu kusalā,
samādhibhāvanāratā;
Sammappadhānānuyuttā,
dhammanagare vasanti te.
Abhiññāpāramippattā,
pettike gocare ratā;
Antalikkhamhi caraṇā,
dhammanagare vasanti te.
Okkhittacakkhū mitabhāṇī,
guttadvārā susaṁvutā;
Sudantā uttame damme,
dhammanagare vasanti te.
Tevijjā chaḷabhiññā ca,
Iddhiyā pāramiṁ gatā;
Paññāya pāramippattā,
Dhammanagare vasanti te’ti.
Ye kho te, mahārāja, bhikkhū aparimitañāṇavaradharā asaṅgā atulaguṇā atulayasā atulabalā atulatejā dhammacakkānuppavattakā paññāpāramiṁ gatā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘dhammasenāpatino’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū iddhimanto adhigatappaṭisambhidāpattavesārajjā gaganacarā durāsadā duppasahā anālambacarā sasāgaramahidharapathavikampakā candasūriyaparimajjakā vikubbanādhiṭṭhānābhinīhārakusalā iddhiyā pāramiṁ gatā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘purohitā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū dhutaṅgamanugatā appicchā santuṭṭhā viññattimanesanajigucchakā piṇḍāya sapadānacārino bhamarāva gandhamanughāyitvā pavisanti vivittakānanaṁ, kāye ca jīvite ca nirapekkhā arahattamanuppattā dhutaṅgaguṇe agganikkhittā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘akkhadassā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū parisuddhā vimalā nikkilesā cutūpapātakusalā dibbacakkhumhi pāramiṁ gatā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘nagarajotakā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā sithiladhanitadīgharassagarukalahukakkharaparicchedakusalā navaṅgasāsanadharā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘dhammarakkhā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū vinayaññū vinayakovidā ṭhānāṭṭhānakusalā āpattānāpattigarukalahukasatekicchaatekicchavuṭṭhānadesanāniggahapaṭikammaosāraṇanissāraṇapaṭisāraṇakusalā vinaye pāramiṁ gatā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘rūparakkhā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū vimuttivarakusumamālabaddhā varapavaramahagghaseṭṭhabhāvamanuppattā bahujanakantamabhipatthitā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘pupphāpaṇikā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū catusaccābhisamayappaṭividdhā diṭṭhasaccā viññātasāsanā catūsu sāmaññaphalesu tiṇṇavicikicchā paṭiladdhaphalasukhā aññesampi paṭipannānaṁ te phale saṁvibhajanti, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘phalāpaṇikā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū sīlasaṁvaragandhamanulittā anekavidhabahuguṇadharā kilesamaladuggandhavidhamakā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘gandhāpaṇikā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū dhammakāmā piyasamudāhārā abhidhamme abhivinaye uḷārapāmojjā araññagatāpi rukkhamūlagatāpi suññāgāragatāpi dhammavararasaṁ pivanti, kāyena vācāya manasā dhammavararasamogāḷhā adhimattapaṭibhānā dhammesu dhammesanappaṭipannā ito vā tato vā yattha yattha appicchakathā santuṭṭhikathā pavivekakathā asaṁsaggakathā vīriyārambhakathā sīlakathā samādhikathā paññākathā vimuttikathā vimuttiñāṇadassanakathā, tattha tattha gantvā taṁ taṁ kathārasaṁ pivanti, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘soṇḍā pipāsā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū pubbarattāpararattaṁ jāgariyānuyogamanuyuttā nisajjaṭṭhānacaṅkamehi rattindivaṁ vītināmenti, bhāvanānuyogamanuyuttā kilesapaṭibāhanāya sadatthappasutā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘nagaraguttikā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū navaṅgaṁ buddhavacanaṁ atthato ca byañjanato ca nayato ca kāraṇato ca hetuto ca udāharaṇato ca vācenti anuvācenti bhāsanti anubhāsanti, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘dhammāpaṇikā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū dhammaratanabhogena āgamapariyattisutabhogena bhogino dhanino niddiṭṭhasarabyañjanalakkhaṇappaṭivedhā viññū pharaṇā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘dhammaseṭṭhino’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū uḷāradesanāpaṭivedhā pariciṇṇārammaṇavibhattiniddesā sikkhāguṇapāramippattā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘vissutadhammikā’ti vuccanti.
Evaṁ suvibhattaṁ kho, mahārāja, bhagavato dhammanagaraṁ evaṁ sumāpitaṁ evaṁ suvihitaṁ evaṁ suparipūritaṁ evaṁ suvavatthāpitaṁ evaṁ surakkhitaṁ evaṁ sugopitaṁ evaṁ duppasayhaṁ paccatthikehi paccāmittehi, iminā, mahārāja, kāraṇena iminā hetunā iminā nayena iminā anumānena ñātabbaṁ atthi so bhagavāti.
‘Yathāpi nagaraṁ disvā,
suvibhattaṁ manoramaṁ;
Anumānena jānanti,
vaḍḍhakissa mahattanaṁ.
Tatheva lokanāthassa,
disvā dhammapuraṁ varaṁ;
Anumānena jānanti,
atthi so bhagavā iti.
Anumānena jānanti,
ūmiṁ disvāna sāgare;
Yathāyaṁ dissate ūmi,
mahanto so bhavissati.
Tathā buddhaṁ sokanudaṁ,
sabbatthamaparājitaṁ;
Taṇhakkhayamanuppattaṁ,
bhavasaṁsāramocanaṁ.
Anumānena ñātabbaṁ,
ūmiṁ disvā sadevake;
Yathā dhammūmivipphāro,
aggo buddho bhavissati.
Anumānena jānanti,
disvā accuggataṁ giriṁ;
Yathā accuggato eso,
himavā so bhavissati.
Tathā disvā dhammagiriṁ,
sītībhūtaṁ nirūpadhiṁ;
Accuggataṁ bhagavato,
acalaṁ suppatiṭṭhitaṁ.
Anumānena ñātabbaṁ,
disvāna dhammapabbataṁ;
Tathā hi so mahāvīro,
aggo buddho bhavissati.
Yathāpi gajarājassa,
padaṁ disvāna mānusā;
Anumānena jānanti,
mahā eso gajo iti.
Tatheva buddhanāgassa,
padaṁ disvā vibhāvino;
Anumānena jānanti,
uḷāro so bhavissati.
Anumānena jānanti,
bhīte disvāna kummige;
Migarājassa saddena,
bhītāme kummigā iti.
Tatheva titthiye disvā,
vitthate bhītamānase;
Anumānena ñātabbaṁ,
dhammarājena gajjitaṁ.
Nibbutaṁ pathaviṁ disvā,
haritapattaṁ mahodikaṁ;
Anumānena jānanti,
mahāmeghena nibbutaṁ.
Tathevimaṁ janaṁ disvā,
āmoditapamoditaṁ;
Anumānena ñātabbaṁ,
dhammameghena tappitaṁ.
Laggaṁ disvā bhusaṁ paṅkaṁ,
kalaladdagataṁ mahiṁ;
Anumānena jānanti,
vārikkhandho mahā gato.
Tathevimaṁ janaṁ disvā,
rajapaṅkasamohitaṁ;
Vahitaṁ dhammanadiyā,
visaṭṭhaṁ dhammasāgare.
Dhammāmatagataṁ disvā,
sadevakamimaṁ mahiṁ;
Anumānena ñātabbaṁ,
dhammakkhandho mahā gato.
Anumānena jānanti,
ghāyitvā gandhamuttamaṁ;
Yathāyaṁ vāyate gandho,
hessanti pupphitā dumā.
Tathevāyaṁ sīlagandho,
pavāyati sadevake;
Anumānena ñātabbaṁ,
atthi buddho anuttaro’ti.
Evarūpena kho, mahārāja, kāraṇasatena kāraṇasahassena hetusatena hetusahassena nayasatena nayasahassena opammasatena opammasahassena sakkā buddhabalaṁ upadassayituṁ.
Yathā, mahārāja, dakkho mālākāro nānāpuppharāsimhā ācariyānusiṭṭhiyā paccattapurisakārena vicittaṁ mālāguṇarāsiṁ kareyya;
evameva kho, mahārāja, so bhagavā vicittapuppharāsi viya anantaguṇo appameyyaguṇo, ahametarahi jinasāsane mālākāro viya pupphaganthako pubbakānaṁ ācariyānaṁ maggenapi mayhaṁ buddhibalenapi asaṅkhyeyyenapi kāraṇena anumānena buddhabalaṁ dīpayissāmi, tvaṁ panettha chandaṁ janehi savanāyā”ti.
“Dukkaraṁ, bhante nāgasena, aññesaṁ evarūpena kāraṇena anumānena buddhabalaṁ upadassayituṁ, nibbutosmi, bhante nāgasena, tumhākaṁ paramavicittena pañhaveyyākaraṇenā”ti.
Anumānapañho paṭhamo.
How can you know that the Buddha ever lived?
PTS vp Pali 329 PTS cs 1 Now Milinda the king went up to the place where Nāgasena was, and bowed down before him, and took his seat on one side. And when so seated he, longing to know, to hear, and to remember, and longing to make the light of knowledge arise and to break in pieces his ignorance, roused up in himself courage and zeal, and, full of self-possession and thoughtfulness, spake thus to Nāgasena:
PTS cs 2 ‘Venerable Nāgasena, tell me, have you ever seen the Buddha ?’
‘No, O king.’
‘Then have your teachers ever seen the Buddha?’
‘No, Sire.’
‘So you say, venerable Nāgasena, that you have never seen the Buddha, and that your teachers have never seen the Buddha. Therefore, Nāgasena, the Buddha did not exist. There is no clear evidence, in that case, of a Buddha.’
‘But did those Kshatriyas of old exist, who were the founders of the line of kings from which you come?’
‘Certainly, Sir. How can there be any doubt about that?’
‘Well, O king. Have you ever seen them?’
‘No, Sir.’ PTS vp En 207
‘And those who instructed you—the family chaplains, and officers of the staff, and those who lay down the law, and ministers of state—have they ever seen those Kshatriyas of old?’
‘No, Sir.’
‘If then neither have you seen them, nor your teachers, where are they? There is no clear evidence, in that case, of those Kshatriyas of old!’
PTS cs 3 ‘But, Nāgasena, the royal insignia they used are still to be seen—PTS vp Pali 330 The white sunshade of state, and the crown, and the slippers, and the fan with the yak’s tail, and the sword of state, and the priceless throne—and by these can we know and believe that the Kshatriyas of old lived once.’
‘Just so, O king, can we know that Blessed One and believe in him. For there is a reason for our knowledge and belief that the Blessed One was. And what is that reason?—The royal insignia used by that Blessed One, by him of knowledge and insight, the Arahat, the Buddha Supreme, are still to be seen-the four Means of keeping oneself ready and mindful, and the fourfold Great Struggle, and the four steps to Iddhi, and the five Organs of the moral sense, and the five moral Powers, and the seven forms of the wisdom of the Arahats, and the Noble Eightfold Path —and by these can the whole PTS vp En 208 world of gods and men know and believe that that Blessed One existed once. By this reason, on this ground, by this argument, through this inference, can it be known that the Blessed One lived.
“He who, himself set free in that bless’d state
In which the Upadhis have ceased to be,
—Lusts, sin, and Karma—has brought safe ashore,
Saved from the sea of woe, great multitudes—
Only by inference can it be known
That he, the best of men, existed once.”’
The ordinary city, and its architect, shops, and inhabitants
PTS cs 4 ‘Venerable Nāgasena, give me an illustration.’
‘Just, O king, as the architect of a City, when he wants to build one, would first search out a pleasant spot of ground, with which no fault can be found, even, with no hills or gullies in it, free from rough ground and rocks, not open to the danger of attack. And then, when he has made plain any rough places there may still be on it, he would clear it thoroughly of all stumps and stakes, and would proceed to build there a city fine and regular, measured out into suitable quarters, with trenches and ramparts thrown up around it, with strong gateways, watch-towers, and battlements, with wide squares and open places and junctions (where two roads meet) and cross-ways (where four PTS vp En 209 roads meet), with cleanly and even high roads, with regular lines of open shops (bazaars), well provided with parks, and gardens, and lakes, and lotus-ponds, and wells, adorned with many kinds of temples to the gods, free from every fault. And then when the city stood there in all its glory, he would go away to some other land. And in course of time that city might become mighty and prosperous, filled with stores of food, PTS vp Pali 331 peaceful, glorious, happy, free from distress and calamity, the meeting-place of all sorts and conditions of men. Then nobles and brahmans, merchants and work-people; soldiers mounted on elephants, and on horses, and on chariots; infantry, and bowmen, and swordsmen; standard-bearers, officers, and camp-followers ; highborn warriors whose delight is in war, fighting champions, men mighty as elephants, heroes, men who fight in buckskin, devoted fighting-men born of slaves in great houses or of the privates in the royal army ; troops of professional wrestlers ; PTS vp En 210 cooks and curry makers, barbers and bathing attendants, smiths and florists, workers in gold and silver and lead and tin and copper and brass and iron, and jewellers; messengers; potters, salt gatherers, tanners, carriage builders, carvers in ivory, rope makers, comb makers, cotton-thread spinners, basket makers, bow manufacturers, bowstring makers, arrow fletchers, painters, dye manufacturers, dyers, weavers, tailors, assayers of gold, cloth merchants, dealers in perfumes, grass cutters ` hewers of wood, hired servants, people who live by gathering flowers and fruits and roots in the woods, hawkers of boiled rice, sellers of cakes, fishmongers, butchers, dealers in strong drinks, play actors, dancers, acrobats, conjurors, professional bards, wrestlers PTS vp En 211 (boxers), corpse burners, casters out of rotten flowers, savages, wild men of the woods, prostitutes, swingers and jumpers, and the slave girls of bullies—people of many countries, people from Scythia, Bactria, China, and Vilāta; people of Ujjeni, of Bhārukaccha, of Benares, of Kosala, and of the border lands; people from Magadha, and Sāketa, and Suraṭṭha, and the West; from Koṭumbara and Madhura, from Alexandria, Kashmīr, and Gandhāra—all these coming to take up their residence there, and finding the new city to be regular, faultless, perfect, and pleasant, would know: “Able indeed must that architect have been by whom this city was built!”
The City of Righteousness, and its architect
PTS cs 5 ‘Just so, O king that Blessed One, peerless, unequalled, unapproached, incomparable, admirable beyond all measure by weight or calculation, of infinite virtue, full of virtue and perfection, boundless in wisdom and glory and zeal and power, who, when he had attained to the summit of all the perfections PTS vp En 212 of the Buddhas, PTS vp Pali 332 overthrew Māra and all his hosts—he, bursting asunder the net of heresy, and casting aside ignorance, and causing wisdom to arise, and bearing aloft the torch of Truth, reached forward to Buddhahood itself, and so, unconquered and unconquerable in the fight, built this city of Righteousness. And the Blessed One’s City of Righteousness, O king, has righteousness for its rampart, and fear of sin for its moat, and knowledge for the battlement over its city gate, and zeal for the watch-tower above that, and faith for the pillars at its base, and mindfulness for the watchman at the gate, and wisdom for the terrace above, and the Suttantas for its market-place, and the Abhidhamma for its cross-ways, and the Vinaya (the Canon Law) for its judgment hall, and constant self-possession for its chief street. And in that street, O king, these bazaars are open—a flower bazaar, and a fruit bazaar, and an antidote bazaar, and a medicine bazaar, and an ambrosia bazaar, and a bazaar for precious stones, and a bazaar for all manner of merchandise.’
The flower bazaar therein
PTS cs 6 ‘But what, venerable Nāgasena, is the flower bazaar of the Blessed One, the Buddha?’
‘There are certain subjects for meditation, O king, that have been made known by the Blessed One, by him of knowledge and insight, by the Arahat, the Buddha Supreme. And they are these. The idea of the impermanence (of every thing and of every being), the idea of the absence of any abiding principle (any soul in any thing or any being), the idea of the impurity and the idea of the danger connected with the body, the idea of getting rid of evil dispositions, the idea of freedom from passion, the idea of peace, the idea of dissatisfaction with the PTS vp En 213 things of the world, the idea of the transitory nature of all conditions, the idea of ecstatic trance, the ideas of a corpse in the various stages of decay, the ideas of a place of execution in all its various horrors, the idea of love to all beings, the idea of pity for all beings, the idea of sympathy with all beings, the idea of equanimity in all the changing circumstances of life, the idea of death, and the idea of the body. These, O king, are the subjects for meditation prescribed by the Blessed One. And of these, whoever, longing to be delivered from old age and death, takes any one as the subject of his meditation, by that meditation does he become set free from passion, set free from malice, set free from dullness, set free from pride, set free from wrong views, by that does he cross the ocean of Saṁsāra, and stem the torrent of cravings, and cleanse himself of the threefold stain, and destroy within himself all evil; and so, entering that glorious city, spotless and stainless, pure and white, PTS vp Pali 333 ageless and deathless, where all is security and calm and bliss—the city of Nirvāṇa—he emancipates his mind in Arahatship! And this, O king, is what is called “The Blessed One’s bazaar of flowers.”
“Take with you Karma as the price,
And go ye up to that bazaar,
Buy there an object for your thought,
Emancipate yourselves. Be free!”’ PTS vp En 214
The perfume bazaar therein
PTS cs 7 ‘And what, venerable Nāgasena, is the perfume bazaar of the Blessed One, the Buddha?’
‘There are certain categories of virtue, O king, that have been made known by the Blessed One, and anointed by the perfume of that righteousness the children of the Blessed One fill with the fumes of the fragrant incense of the perfume of goodness the whole world of gods and men, in every direction, and to windward and to leeward, continuing to pervade it again and yet again. And which are those categories? the virtue of taking refuge, PTS vp En 215 The virtue that is fivefold and eightfold and tenfold, and the virtue of self-restraint tabulated in the five recitations that compose the Pātimokkha. And this, O king, is what is called “The Blessed One’s bazaar of perfumes.” For it has been said, O king, by the Blessed One, the god over all gods:
“No flower’s scent can go against the wind,
Not sandal wood’s, nor musk’s, nor jasmine flower’s:
But the sweet perfume of the good doth go
Against the wind, and the good man pervades,
On every side, the sweetness of his life.”
“Red sandal wood, musk, and the lotus, and jasmine—
The perfume of goodness surpasseth them all.
Abundant the sweet scent of musk and of sandal wood—
Still stronger, the scent of the good mounts to heaven!”’
The fruit bazaar therein
PTS cs 8 ‘And what, venerable Nāgasena, is the fruit bazaar of the Blessed One, the Buddha?’
‘Certain fruits have been made known, O king, by the Blessed One. And they are these:—The fruit of the first stage of the Excellent Way (conversion), PTS vp En 216 and of the second stage, and of the third stage, and of the fourth (Arahatship)—the fruit of the attainment of emptiness —the fruit of the attainment of the absence of the three signs (of an unconverted life, lust, malice, and dullness)—and the truth of the attainment of that state in which no low aspirations survive. PTS vp Pali 334 And whosoever desires any one of these, he gives his Karma as the price, and buys the fruit he longs for—either conversion or any other.
PTS cs 9 ‘Just, O king, as any man who has a mango-tree bearing fruit all the year round, he does not knock down the fruits until buyers come. But when a buyer has come, and the fruit-grower has taken the price, then he says: “Come, my good man, this tree is always in bearing (it has therefore fruits in all stages of growth), take from it the kind of fruit you prefer, whether unripe, or decayed, or hairy, or sour, or ripe.” And the buyer, for the price paid, takes the kind he likes the best-if that be unripe fruit then he takes that, if it be decayed fruit then that, if it be hairy fruit then that, if it be sour fruit then that, if it be ripe fruit then he takes a ripe one. Just so, O king, whosoever desires any one of those other fruits, he gives his Karma as the price, and buys the fruit he longs for- PTS vp En 217 either conversion or any other. And this, O king, is what is called “The Blessed One’s bazaar of fruits.”
“Men give their Karma as the price,
And buy the fruit ambrosia;
And happiness is theirs, and peace,
Who’ve bought the fruit ambrosia.”
The antidote bazaar therein
PTS cs 10 ‘And what, venerable Nāgasena, is the antidote bazaar of the Blessed One, the Buddha?’
‘Certain drugs, O king, have been made known by the Blessed One; drugs by which the Blessed One delivers the whole world of gods and men from the poison of evil dispositions. And what are these drugs? the four Noble Truths made known by the Blessed One, that is to say, the truth as to sorrow, and the truth as to the origin of sorrow, and the truth as to the cessation of sorrow, and the truth as to that path which leads to the cessation of sorrow. And whosoever, longing for the highest insight (the insight of Arahatship), hear this doctrine of the four truths, they are set quite free from rebirth, PTS vp Pali 335 They are set quite free from old age, they are set quite free from death, they are set quite free from grief, lamentation, pain, sorrow, and despair. And this, O king, is what is called “The Blessed One’s bazaar of antidotes.” PTS vp En 218
“Of all the drugs, in all the world,
The antidotes of poison dire,
Not one equals that Doctrine sweet.
Drink that, O brethren. Drink and live!”’
The medicine bazaar therein
PTS cs 11 ‘And what, venerable Nāgasena, is the medicine bazaar of the Blessed One, the Buddha?’
‘Certain medicines, O king, have been made known by the Blessed One, medicines by which he cures the whole world of gods and men. And they are these:—"The four Means of keeping oneself ready and mindful, and the fourfold Great Struggle, and the four Steps to Iddhi, and the five Organs of the moral sense, and the five moral Powers, and the seven Forms of the Wisdom of the Arahats, and the Noble Eightfold Path.” By these medicines the Blessed One purges men of wrong views, purges them of low aspirations, purges them of evil speaking, purges them of evil deeds, purges them of evil modes of livelihood, purges them of wrong endeavours, purges them of evil thoughts, purges them of erroneous meditation; and he gives emetics to the vomiting up of lusts, and of malice, and of dullness, and of doubt, and of self-righteousness, and of sloth of body and inertness of mind, and of shamelessness and hardness of heart, and of all evil. And this, O king, is what is called “The Blessed One’s bazaar of medicine.”
“Of all the medicines found in all the world,
Many in number, various in their powers,
Not one equals this medicine of the Truth.
Drink that, O brethren. Drink, and drinking, live! PTS vp En 219
For having drunk that medicine of the Truth,
Ye shall have past beyond old age and death,
And—evil, lusts, and Karma rooted out—
Thoughtful and seeing, ye shall be at rest!”’
PTS cs 12 ‘And what, venerable Nāgasena, is the ambrosia bazaar of the Blessed One, the Buddha?’
The ambrosia bazaar therein
‘An ambrosia, O king, has been made known by the Blessed One, that ambrosia with which he besprinkles the whole world of gods and men—as men anoint a king on his coronation day—PTS vp Pali 336 and men and gods, when sprinkled with that ambrosia, are set free from rebirths, old age, disease, and death, from grief, and lamentation, and pain, and sorrow, and despair. And what is that ambrosia? That meditation which consists in active attention to, and leads to a true grasp of, the real conditions of corporeal things. For it has been said, O king, by the Blessed One, the god over all gods:
“They, O brethren, feed on ambrosia who feed on active attention directed to corporeal things.” This, O king, is what is called “The Blessed One’s ambrosia bazaar.” PTS vp En 220
“He saw mankind afflicted with disease,
He opened freely his ambrosia shop;
Go, then, O brethren, give your Karma for it,
And buy, and feed on, that ambrosial food.”’
The jewel bazaar therein, and the seven jewels of the Truth
PTS cs 13 ‘And what, venerable Nāgasena, is the jewel bazaar of the Blessed One, the Buddha?’
‘Certain jewels, O king, have been made known by the Blessed One, and adorned with those jewels the children of the Blessed One shine forth in splendour, illuminating the whole world of gods and men, brightening it in its heights, in its depths, from horizon to horizon, with a brilliant glory. And those jewels are these—the jewel of right conduct, and the jewel of meditation, and the jewel of knowledge, and the jewel of emancipation, and the jewel of the insight which arises from the assurance of emancipation, and the jewel of discrimination, and the jewel of the sevenfold wisdom of the Arahats.
PTS cs 14 ‘And what, O king, is the Blessed One’s jewel of right conduct ? the right conduct which follows on self-restraint according to the rules of the Pātimokkha, the right conduct which follows on PTS vp En 221 restraint of the bodily organs and the mind, the right conduct which results from a pure means of livelihood, the right conduct in relation to the four requisites of a recluse, the right conduct presented in the Short, and Middle, and Long Summonses, the right conduct of those who are walking in the Path, and the right conduct of those who have attained each of the various fruits thereof (beginning at conversion and ending at Arahatship). And all the beings in the world, O king, gods and men, and the Māras too (the spirits of evil), and the Brahmas (the very highest of the gods), and Samanas and Brahmans are filled with longing and desire for a man who wears, as his ornament, this jewel of right conduct. And the Bhikkhu, O king, who puts it on shines forth in glory all around, upwards and downwards, and from side to side, surpassing in lustre all the jewels to be found from the Waveless Deep, below to the highest heavens above, excelling them all, overwhelming them all. Such, O king, are the jewels of right conduct set out for sale in the Blessed One’s bazaar of gems. And this is what is called “The Blessed One’s jewel of righteousness.” PTS vp En 222
“Such are the virtues sold in that bazaar,
The shop of the Enlightened One,
the Blest; Pay Karma as the price, O ye ill-clad!
Buy, and put on, these lustrous Buddha-gems!”
PTS vp Pali 337 PTS cs 15 ‘And what, O king, is the Blessed One’s jewel of meditation? the meditation that consists of specific conceptions, and of investigation regarding them ;—the meditation that consists of reflection only, specific conceptions being lost sight of ;—the meditation that continues after specific conceptions and reflection on them have both ceased ;—the meditation that is void (of lusts, evil dispositions, and Karma);—the meditation from which three signs (of an unconverted life-lust, malice, and dullness) are absent;—the meditation in which no low aspirations remain. And when a Bhikkhu, O king, has put on this jewel of meditation (Samādhi), then ideas of lust, and ideas of anger, and ideas of cruelty, and all the various bad thoughts that have their basis in the evil dispositions of pride, self-righteousness, adhesion to wrong views, and doubt—all these, since they come into contact with meditation, flow off from him, disperse, and are dispelled, they stay not with him, adhere not to him. just, O king, as when water has fallen on a lotus leaf it flows off from it, is dispersed and scattered PTS vp En 223 away, stays not on it, adheres not to it —so when a Bhikkhu has put on this jewel of meditation, then ideas of lust, and ideas of anger, and ideas of cruelty, and all the various bad thoughts that have their basis in the evil dispositions of pride, self-righteousness, obstinacy in wrong views, and doubt—these all, as soon as they come in contact with meditation, flow off, disperse, and are dispelled, stay not with him, adhere not to him. And why not? Because of the exceeding purity of the habit of meditation. This, O king, is what is called “The Blessed One’s jewel of meditation,” and such are the jewels of meditation set out for sale in the Blessed One’s bazaar of gems.
“Bad thoughts can ne’er arise beneath the brow
Encircled by this coronet of gems.
It charms away perplexed and wandering thought.
Make it your own, buy it, put on the crown!”
PTS cs 16 ‘And what, O king, is the Blessed One’s jewel of knowledge? That knowledge by which the disciple of the noble ones knows thoroughly what is virtue, and what is not; what is blameworthy, and what is not; what should be made a habit of, and what should not; what is mean, and what is exalted; PTS vp Pali 338 what is dark, and what is light, and what is both dark and light;—the knowledge by which he truly knows what sorrow is, and what the origin of sorrow is, and what the cessation of sorrow is, and what is the path that leads thereto. This, O king, is what is called “The Blessed One’s jewel of knowledge.” PTS vp En 224
“He who has knowledge as his jewelled wreath,
Will not continue long in outward form.
Soon will he reach Nirvāṇa, in rebirth
In any world no longer take delight!
PTS cs 17 ‘And what, O king, is the Blessed One’s jewel of emancipation? Arahatship is called the jewel of emancipation, and the Bhikkhu who has reached Arahatship is said to have decked himself with the jewel of emancipation. And just as a man, O king, who is decorated with ornaments made of strings of pearls, of diamonds and gold and corals; whose limbs are anointed with akalu, and with frankincense, and with Talis, and with red sandal wood; who is adorned with a garland of Ironwood blossoms, and Rottleria flowers, and flowers from the Sal tree, and the Saḷala, and the champak, and yellow jasmines, and Atimuttaka flowers, and PTS vp En 225 trumpet flowers, and lotuses, and white and Arabian jasmines —just as, with all this finery of garlands and perfumes and jewelry, he would outshine all other men, overwhelming them with brilliant glory and splendour—just so, O king, does he who has attained to Arahatship, he in whom the Great Evils (lusts, and becoming, delusion, and ignorance) are rooted out, he who has put on the diadem of emancipation of heart, just so does he outshine all other Bhikkhus from the lowest in attainment up to those even who are themselves emancipated, overwhelming them in brilliant glory and splendour. And why is that so? Because, O king, there is one diadem that is the chief of all, and that is this diadem of emancipation of heart! And this, O king, is what is called “The Blessed One’s jewel of emancipation.”
“All the people that dwell in a house look up
To their Lord when he wears his crown of gems—
The wide world of the gods and of men looks up
To the wearer of Freedom’s diadem!”
PTS cs 18 ‘And what, O king, is the Blessed One’s jewel of the insight that follows on the assurance of emancipation? the knowledge arising out of looking back over the course —that knowledge by PTS vp En 226 which the disciple who is walking along the Excellent Way passes, from time to time, both the Way itself and the Fruits thereof up to Nirvāṇa, in review, and is aware what evil dispositions he has got rid of, and what evil dispositions remain to be conquered—that is what PTS vp Pali 339 is called “The jewel of the assurance that follows on the knowledge of emancipation.”
“The knowledge by which the Noble Ones know
The stages they’ve passed, and the road yet untrod;—
Strive, O ye sons of the Conqueror, strive
That jewel—’Assurance’—yourselves to obtain!”
PTS cs 19 ‘And what, O king, is the Blessed One’s jewel of discrimination? the discrimination of the sense of, and the discrimination of the deeper truths underlying the sense of the sacred writ, and the discrimination of philological peculiarities, and the discrimination of correct and ready exposition. And the Bhikkhu, O king, who is adorned with these four jewels of discrimination, whatsoever company he enters into, whether of nobles, or brahmans, or merchants, or workpeople, enters it in confidence, neither put out nor shy; undaunted and undismayed, he enters the assembly without excitement or fear. just, O king, as a warrior, a hero in the fight, when accoutred in all his harness PTS vp En 227 of war, goes down undismayed to the battle, in the confident thought: “If the enemy should remain afar off I can knock them down with my arrows, should they come thence towards me I can hit them with my javelins, should they come yet nearer I can reach them with my spear, should they come right up I can cleave them in two with my sabre, should they come to close quarters I can pierce them through and through with my dagger “—just so, O king, does the Bhikkhu, when he wears the fourfold jewel of discernment, enter any assembly undismayed, in the confident thought: “Should any one put to me a puzzle turning on the discrimination of the sense, I shall be able to explain it, comparing sense with sense, explanation with explanation, reason with reason, argument with argument —and thus shall I resolve his doubts, PTS vp En 228 dispel his perplexity, and delight him by my exposition of the problem raised. Should any one put to me a puzzle turning on discrimination of the deeper truths, I shall be able to explain it by comparing truth with truth, and the various aspects and phases of Arahatship each with each, PTS vp Pali 340 and thus his doubts too shall I be able to resolve, and, dispelling his perplexity, to delight him with my exposition of the problem raised. Should any one put to me a puzzle turning on the discrimination of philological peculiarities, I shall be able to explain it by comparing derivation with derivation, and word with word, and particle with particle, and letter with letter, and one modification of a letter by contact (sandhi) with another, and consonant with consonant, and vowel with vowel, and accent (intonation) with accent, and quantity with quantity, and rule with rule, and idiom with idiom;—and thus his doubts too shall I be able to resolve, and, dispelling his perplexity, to delight him with my exposition of the problem raised. Should anyone put to me a puzzle turning on the discrimination of expositions, I shall be able to explain it by comparing metaphor with metaphor, and characteristic with characteristic, and sentiment with sentiment—and thus his doubts too shall I be able to resolve, and, dispelling his perplexity, to delight him with my exposition of the PTS vp En 229 problem raised. And this, O king, is what is called “The Blessed One’s jewel of discrimination.”
“First buy the jewel of discrimination,
Then cut it with your knowledge and your skill;
So, free from all anxiety and fear,
Shall you illuminate both earth and heaven!
PTS cs 20 ‘And what, O king, is the Blessed One’s jewel of the sevenfold wisdom of the Arahats? It is self-possession, and investigation of the system of doctrine, and zeal, and joy, and tranquillity, and contemplation, and equanimity. And the Bhikkhu, O king, who is adorned with this sevenfold jewel of the divisions of the higher wisdom shines forth over the whole world of gods and men, brightens it, illuminates it, and dispersing the darkness makes the light arise. This, O king, is what is called “The Blessed One’s jewel of the sevenfold wisdom.”
“The gods and men in reverence stand up
To him who wears this wisdom-diadem.
Show your good actions then—that is the price—
And buy, and wear, this wisdom-diadem!”’
The general store bazaar therein
PTS vp Pali 341 PTS cs 21 ‘And what, venerable Nāgasena, is the bazaar for all manner of merchandise set up by the Blessed One, the Buddha?’
‘The Blessed One’s bazaar for all manner of PTS vp En 230 merchandise, O king, is the ninefold word of the Buddha; and the relics remaining of his body, and of the things he used; and the sacred mounds (cetiyāni, Dāgabas) erected over them ; and the jewel of his Order. And in that bazaar there are set out by the Blessed One the attainment (in a future birth) of high lineage, and of wealth, and of long life, and of good health, and of beauty, and of wisdom, and of worldly glory, and of heavenly glory, and of Nirvāṇa. And of these all they who desire either the one or the other, give Karma as the price, and so buy whichever glory they desire. And some buy with it a vow of right conduct, and some by observance of the Uposatha day, and so on down to the smallest Karma-price they buy the various glories from the greatest to the least. just, O king, as in a trader’s shop, oil, seed, and peas and beans can be either taken in barter for a small quantity of rice or peas or beans, or bought for a small price decreasing in order according to requirement—just so, O king, in the Blessed One’s bazaar for all manner of merchandise advantages are to be bought for Karma according to requirement. And this, O king, is what is called “The Blessed One’s bazaar of all manner of merchandise.”
“Long life, good health, beauty, rebirth in heaven,
High birth, Nirvāṇa-all are found for sale—
There to be bought for Karma, great or small—
In the great Conqueror’s world-famed bazaar.
Come; show your faith, O brethren, as the price,
Buy and enjoy such goods as you prefer!” PTS vp En 231
The inhabitants of the City of Righteousness
PTS cs 22 ‘And the inhabitants that dwell in the Blessed One’s City of Righteousness, O king, are such as these: Masters in the Suttantas, and masters in the Vinaya, and masters in the Abhidhamma; preachers of the faith; repeaters of the Jātakas, and repeaters of the Dīgha, and repeaters of the Majjhima, PTS vp Pali 342 and repeaters of the Samyutta, and repeaters of the Aṅguttara, and repeaters of the Khuddaka Nikāya;—men endowed with right conduct, men accomplished in meditation, men full of knowledge, men taking delight in contemplation of the sevenfold wisdom of the Arahats, men of insight ;—men who frequent the woods for meditation, or sit at the roots of trees, or dwell in the open air, or sleep on heaps of straw, or live near cemeteries, or lie not down to sleep—men who have entered the Excellent Way, men who have attained one or more of the four fruits thereof, men who are still learners (have not yet reached Arahatship, but are close upon it), men enjoying the Fruits, that is, either Sotāpannas, or Sakadāgāmins, or Anāgāmins, or Arahats;—men of the threefold wisdom, men of the sixfold transcendental wisdom, men of the power of Iddhi, men who have reached perfection in knowledge, men PTS vp En 232 skilled in the maintenance of constant self-possession, in the Great Struggle, in the Steps to Iddhi, in the Organs of their moral sense, in the sevenfold wisdom, in the Excellent Way, in Ghāna, in Vimokkha, and in the attainment of the exalted and tranquil bliss that is independent of form or the absence of form—yea! like a forest full of bamboos, full of reeds, that City of Righteousness has been ever crowded and frequented by such Arahats as these! For it is said:
(1) “Men devoid of passion, and of malice, and of dullness, men in whom the Great Evils (lust, becoming, delusion, and ignorance) are not, men who have neither craving thirst, nor grasping desires—these are they who dwell in the City of Righteousness.
(2) “Men whose home is the forest, men who have taken on themselves the extra vows, men full of joy, men who are wearing rough garments, men rejoicing in solitude, heroes—these are they who dwell in the City of Righteousness.
(3) “Men who sleep sitting, or on any sleeping-place that comes, or spend their time standing or walking up and down in meditation, men who clad themselves in cast-off raiment—all these dwell in the City of Righteousness.
(4) “Men wearing the full set of three robes, tranquil, with a skin for the fourth, who rejoice in taking but one meal each day, the wise-these are they who dwell in the City of Righteousness.
(5) “The earnest and prudent, heroes who feed on little and know no greed, content whether they receive an alms or receive it not-these are they who dwell in the City of Righteousness. PTS vp En 233 (6) “The meditative, delighting in Ghāna, heroes of tranquil minds, and stedfast, looking forward to Nirvāṇa—these are they who dwell in the City of Righteousness.
(7) “Men walking in the path, and standing in the fruits thereof, those who have attained some fruits thereof but are yet learners as to the last, whose hope is directed to the utmost goal—these are they who dwell in the City of Righteousness.
(8) “Those who have entered the stream, and those who, free from stains, will only be reborn once more on earth, those who will never return again, and Arahats—these are they who dwell in the City of Righteousness.
(9) “Those skilled in the means of attaining undisturbed self-possession, and rejoicing in contemplation on the sevenfold wisdom, those who are full of insight, and bear the words of the Dharma in their hearts—these are they who dwell in the City of Righteousness.
PTS vp Pali 343 (10) “Those skilled in the Steps to Iddhi, and rejoicing in the meditations of Samādhi, those who are devoted to the Great Struggle—these are they who dwell in the City of Righteousness.
(11) “Those perfect in the sixfold wisdom of the Abhiññās, delighting in the sphere that is theirs by rightful inheritance, those having the power of flying through the air—these are they who dwell in the City of Righteousness.
(12) “Those of downcast eyes, and measured speech, the doors of whose senses are guarded, who PTS vp En 234 are self-restrained, who are well trained according to the supreme Dhamma—these are they who dwell in the City of Righteousness.
(13) “Those of the threefold wisdom, and of the sixfold wisdom, those who have become perfect in Iddhi and perfect in knowledge—these are they who dwell in the City of Righteousness.”
The generals in the City of Righteousness
PTS cs 23 ‘And furthermore, O king, those of the Bhikkhus who carry in their hearts the words of the excellent knowledge that is immeasurable, who are free from bonds, whose goodness and fame and power and glory no man can weigh, who (in imitation of their Master) keep the royal chariot-wheel of the kingdom of righteousness rolling on, who have reached perfection in knowledge-such Bhikkhus are called, O king, “The Commanders of the Faith in the Blessed One’s City of Righteousness.”
The chaplains in the City of Righteousness
‘And furthermore, O king, those of the Bhikkhus, who have the power of Iddhi, who have learned the discriminations, who are full of confidence, who travel through the air, who are hard to oppose, hard to overcome, who can move without support, who can shake the broad earth and the waters on which it rests, who can touch the sun and the moon, who are skilful in transforming themselves and in making stedfast resolutions and high aspirations, who are perfect in Iddhi—such Bhikkhus are called, O king, “The royal chaplains in the Blessed One’s City of Righteousness.”
The judges in the City of Righteousness
‘And furthermore, O king, those of the Bhikkhus who have taken upon themselves the extra vows, PTS vp En 235 who desire little and are content, who would loathe any breach of the regulations as to the manner of seeking an alms, and beg straight on from hut to hut, as a bee smells flower after flower, and then go away into the loneliness of the woods, those who are indifferent as to their body and as to life, those who have attained to Arahatship, those who place the highest value on the virtues of the practice of the extra vows—such Bhikkhus are called, O king, “The judges in the Blessed One’s City of Righteousness.”
The lamplighters in the City of Righteousness
‘And furthermore, O king, those of the Bhikkhus who are pure and stainless, in whom no evil dispositions are left, who, skilful in the knowledge of the fall and rise of beings, have perfected themselves in the Divine Eye—such Bhikkhus are called, O king, “The givers of light in the Blessed One’s City of Righteousness.”
The peace-officers in the City of Righteousness
‘And furthermore, O king, those of the Bhikkhus PTS vp Pali 344 who are learned in the traditions, who hand on what has been handed down, the repeaters of the Discourses, and of the Canon Law, and of the tables of contents, those who are skilled in the exact determination of letters into surds and sonants, into PTS vp En 236 longs and short, as to lightness and heaviness, those who know by heart the ninefold word—such Bhikkhus are called, O king, “The peace officers in the Blessed One’s City of Righteousness.”
‘And furthermore, O king, those of the Bhikkhus who are learned in the Vinaya (Rules of the Order, Canon Law), wise in the Vinaya, skilled in detecting the source of offences., skilled in deciding whether any act is an offence or not, whether an offence is grievous or slight, whether it can be atoned for or not, skilled in deciding questions as to the rise, the acknowledgment, the absolution, or the confession of an offence ; as to the suspension, or the restoration, or the defence of an offender, who are perfect Masters in the Vinaya—such Bhikkhus are called, O king, “The Rūpa-dakshas in the Blessed One’s City of Righteousness.”
The shop-keepers in the City of Righteousness
‘And furthermore, O king, those of the Bhikkhus who wear on their brows the lotus garland of that noble Emancipation, who have attained to that PTS vp En 237 highest and best and most exceeding excellent of all conditions, who are loved and longed for by the great multitudes—such Bhikkhus are called, O king, “Flower-sellers in the Blessed One’s City of Righteousness.”
‘And furthermore, O king, those of the Bhikkhus who have penetrated to the comprehension of the four Truths, and have seen them with their eyes, who are wise in the teaching, who have passed beyond doubt as to the four fruits of Samaṇaship, who having attained to the bliss thereof, share those fruits with others who have entered the paths —such Bhikkhus are called, O king, “Fruit-dealers in the Blessed One’s City of Righteousness.”
‘And furthermore, O king, those of the Bhikkhus who, being anointed with that most excellent perfume of right conduct, are gifted with many and various virtues, and are able to dispel the bad odour of sin and evil dispositions—such Bhikkhus are called, O king, “Perfume dealers in the Blessed One’s City of Righteousness.”
The drunkards (!) in the City of Righteousness
‘And furthermore, O king, those of the Bhikkhus whose delight is in the Dhamma, and whose converse is pleasant, who find exceeding joy in the higher subtleties of the Dharma and the Vinaya, who either in the forest, or at the foot of trees, or in empty PTS vp En 238 places, drink the sweet sap of the Dharma, who plunging themselves, as it were, in body, speech, and mind into the sweet juice of the Dharma, excel in expounding it, in seeking and in detecting the deeper truths in the various doctrines, who—wheresoever and whensoever the discourse is of wishing for little, of contentment, of solitude, of retirement, of the exertion in zeal, of right conduct, of meditation, of knowledge, of emancipation, of the insight arising from the assurance of emancipationPTS vp Pali 345 thither do they repair, and drink in the sweet savour of that discourse-such Bhikkhus are called, O king, “Thirsty and drunkards in the Blessed One’s City of Righteousness.”
The watchmen in the City of Righteousness
‘And furthermore, O king, those of the Bhikkhus who are addicted to the habit of wakefulness from the first watch of the night to the last, who spend day and night in sitting, standing, or walking up and down in meditation, who, addicted to the habit of contemplation, are devoted to their own advancement by the suppressing of evil dispositions—such Bhikkhus are called, O king, “Watchmen in the Blessed One’s City of Righteousness.”
The lawyers and judges in the City of Righteousness
‘And furthermore, O king, those of the Bhikkhus who in the spirit and in the letter, in its arguments and explanations, in its reasons and examples, teach and repeat, utter forth and recapitulate the ninefold word of the Buddha-such Bhikkhus are called, O king, “Lawyers (dealers in Dharma) in the Blessed One’s City of Righteousness.” PTS vp En 239
The bankers in the City of Righteousness
‘And furthermore, O king, those of the Bhikkhus who are wealthy and rich in the wealth of the treasures of the Doctrine, in the wealth of the traditions, and the text, and the learning thereof, who comprehend the signs, and vowels, and consonants thereof, in all their details, pervading all directions with their knowledge—such Bhikkhus are called, O king, “Bankers of the Dhamma in the Blessed One’s City of Righteousness.”
‘And furthermore, O king, those of the Bhikkhus who have penetrated to the sublimer teaching, who understand exposition and the divisions of objects of meditation to be practised, who are perfect in all the subtler points of training —Such Bhikkhus are called, O king, “Distinguished masters of law in the Blessed One’s City of Righteousness.”
The conclusion drawn by inference
PTS cs 24 ‘Thus well planned out, O king, is the Blessed One’s City of Righteousness, thus well built, thus well appointed, thus well provisioned, thus well established, thus well guarded, thus well protected, thus impregnable by enemies or foes. And by this explanation, O king, by this argument, by this reason, you may by inference know that the Blessed One did once exist.
(I) “As when they see a pleasant city, well planned out,
Men know, by inference, how great the founder was;
So when they see our Lord’s ‘City of Righteousness’
They know, by inference, that he did once exist. PTS vp En 240 PTS vp Pali 346
(2) “As men, seeing its waves, can judge, by inference,
The great extent and power of the world-embracing sea;
So may they judge the Buddha when they see the waves
That he set rolling through the world of gods and men—
He who, unconquered in the fight, allays all griefs,
Who rooted out, in his own heart, Craving’s dread power,
And set his followers free from the whirlpool of rebirths—
’Far as the waves of the Good-Law extend and roll,
So great, so mighty, must our Lord, the Buddha, be.’
(3) “As men, seeing its mighty peaks that tower aloft,
Can judge, by inference, Himālaya’s wondrous height;
So when they see the Buddha’s Mount-of-Righteousness—
Stedfast, unshaken by fierce passion’s stormy blasts,
Towering aloft in wondrous heights of calm and peace,
Where lusts, evil, and Karma cannot breathe or live—
They draw the inference: ‘Great as this mountain high
That mighty Hero’s power upon whose word it stands.’ PTS vp En 241
(4) “As men, seeing the footprint of an elephant king,
Can judge, by inference: ‘How great his size must be!’
So when they see the footprint of the elephant of men,
Buddha, the wise, upon the path that men have trod,
They know, by inference: ‘How glorious Buddha was!’
(5) As when they see all living things crouching in fear,
Men know: ‘’Tis the roar of the king of the beasts that frightens them.’
So, seeing other teachers break and fly in fear,
They know: ‘’Tis a king of the truth hath uttered words sublime!’
(6) Seeing the earth smiling, well watered, green with grass,
Men say: ‘A great and pleasant rain hath fallen fast.’
So when they see this multitude rejoicing, peaceful, blest,
Men may infer: ‘How sweet the rain that stilled their hearts!’
(7) Seeing the wide earth soaked, boggy, a marsh of mud,
Men say: ‘Mighty the mass of waters broken loose. PTS vp En 242
So, when they see this mighty host, that once were dazed
With the mud of sin, swept down in Dhamma’s stream, and left
In the wide sea of the Good-Law, some here, some there,
All, gods and men alike, plunged in ambrosial waves,
They may infer, and say: ‘How great that Dhamma is!’
(8) PTS vp Pali 347 “As when men, travelling, feel a glorious perfume sweet
Pervading all the country side, and gladdening them, infer at once,
’surely, ‘tis giant forest trees are flowering now!’
So, conscious of this perfume sweet of righteousness
That now pervades the earth and heavens, they may infer:
’A Buddha, infinitely great, must once have lived!’”
PTS cs 25 ‘And it would be possible, O king, to show forth the Buddha’s greatness, by a hundred or a thousand such examples, such reasons, such arguments, such metaphors. just, O king, as a clever garland maker will, from one heap of all kinds of flowers, both following the instruction of his teacher, and also using his own individuality as a man, make many variegated and beautiful bouquets—just so, O king, that Blessed One is, as it were, an infinite, immeasurable, heap of variegated flowers of virtue. And I now, a garland maker, as it were in the PTS vp En 243 church of the Conqueror, stringing those flowers together—both following the path of our teachers of old, and also using such power of wisdom as in me is—could show forth by inference the power of the Buddha in innumerable similes. But you, on the other hand, must show a desire to hear them.’
‘Hard would it be, Nāgasena, for any other men thus to have shown by inference, drawn from such examples, the power of the Buddha. I am filled with satisfaction, venerable Nāgasena, at your so perfectly varied exposition of this problem.’
Here ends the problem of Inference.
PTS vp En 244 BJT 1Khi ấy, đức vua Milinda đã đi đến gặp đại đức Nāgasena, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Nāgasena rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Milinda có sự mong muốn được biết, mong muốn được nghe, mong muốn ghi nhớ, mong muốn nhìn thấy ánh sáng của trí tuệ, mong muốn phá vỡ sự không biết, mong muốn làm sanh khởi ánh sáng của trí tuệ, mong muốn tiêu diệt bóng tối của vô minh, sau khi thiết lập sự can đảm vượt bậc, sự cố gắng, sự ghi nhớ, và sự nhận biết rõ rệt, rồi đã nói với đại đức Nāgasena điều này:
BJT 2“Thưa ngài Nāgasena, có phải đức Phật đã được ngài nhìn thấy?”
“Tâu đại vương, không có.”
“Có phải đức Phật đã được các vị thầy của ngài nhìn thấy?”
“Tâu đại vương, không có.”
“Thưa ngài Nāgasena, nghe nói đức Phật đã không được ngài nhìn thấy, cũng nghe nói đức Phật đã không được các vị thầy của ngài nhìn thấy. Thưa ngài Nāgasena, như thế thì không có đức Phật. Bởi vì ở đây đức Phật không được biết đến.”
“Tâu đại vương, vậy thì những vị tổ tiên của dòng dõi Sát-đế-lỵ của đại vương, có các vị Sát-đế-lỵ tiền bối ấy không?”
“Thưa ngài, có. Có sự nghi ngờ gì? Có các vị Sát-đế-lỵ tiền bối, họ là tổ tiên của dòng dõi Sát-đế-lỵ của trẫm.”
“Tâu đại vương, có phải các vị Sát-đế-lỵ tiền bối đã được đại vương nhìn thấy?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, vậy thì các vị quân sư, tướng lãnh, quan tòa, quan đại thần đang cố vấn cho đại vương, có phải các vị Sát-đế-lỵ tiền bối đã được những người ấy nhìn thấy?”
“Thưa ngài, không có.”
“Tâu đại vương, nếu các vị Sát-đế-lỵ tiền bối đã không được đại vương nhìn thấy, nghe nói các vị Sát-đế-lỵ tiền bối cũng đã không được những vị cố vấn của đại vương nhìn thấy, vậy thì các vị Sát-đế-lỵ tiền bối ở đâu? Bởi vì ở đây các vị Sát-đế-lỵ tiền bối không được nhận biết.”
“Thưa ngài Nāgasena, những đồ dùng đã được các vị Sát-đế-lỵ tiền bối sử dụng được nhìn thấy như là: chiếc lọng màu trắng, khăn bịt đầu, đôi giày, quạt phất trần, viên ngọc ở thanh gươm, và các giường nằm vô cùng giá trị, nhờ chúng mà chúng tôi có thể biết được, có thể tin tưởng là: ‘Có các vị Sát-đế-lỵ tiền bối.’”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế chúng tôi cũng có thể biết được, có thể tin tưởng về đức Thế Tôn ấy. Có lý do mà với lý do ấy chúng tôi có thể biết được, có thể tin tưởng là: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’ Lý do ấy là điều nào? Tâu đại vương, quả là có những đồ dùng đã được đức Thế Tôn ấy, vị biết, vị thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác sử dụng, như là: Bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh tinh tấn, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy chi phần đưa đến giác ngộ, Thánh Đạo tám chi phần, nhờ chúng mà thế gian luôn cả chư Thiên biết được, tin tưởng là: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’ Tâu đại vương, với lý do này, với nguyên nhân này, với phương pháp này, với sự suy luận này mà có thể biết được rằng: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’
‘Sau khi đã giúp cho nhiều người vượt qua, Ngài đã tịch diệt ở sự đoạn tận mầm mống tái sanh. Nhờ vào sự suy luận, có thể biết được rằng: ‘Có bậc Tối Thượng Nhân ấy.’”
BJT 3“Thưa ngài Nāgasena, xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như nhà kiến trúc đô thị có ý định xây dựng thành phố thì trước tiên hết xem qua khoảnh đất bằng phẳng, không bị nhô lên không bị lõm xuống, không sạn sỏi và đá tảng, không nguy hiểm, không bị chê trách, đáng được yêu thích, rồi chỗ nào không bằng phẳng thì cho san bằng chỗ ấy, cho dọn sạch gốc cây và gai góc, rồi tại chỗ ấy xây dựng thành phố lộng lẫy, được phân chia thành từng phần, đã được đo đạc, có đường hào đã được đào lên và thành lũy, có tháp canh và cổng thành vững chắc, có đường băng ngang, ngã tư, giao lộ, bồn binh rộng lớn, có đường lộ chính sạch sẽ và có bề mặt bằng phẳng, có cửa tiệm khéo được bố trí bên trong, được đầy đủ với các khu vườn, công viên, hồ ao, đầm sen, giếng nước, được tô điểm với nhiều loại điện thờ chư Thiên, toàn bộ đều không có khuyết điểm. Khi thành phố ấy đã đạt đến sự phát triển về mọi mặt, người ấy có thể đi đến khu vực khác. Rồi thời gian sau đó, thành phố ấy trở nên thịnh vượng, giàu có, vật thực dễ dàng, an toàn, được phát đạt, thắng lợi, không có rủi ro, không có bất hạnh, đông đảo với nhiều hạng người, các Sát-đế-lỵ có tầm cỡ, các Bà-la-môn, các thương buôn, các nô lệ, các quản tượng, các kỵ sĩ, các người đánh xe, các khách bộ hành, các cung thủ, các kiếm sĩ, các hiệp sĩ, các quân nhân, các nhà cung cấp vật thực, các hoàng tử dũng mãnh, các cảm tử quân, các yếu nhân, các vị anh hùng, các chiến sĩ mặc áo giáp, các người con của kẻ nô bộc, các người con của kẻ làm thuê, các toán đấu vật, các người nấu ăn, các đầu bếp, các thợ cạo, các người hầu tắm, các thợ rèn, các người làm tràng hoa, các thợ vàng, các thợ bạc, các thợ chì, các thợ thiếc, các thợ đồng, các thợ hợp kim, các thợ sắt, các thợ ngọc ma-ni, các thợ dệt, các thợ gốm, các người làm muối, các thợ thuộc da, các thợ làm xe, các thợ làm ngà, các thợ làm dây, các thợ làm lược, các thợ quay tơ, các thợ đan giỏ, các thợ làm cung, các thợ làm dây cung, các thợ làm tên, các thợ vẽ tranh, các thợ làm màu, các thợ nhuộm, các thợ dệt vải, các thợ may, các thợ phân kim, các người buôn vải, các người buôn hương liệu, các người cắt cỏ, các người nhặt củi, các người làm thuê, các người bán rau, các người bán trái cây, các người bán rễ cây, các người bán cơm, các người bán bánh, các người bán cá, các người bán thịt, các người bán rượu, các kịch sĩ, các vũ công, các người múa rối, các ảo thuật gia, các nhạc công, các người đấu vật, các người thiêu xác,—
—các người đổ rác hoa, các thợ làm tre, các thợ săn, các kỹ nữ, các vũ nữ, các tớ gái đội nước, các người ở Saka, ở Yavana, ở Cīna, ở Vilāta, ở Ujjenī, ở Bhārukaccha, ở Kāsi, ở Kosala, ở Paranta, ở Magadha, ở Sāketa, ở Soraṭṭha, ở Pāvā, ở Koṭumbara, ở Madhura, ở Alasanda, ở Kasmīra, ở Gandhāra đã đi đến cư ngụ ở thành phố ấy, những người ở các địa phương khác nhau sau khi nhìn thấy thành phố ấy mới mẻ, khéo được bố trí, không khuyết điểm, không bị chê trách, đáng được yêu thích, bằng cách suy luận nhận biết rằng: ‘Này ông bạn, nhà kiến trúc đô thị xây dựng thành phố này quả là thành thạo.’
Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn ấy, là vị không ai sánh bằng, tương đương với bậc không thể sánh bằng, không người đối xứng, không kẻ tương đương, không người so sánh, không thể ước lượng, không thể đo lường, không thể định lượng, có đức hạnh vô lượng, đã đạt đết sự toàn hảo của đức hạnh, có sự can đảm vô biên, có sự vinh quang vô biên, có sự tinh tấn vô biên, có năng lực vô biên, đã đạt đến sự toàn hảo về Phật lực, sau khi đánh bại Ma Vương cùng với đạo binh, sau khi đã phá tung mạng lưới tà kiến, sau khi dẹp bỏ vô minh, sau khi làm cho minh sanh khởi, sau khi nắm giữ ngọn đuốc Chánh Pháp, sau khi đạt được bản thể Toàn Tri, với trận chiến không bị khuất phục, đã được chiến thắng, Ngài đã xây dựng thành phố Giáo Pháp.
Tâu đại vương, thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn có thành lũy là giới, có đường hào là sự hổ thẹn tội lỗi, có cổng thành là trí, có tháp canh là sự tinh tấn, có trụ chống là đức tin, có người gác cổng là niệm, có tòa lâu đài là tuệ, có đường băng ngang là Kinh, có bồn binh là Vi Diệu Pháp, có tòa án là Luật, có đường phố là sự thiết lập niệm. Tâu đại vương, hơn nữa ở đường phố về sự thiết lập niệm của thành phố ấy, có các cửa tiệm với hình thức như vầy khéo là được chưng bày, như là: cửa tiệm bông hoa, cửa tiệm hương liệu, cửa tiệm trái cây, cửa tiệm thuốc giải độc, cửa tiệm thuốc chữa bệnh, cửa tiệm thuốc bất tử, cửa tiệm châu báu, cửa tiệm tổng hợp.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm bông hoa của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, có các sự phân loại về đối tượng (tham thiền) đã được đức Thế Tôn ấy, vị biết, vị thấy, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, nói đến như là: tưởng về vô thường, tưởng về khổ não, tưởng về vô ngã, tưởng về bất mỹ, tưởng về điều bất lợi, tưởng về sự dứt bỏ, tưởng về ly luyến ái, tưởng về sự tịch diệt, tưởng về sự không hứng thú với mọi thứ ở thế gian, tưởng về vô thường trong tất cả các sự tạo tác, niệm hơi thở vào ra, tưởng về tử thi bị trương sình, tưởng về tử thi có màu xanh xám, tưởng về tử thi bắt đầu thối rữa, tưởng về tử thi bị thủng nhiều lỗ, tưởng về tử thi bị thú ăn, tưởng về tử thi bị vung vãi, tưởng về tử thi bị hủy hoại và vung vãi, tưởng về tử thi bị đẫm máu, tưởng về tử thi bị giòi bọ rút rỉa, tưởng về bộ xương, tưởng về tâm từ, tưởng về tâm bi, tưởng về tâm hỷ, tưởng về tâm xả, niệm về sự chết, niệm được đặt ở thân. Tâu đại vương, các sự phân loại về đối tượng (tham thiền) này đã được đức Phật Thế Tôn nói đến.
Ở nơi ấy, người nào có ước muốn được thoát khỏi sự già và sự chết, người ấy nắm giữ một đối tượng nào đó trong số đó, rồi nhờ vào đối tượng ấy được thoát khỏi luyến ái, được thoát khỏi sân, được thoát khỏi si, được thoát khỏi ngã mạn, được thoát khỏi (tà) kiến, vượt qua luân hồi, ngăn chặn dòng chảy tham ái, làm trong sạch ba loại vết bẩn, sau khi hủy diệt tất cả phiền não, sau khi đi vào thành phố tối thượng là thành phố Niết Bàn, không vết nhơ, hết bụi bặm, trong sạch, tinh khiết, không sanh, không già, không chết, an lạc, có trạng thái mát lạnh, không có nỗi sợ hãi, rồi làm cho tâm được giải thoát ở phẩm vị A-la-hán. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm bông hoa của đức Thế Tôn.’
‘Sau khi nắm lấy tiền vốn là nghiệp (thiện),hãy đi đến cửa tiệm, hãy mua lấy đối tượng, từ đó hãy được tự do ở sự giải thoát.’”
BJT 5“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm hương liệu của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, có các sự phân loại về giới đã được đức Thế Tôn ấy nói đến. Được thoa bởi hương thơm của giới ấy, các người con trai của đức Thế Tôn tỏa hơi, tràn ngập thế gian luôn cả chư Thiên bằng hương thơm của giới, rồi thổi đến, bao trùm hướng chính, hướng phụ, gió thuận chiều, gió nghịch chiều, sau khi tỏa khắp thì lắng đọng lại. Các sự phân loại về giới ấy là các cái nào? Là giới của sự nương nhờ (tam quy), năm giới, tám điều giới, mười điều giới, giới của sự thu thúc theo giới bổn Pātimokkha được bao gồm ở năm phần đọc tụng. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm hương liệu của đức Thế Tôn.’ Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến:
‘Hương thơm của bông hoa không bay ngược chiều gió,
(hương thơm của) gỗ trầm, gỗ tagara, hoặc hoa nhài cũng không.
Còn hương thơm của những người tốt bay ngược chiều gió,
bậc thiện nhân tỏa hương (thơm giới hạnh) khắp mọi phương.
Gỗ trầm, gỗ tagara, hoặc ngay cả hoa sen và hoa nhài, trong số các loại có hương thơm này, hương thơm của giới là vô thượng.
Hương thơm này của gỗ tagara hay gỗ trầm là nhỏ nhoi, còn hương thơm của những người có giới hạnh thổi giữa chư Thiên là tối thượng.’”
BJT 6“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm trái cây của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, các loại quả đã được đức Thế Tôn ấy nói đến như là: Quả vị Nhập Lưu, quả vị Nhất Lai, quả vị Bất Lai, quả vị A-la-hán, sự thể nhập quả vị không tánh, sự thể nhập quả vị vô tướng, sự thể nhập quả vị vô nguyện. Ở nơi ấy, người nào ước muốn quả vị nào, người ấy sau khi trao ra tiền vốn là nghiệp (thiện) rồi mua lấy quả vị đã được mong mỏi, nếu là quả vị Nhập Lưu, hay quả vị Nhất Lai, hay quả vị Bất Lai, hay quả vị A-la-hán, hay sự thể nhập quả vị không tánh, hay sự thể nhập quả vị vô tướng, hay sự thể nhập quả vị vô nguyện.
Tâu đại vương, giống như cây xoài của người đàn ông nào đó là có trái thường xuyên. Cho đến khi nào người mua chưa đi đến, thì người ấy còn chưa làm cho các trái từ trên cây rơi xuống. Trái lại, khi người mua đã đến thì người ấy nhận tiền vốn ở người mua rồi bảo như vầy: ‘Này ông, cây xoài này quả là có trái thường xuyên, ông muốn chừng nào ở cây ấy thì hãy lấy chừng ấy, hoặc còn sống, hoặc còn non, hoặc còn lông tơ, hoặc chưa chín, hoặc đã chín.’ Người ấy, với số tiền vốn đã được trao ra ấy của mình, nếu muốn trái còn sống thì lấy trái còn sống, nếu muốn trái còn non thì lấy trái còn non, nếu muốn trái còn lông tơ thì lấy trái còn lông tơ, nếu muốn trái chưa chín thì lấy trái chưa chín, nếu muốn trái chín thì lấy trái chín. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người nào ước muốn quả vị nào, thì sau khi trao ra tiền vốn là nghiệp (thiện), người ấy nhận lấy quả vị đã được mong mỏi, nếu là quả vị Nhập Lưu … (như trên) … hay sự thể nhập quả vị vô nguyện. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm trái cây của đức Thế Tôn.’
‘Sau khi trao ra tiền vốn là nghiệp (thiện), rồi cầm lấy trái cây bất tử, những người nào mua trái cây bất tử, do việc ấy những người ấy được an lạc.’”
BJT 7“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm thuốc giải độc của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, các thuốc giải độc đã được đức Thế Tôn nói đến, với các thuốc giải độc này đức Thế Tôn ấy giúp cho thế gian luôn cả chư Thiên thoát khỏi thuốc độc phiền não. Vậy thì các thuốc giải độc ấy là các loại nào? Tâu đại vương, bốn Chân Lý Cao Thượng này đã được đức Thế Tôn nói đến, như là: Chân Lý Cao Thượng về sự Khổ, Chân Lý Cao Thượng về nguyên nhân của Khổ, Chân Lý Cao Thượng về sự diệt Khổ, Chân Lý Cao Thượng về sự thực hành theo con đường đưa đến sự diệt Khổ. Tại nơi ấy, những người nào mong muốn trí tuệ lắng nghe Giáo Pháp về bốn Chân Lý, những người ấy được giải thoát khỏi sự sanh, được giải thoát khỏi sự già, được giải thoát khỏi sự chết, được giải thoát khỏi các sầu, bi, khổ, ưu, não. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm thuốc giải độc của đức Thế Tôn.’
‘Bất cứ các thuốc giải độc nào ở thế gian đều là những vật đẩy lùi các chất độc, không có loại nào sánh bằng thuốc giải độc là Giáo Pháp, này các tỳ khưu, các ngươi hãy uống loại này.’”
BJT 8“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm thuốc chữa bệnh của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, các thuốc chữa bệnh đã được đức Thế Tôn nói đến, với các thuốc chữa bệnh này đức Thế Tôn ấy chữa bệnh cho chư Thiên và nhân loại, như là: Bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh tinh tấn, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy chi phần đưa đến giác ngộ, Thánh Đạo tám chi phần. Với những thuốc chữa bệnh này đức Thế Tôn tẩy sạch tà kiến, tẩy sạch tà tư duy, tẩy sạch tà ngữ, tẩy sạch tà nghiệp, tẩy sạch tà mạng, tẩy sạch tà tinh tấn, tẩy sạch tà niệm, tẩy sạch tà định, làm cho ói ra tham, làm cho ói ra sân, làm cho ói ra si, làm cho ói ra ngã mạn, làm cho ói ra tà kiến, làm cho ói ra hoài nghi, làm cho ói ra phóng dật, làm cho ói ra sự dã dượi buồn ngủ, làm cho ói ra sự không hổ thẹn và không ghê sợ (tội lỗi), làm cho ói ra tất cả phiền não. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm thuốc chữa bệnh của đức Thế Tôn.’
‘Bất cứ các thuốc chữa bệnh nào được tìm thấy ở thế gian là đa dạng và có nhiều, không có loại nào sánh bằng thuốc chữa bệnh là Giáo Pháp, này các tỳ khưu, các ngươi hãy uống loại này.
Sau khi uống vào thuốc chữa bệnh là Giáo Pháp, thì có thể trở thành không già không chết. Sau khi tu tập và sau khi nhìn thấy, thì được tịch diệt ở sự đoạn tận mầm mống tái sanh.’”
BJT 9“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm thuốc bất tử của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, thuốc bất tử đã được đức Thế Tôn nói đến, với thuốc bất tử này đức Thế Tôn ấy rưới rắc cho thế gian luôn cả chư Thiên, do đã được rưới rắc với thuốc bất tử này, chư Thiên và nhân loại đã được giải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Thuốc bất tử ấy là cái nào? Tức là niệm đặt ở thân. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến: ‘Này các tỳ khưu, những người nào thọ hưởng niệm đặt ở thân, những người ấy thọ hưởng sự bất tử.’ Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm bất tử của đức Thế Tôn.’
‘Sau khi nhìn thấy loài người bị bệnh, Ngài đã bày ra cửa hàng thuốc bất tử. Này các tỳ khưu, các người hãy mua vật ấy bằng nghiệp (thiện) và hãy nhận lấy thuốc bất tử.’”
BJT 10“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm châu báu của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, các châu báu đã được đức Thế Tôn nói đến. Được trang điểm với các châu báu này, những người con trai của đức Thế Tôn chiếu sáng, soi sáng, tỏa sáng, rực sáng, phát sáng ở thế gian luôn cả chư Thiên, phô bày ánh sáng ở hướng trên, ở hướng dưới, ở hướng ngang. Các châu báu ấy là các loại nào? Giới báu, định báu, tuệ báu, giải thoát báu, trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát báu, các tuệ phân tích báu, các giác chi báu.
Tâu đại vương, giới báu của đức Thế Tôn là cái nào? Giới của sự thu thúc theo giới bổn Pātimokkha, giới của sự thu thúc ở các quyền, giới của sự trong sạch về nuôi mạng, giới liên quan đến các vật dụng, giới nhỏ, giới trung, giới lớn, giới của Đạo, giới của Quả. Tâu đại vương, thế gian luôn cả chư Thiên, cùng với Ma Vương, Phạm Thiên, và các dòng dõi Sa-môn, Bà-la-môn đều ước muốn, mong cầu người đã được trang sức với châu báu của giới.
Tâu đại vương, được chưng diện với châu báu của giới, vị tỳ khưu chiếu sáng, chiếu chói lọi ở hướng chính, hướng phụ, hướng trên, hướng dưới, hướng ngang. Vị ấy vượt qua, ngự trên, nhấn chìm tất cả các châu ngọc ở trong khoảng giữa, tính từ phía dưới là địa ngục Vô Gián từ phía trên là cõi cao nhất, rồi đứng lại. Tâu đại vương, các giới báu có hình thức như thế được chưng bày ở cửa tiệm châu báu của đức Thế Tôn. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘giới báu của đức Thế Tôn.’
‘Các giới có hình thức như thế hiện diện ở cửa tiệm của đức Phật. Các ngươi hãy mua châu báu ấy bằng nghiệp (thiện), và hãy chưng diện.’
BJT 11Tâu đại vương, định báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, định có tầm có tứ, định không tầm chỉ có tứ, định không tầm không tứ, định không tánh, định vô tướng, định vô nguyện. Tâu đại vương, đối với vị tỳ khưu chưng diện định báu, các suy nghĩ về (ngũ) dục, các suy nghĩ về oán hận, các suy nghĩ về hãm hại, ngã mạn, phóng dật, tà kiến, hoài nghi, các nền tảng của phiền não, và nhiều loại suy nghĩ xấu xa, tất cả chúng sau khi tiếp cận với định thì phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, không trụ lại, không đeo bám. Tâu đại vương, giống như nước ở lá sen thì phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, không trụ lại, không đeo bám. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Vì tính chất trong sạch của cây sen. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với vị tỳ khưu chưng diện định báu, các suy nghĩ về (ngũ) dục, các suy nghĩ về oán hận, các suy nghĩ về hãm hại, ngã mạn, phóng dật, tà kiến, hoài nghi, các nền tảng của phiền não, và nhiều loại suy nghĩ xấu xa, tất cả chúng sau khi tiếp cận với định thì phân tán, tiêu tan, tiêu hoại, không trụ lại, không đeo bám. Điều ấy có nguyên nhân là gì? Vì tính chất trong sạch của định. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘định báu của đức Thế Tôn.’ Tâu đại vương, các định báu có hình thức như thế được chưng bày ở cửa tiệm châu báu của đức Thế Tôn.
‘Đối với vị có tràng hoa là định báu, các suy nghĩ xấu xa không sanh lên, và tâm không bị tán loạn, các ngươi hãy chưng diện vật ấy.’
BJT 12Tâu đại vương, tuệ báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, với tuệ nào vị Thánh đệ tử nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Cái này là thiện,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Cái này là bất thiện,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Cái này là có tội, cái này là không có tội, cái này là nên thực hành, cái này là không nên thực hành, cái này là thấp kém, cái này là hảo hạng, cái này là đen, cái này là trắng, cái này có sự lẫn lộn giữa đen và trắng,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’ Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘tuệ báu của đức Thế Tôn.’
‘Đối với vị có tràng hoa là tuệ báu, sự hiện hữu không xoay chuyển lâu dài. Vị ấy mau chóng chạm đến Bất Tử, và không thích thú ở sự hiện hữu.’
BJT 13Tâu đại vương, giải thoát báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, ‘giải thoát báu’ được gọi là phẩm vị A-la-hán. Tâu đại vương, vị tỳ khưu đã đạt đến phẩm vị A-la-hán được gọi là ‘chưng diện giải thoát báu.’
Tâu đại vương, giống như người đàn ông, được trang điểm với đồ trang sức là xâu chuỗi ngọc trai, ngọc ma-ni, vàng, san hô, thân thể được thoa với dầu thơm của các cây tagara, tālīsa, và trầm hương đỏ, được điểm tô với các loại hoa lim, hoa nguyệt quế, hoa salaḷa, hoa cầy, hoa nhài vàng, hoa atimuttaka, hoa vòi voi, hoa sen, hoa nhài trâu, hoa nhài Ả-rập, thì vượt trội, chiếu sáng, chói sáng, soi sáng, tỏa sáng, lóe sáng, rực sáng, phát sáng, ngự trị, nhấn chìm những người còn lại bằng các đồ trang sức là vòng hoa, hương thơm, và châu báu. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị đã đạt đến phẩm vị A-la-hán, có lậu hoặc đã cạn kiệt, được chưng diện giải thoát báu, so với các tỳ khưu đã được giải thoát có liên quan điều này điều khác, thì vượt trội, vượt lên, chiếu sáng, chói sáng, soi sáng, lóe sáng, rực sáng, phát sáng, ngự trị, nhấn chìm với sự giải thoát (của bản thân). Điều ấy có nguyên nhân là gì? Tâu đại vương, vật chưng diện này là tối thắng trong số tất cả các vật chưng diện, tức là giải thoát báu. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘giải thoát báu của đức Thế Tôn.’
‘Người (làm công) trong nhà ngước nhìn người chủ đang mang tràng hoa có ngọc ma-ni, còn thế gian có cả chư Thiên ngước nhìn tràng hoa có giải thoát báu.’
BJT 14Tâu đại vương, trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, trí về việc quán xét lại được gọi là ‘trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát báu’ của đức Thế Tôn, nhờ vào trí ấy vị Thánh đệ tử quán xét lại Đạo, Quả, Niết Bàn, các phiền não đã dứt bỏ và các phiền não còn sót lại.
‘Nhờ vào trí nào, các bậc Thánh biết rõ trạng thái đã hoàn thành phận sự, hỡi những người con của đấng Chiến Thắng, hãy tinh tấn để đạt được châu báu trí tuệ ấy.’
BJT 15Tâu đại vương, tuệ phân tích báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, là bốn tuệ phân tích là ‘tuệ phân tích về ý nghĩa, tuệ phân tích về pháp, tuệ phân tích về ngôn từ, tuệ phân tích về phép biện giải.’ Tâu đại vương, được trang điểm với bốn tuệ phân tích báu này, vị tỳ khưu đi đến mỗi một tập thể nào, dầu là tập thể Sát-đế-lỵ, hay tập thể Bà-la-môn, hay tập thể gia chủ, hay tập thể Sa-môn, đều đi đến với sự tự tin, không có trạng thái hổ thẹn, không nhút nhát, không hãi sợ, không hốt hoảng, đi đến tập thể không bị nổi da gà. Tâu đại vương, giống như người chiến sĩ, anh hùng của chiến trận, đã vũ trang năm loại vũ khí, không kinh sợ, lao vào chiến trận (nghĩ rằng): ‘Nếu các quân địch ở xa, ta sẽ hạ gục bằng mũi tên, kế đó gần hơn nữa thì ta sẽ đánh bằng cây lao, kế đó gần hơn nữa thì ta sẽ đánh bằng cây thương, với kẻ đang tiến đến gần thì ta sẽ chém làm hai bằng cây kiếm lưỡi cong, còn kẻ đã đến sát bên thân thì ta sẽ đâm thủng bằng cây dao.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị tỳ khưu được trang sức với bốn tuệ phân tích đi vào tập thể không kinh sợ (nghĩ rằng): ‘Bất cứ người nào hỏi ta câu hỏi về phân tích ý nghĩa, đối với người ấy ta sẽ thuyết giảng về ý nghĩa bằng ý nghĩa, ta sẽ thuyết giảng về lý do bằng lý do, ta sẽ thuyết giảng về nguyên nhân bằng nguyên nhân, ta sẽ thuyết giảng về phương pháp bằng phương pháp, ta sẽ làm cho không còn nghi ngờ, ta sẽ cô lập sự phân vân, ta sẽ làm cho hoan hỷ bằng sự giải thích câu hỏi.
Bất cứ người nào hỏi ta câu hỏi về phân tích pháp, đối với người ấy ta sẽ thuyết giảng về pháp bằng pháp, ta sẽ thuyết giảng về Bất Tử bằng Bất Tử, ta sẽ thuyết giảng về không tạo tác bằng không tạo tác, ta sẽ thuyết giảng về Niết Bàn bằng Niết Bàn, ta sẽ thuyết giảng về không tánh bằng không tánh, ta sẽ thuyết giảng về vô tướng bằng vô tướng, ta sẽ thuyết giảng về vô nguyện bằng vô nguyện, ta sẽ thuyết giảng về bất động bằng bất động, ta sẽ làm cho không còn nghi ngờ, ta sẽ cô lập sự phân vân, ta sẽ làm cho hoan hỷ bằng sự giải thích câu hỏi.
Bất cứ người nào hỏi ta câu hỏi về phân tích ngôn từ, đối với người ấy ta sẽ thuyết giảng về ngôn từ bằng ngôn từ, ta sẽ thuyết giảng về đoạn kệ đầu bằng đoạn kệ đầu, ta sẽ thuyết giảng về đoạn kệ kế tiếp bằng đoạn kệ kế tiếp, ta sẽ thuyết giảng về âm từ bằng âm từ, ta sẽ thuyết giảng về nối âm bằng nối âm, ta sẽ thuyết giảng về phụ âm bằng phụ âm, ta sẽ thuyết giảng về âm phụ thuộc bằng âm phụ thuộc, ta sẽ thuyết giảng về hình thức bằng hình thức, ta sẽ thuyết giảng về nguyên âm bằng nguyên âm, ta sẽ thuyết giảng về khái niệm bằng khái niệm, ta sẽ thuyết giảng về tên gọi bằng tên gọi, ta sẽ làm cho không còn nghi ngờ, ta sẽ cô lập sự phân vân, ta sẽ làm cho hoan hỷ bằng sự giải thích câu hỏi.
Bất cứ người nào hỏi ta câu hỏi về phân tích phép biện giải, đối với người ấy ta sẽ thuyết giảng về phép biện giải bằng phép biện giải, ta sẽ thuyết giảng về ví dụ bằng ví dụ, ta sẽ thuyết giảng về tướng trạng bằng tướng trạng, ta sẽ thuyết giảng về phẩm vị bằng phẩm vị, ta sẽ làm cho không còn nghi ngờ, ta sẽ cô lập sự phân vân, ta sẽ làm cho hoan hỷ bằng việc giải thích câu hỏi. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘các tuệ phân tích báu của đức Thế Tôn.’
‘Sau khi mua các tuệ phân tích, nhờ vào trí vị nào có thể chạm đến, thì (vị ấy) không kinh sợ, không xao động, chói sáng thế gian luôn cả chư Thiên.’
BJT 16Tâu đại vương, giác chi báu của đức Thế Tôn là cái nào? Tâu đại vương, có bảy giác chi này là: ‘Niệm giác chi, trạch pháp giác chi, cần giác chi, hỷ giác chi, tịnh giác chi, định giác chi, xả giác chi.’ Tâu đại vương, được trang điểm với bảy giác chi báu này, vị tỳ khưu chế ngự mọi sự tối tăm, soi sáng, tỏa sáng, thế gian luôn cả chư Thiên, và làm sanh lên ánh sáng. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘giác chi báu của đức Thế Tôn.’
‘Thế gian luôn cả chư Thiên đều đứng dậy (chào) đối với người có tràng hoa là giác chi báu. các ngươi hãy mua châu báu ấy bằng nghiệp (thiện), và hãy chưng diện.’”
BJT 17“Thưa ngài Nāgasena, cửa tiệm tổng hợp của đức Phật Thế Tôn là cái nào?”
“Tâu đại vương, cửa tiệm tổng hợp của đức Thế Tôn có lời dạy của đức Phật gồm chín thể loại, các xá-lợi, các vật dụng, các bảo tháp, và Hội Chúng báu. Tâu đại vương, do đức Thế Tôn ở cửa tiệm tổng hợp sự thành tựu về sanh chủng được chưng bày, sự thành tựu về của cải được chưng bày, sự thành tựu về tuổi thọ được chưng bày, sự thành tựu về không bệnh được chưng bày, sự thành tựu về sắc đẹp được chưng bày, sự thành tựu về tuệ được chưng bày, sự thành tựu về cõi người được chưng bày, sự thành tựu về cõi trời được chưng bày, sự thành tựu về Niết Bàn được chưng bày.
Tại nơi ấy, những người nào ước muốn sự thành tựu này hay sự thành tựu nọ, những người ấy sau khi trao ra tiền vốn là nghiệp (thiện) rồi mua lấy sự thành tựu đã được mong mỏi thế này thế nọ. Nhiều người mua bằng sự thọ trì giới, nhiều người mua bằng việc hành trì trai giới, rồi nhận được các sự thành tựu tùy theo từng phần tiền vốn là nghiệp (thiện) ít ỏi. Tâu đại vương, giống như ở cửa tiệm của người chủ tiệm có các loại mè, đậu mugga, đậu māsa, những người ấy mua gạo, đậu mugga, đậu māsa, với số lượng chút ít tùy theo từng phần tiền vốn ít ỏi. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ở cửa tiệm tổng hợp của đức Thế Tôn, những người ấy nhận được các sự thành tựu tùy theo từng phần tiền vốn là nghiệp (thiện) ít ỏi. Tâu đại vương, cái này được gọi là ‘cửa tiệm tổng hợp của đức Thế Tôn.’
‘Tuổi thọ, sự không bệnh, sắc đẹp, cõi trời, việc có được gia tộc cao sang, và sự không tạo tác, sự Bất Tử là có ở của hàng tổng hợp, ở đấng Chiến Thắng.
Được nhận lấy ít hay nhiều tùy theo phần tiền vốn là nghiệp (thiện). Này các tỳ khưu, sau khi mua bằng tiền vốn là đức tin, các ngươi hãy được thành tựu.’
BJT 18Tâu đại vương, ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn có những người như thế này sinh sống: Các vị chuyên về Kinh, các vị chuyên về Luật, các vị chuyên về Vi Diệu Pháp, các vị thuyết giảng về Pháp, các vị trì tụng Bổn Sanh, các vị trì tụng Trường Bộ, các vị trì tụng Trung Bộ, các vị trì tụng Tương Ưng, các vị trì tụng Tăng Chi, các vị trì tụng Tiểu Bộ, các vị đầy đủ giới, các vị đầy đủ định, các vị đầy đủ tuệ, các vị thích thú việc tu tập các giác chi, các vị hành minh sát, các vị gắn liền với mục đích của mình, các vị ngụ ở rừng, các vị ngụ ở gốc cây, các vị ngụ ở ngoài trời, các vị ngụ ở đống rơm, các vị ngụ ở mộ địa, các vị (hành pháp) về oai nghi ngồi (không nằm), các vị đã tiến đến (Đạo), các vị đã trú ở Quả, các vị Hữu Học đã đạt được quả vị, các vị Nhập Lưu, các vị Nhất Lai, các vị Bất Lai, các vị A-la-hán có ba Minh, có sáu Thắng Trí, có thần thông, đã đạt đến sự toàn hảo về tuệ, thiện xảo về sự thiết lập niệm, chánh tinh tấn, nền tảng của thần thông, quyền, lực, giác chi, Đạo, thiền, giải thoát, sắc và vô sắc, về việc thể nhập vào sự tịch tịnh và an lạc. Thành phố Giáo Pháp đã là đông đúc, dầy đặc, chen chúc, tràn ngập với các vị A-la-hán ấy, tợ như rừng sậy hay rừng mía đường. Ở đây có:
‘Các vị có luyến ái đã lìa, có sân đã lìa, có si đã lìa, không còn lậu hoặc, có tham ái đã lìa, không còn chấp thủ, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị ngụ ở rừng, duy trì pháp từ khước, chứng thiền, có y thô xấu, thỏa thích sự cô độc, sáng suốt, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị giữ oai nghi ngồi, ngụ chỗ được chỉ định, đứng và đi kinh hành, tất cả đều mang y may bằng vải quăng bỏ, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị sử dụng ba y, thanh tịnh, có mảnh da thú là vật thứ tư, thích thú việc (thọ thực) một chỗ ngồi, hiểu biết, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị ít ham muốn, chín chắn, sáng suốt, (thọ) chút ít vật thực, không tham lam, tự biết đủ với việc có hay không có, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị chứng thiền, thích thú với thiền, sáng suốt, có tâm thanh tịnh, được định tĩnh, có sự mong mỏi về cõi thiền Vô Sở Hữu, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị đã tiến đến (Đạo), đã trú ở Quả, là các bậc Hữu Học, đã đạt được quả vị, là những vị mong mỏi mục đích tối thượng, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị Nhập Lưu, không vết nhơ, và các vị Nhất Lai, các vị Bất Lai, và các vị A-la-hán, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị thiện xảo về sự thiết lập niệm, thích thú việc tu tập các Giác chi, các vị hành Minh Sát, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị thiện xảo về các nền tảng của thần thông, thích thú việc tu tập định, gắn bó với chánh tinh tấn, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị đã đạt đến sự toàn hảo về các Thắng Trí, thích thú với hành xứ có tính chất truyền thống, có sự di chuyển ở không trung, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị có mắt nhìn xuống, nói năng chừng mực, có các giác quan được canh phòng, khéo thu thúc, đã được huấn luyện tốt đẹp ở Giáo Pháp tối thượng, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.
Các vị có ba Minh, và sáu Thắng Trí, đã đi đến sự toàn hảo của thần thông, đã đạt được sự toàn hảo về tuệ, các vị ấy sống ở thành phố Giáo Pháp.’
BJT 19Tâu đại vương, những vị tỳ khưu nào có sự gìn giữ trí cao quý không đo lường được, không bị ràng buộc, có đức hạnh không thể so sánh, có danh vọng không so sánh được, có năng lực không so sánh được, có vinh quanh không so sánh được, là các vị tiếp tục chuyển vận bánh xe Giáo Pháp, đã đi đến sự toàn hảo về tuệ, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘các tướng quân Chánh Pháp’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào có thần thông, có các tuệ phân tích đã được chứng đạt, có các sự tự tín đã được đạt đến, có sự di chuyển ở không trung, khó sánh bằng, khó khuất phục, di chuyển không cần vật để bám víu, làm rúng động trái đất có biển và núi, có thể vuốt ve mặt trăng và mặt trời, thiện xảo về biến hóa, về sự chú nguyện và phát nguyện, đã đi đến sự toàn hảo về thần thông, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị quân sư’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào đã theo đuổi các pháp từ khước, ít ham muốn, tự biết đủ, chán ghét sự yêu cầu và sự tầm cầu sai trái, đi khất thực theo từng nhà, tợ như các con ong hút lấy hương hoa rồi đi vào khu rừng cô quạnh, không quan tâm đến thân thể và mạng sống, đã đạt được phẩm vị A-la-hán, đã được xem là tối thắng về đức hạnh của các pháp từ khước, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị quan tòa’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào thanh tịnh, không vết nhơ, không còn phiền não, thiện xảo về tử sanh, đã đi đến sự toàn hảo về Thiên nhãn, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị thắp sáng thành phố’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào nghe nhiều, có Kinh điển được truyền thừa, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, có sự ghi nhớ về Luật, có sự ghi nhớ về các tiêu đề, thiện xảo về việc chia chẻ các âm là không gió hay có gió, dài hay ngằn, nặng hay nhẹ, có sự ghi nhớ về các lời giáo huấn gồm chín thể loại, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị bảo vệ Giáo Pháp’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào hiểu biết về Luật, thông thái về Luật, thiện xảo về phần mở đầu và phần đọc tụng, thiện xảo về sự phạm tội, sự không phạm tội, tội nặng có thể chữa trị hay không thể chữa trị, sự thoát tội, sự trình báo tội, sự khiển trách, sự sửa chữa, sự mời vào, sự đuổi ra, sự hòa giải, đã đi đến sự toàn hảo về Luật, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị thành thạo về nghi thức’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào được quàng vào tràng hoa gồm các bông hoa cao quý của sự giải thoát, đã đạt được bản thể cao quý, ưu tú, giá trị cao, đứng đầu, được yêu quý và mong mỏi của số đông người, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm hoa’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào đã được thấu triệt sự lãnh hội về bốn Sự Thật, đã nhìn thấy Sự Thật, đã nhận thức được Giáo Pháp, đã vượt qua các sự hoài nghi về bốn quả vị Sa-môn, đã đạt được an lạc của quả vị, và chia phần những quả vị ấy cùng với những vị khác cũng đang thực hành, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm trái cây’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào được thoa hương thơm tốt đẹp cao quý của giới, mang nhiều đức hạnh đủ các loại, làm tiêu tan mùi thối của phiền não và ô nhiễm, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm hương liệu’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào yêu mến Giáo Pháp, có lời nói đáng yêu quý, có sự vui thích tột bực ở Thắng Pháp, ở Thắng Luật, những vị đi vào rừng, đi đến cội cây, đi đến ngôi nhà trống vắng, uống vào vị nếm cao quý của Giáo Pháp, được thấm nhuần hương vị cao quý của Giáo Pháp bằng thân, bằng khẩu, và bằng ý, có tài biện giải tuyệt vời, đã thực hành sự tầm cầu về Pháp trong số các Pháp, từ nơi này hoặc từ nơi kia, ở nơi nào có sự thuyết giảng về ít ham muốn, thuyết giảng về sự tự hoan hỷ, thuyết giảng về sự tách ly, thuyết giảng về sự không kết giao, thuyết giảng về việc khởi sự tinh tấn, thuyết giảng về giới, thuyết giảng về định, thuyết giảng về tuệ, thuyết giảng về giải thoát, thuyết giảng về trí tuệ và nhận thức về sự giải thoát, sau khi đi đến nơi này nơi khác và uống vào từng hương vị của cuộc thuyết giảng, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những vị nghiện uống, có sự khao khát’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào đầu đêm và cuối đêm gắn bó với sự rèn luyện về tỉnh thức, trải qua đêm ngày với việc ngồi, đứng, và đi kinh hành, gắn bó với sự rèn luyện về việc phát triển (thiền), đang đeo đuổi mục đích của mình nhằm xua đuổi các phiền não, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người canh giữ thành phố’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào bảo đọc, bảo đọc theo, giảng giải, lập lại lời dạy của đức Phật gồm chín thể loại về ý nghĩa, về văn tự, về phương pháp, về lý do, về nguyên nhân, và về ví dụ, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người chủ tiệm Giáo Pháp’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào là những người có của cải, có tài sản, với của cải là châu báu về Giáo Pháp, với của cải là sự học tập và lắng nghe về Kinh điển, có sự thấu triệt về nguyên âm, phụ âm, và đặc điểm đã được diễn đạt, có sự hiểu biết rộng rãi, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những người triệu phú về Giáo Pháp’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, hơn nữa những vị tỳ khưu nào có sự thấu triệt sự thuyết giảng tột bực, đã quen thuộc với sự phân loại và mô tả đối tượng (của tâm), đã đạt đến sự toàn hảo về đức hạnh của việc học tập, tâu đại vương, những vị tỳ khưu như thế được gọi là ‘những nhà đạo đức nổi tiếng’ ở thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn.
Tâu đại vương, thành phố Giáo Pháp của đức Thế Tôn đã khéo được bố trí như vậy, khéo được xây dựng như vậy, khéo được sắp xếp như vậy, khéo được bồi đắp như vậy, khéo được xác định như vậy, khéo được bảo vệ như vậy, khéo được gìn giữ như vậy, khó bị chế ngự như vậy bởi những kẻ nghịch, những kẻ thù. Tâu đại vương, với lý do này, với nguyên nhân này, với phương pháp này, với sự suy luận này, nên nhận biết rằng: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’
‘Cũng giống như sau khi nhìn thấy thành phố khéo được bố trí, làm thích ý, bằng suy luận họ nhận biết sự vĩ đại của nhà kiến trúc.
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy thành phố Giáo Pháp cao quý của đấng Bảo Hộ Thế Gian, bằng suy luận họ biết rằng: ‘Có đức Thế Tôn ấy.’
Sau khi nhìn thấy làn sóng ở biển cả, bằng suy luận họ biết rằng theo như làn sóng này được nhìn thấy thì biển cả sẽ là lớn lao.
Tương tợ, đức Phật là bậc xua đi nỗi sầu muộn, không bị đánh bại ở mọi nơi, đã đạt đến sự cạn kiệt của tham ái, có sự thoát khỏi sự luân chuyển trong các cõi.
Sau khi nhìn thấy làn sóng ở thế gian luôn cả chư Thiên, theo như sự lan rộng của làn sóng Giáo Pháp, bằng suy luận có thể biết được đức Phật sẽ là hạng nhất.
Sau khi nhìn thấy ngọn núi vươn cao, theo như cách nó được vươn cao, bằng suy luận họ biết rằng nó sẽ là núi Hi-mã-lạp.
Tương tợ, sau khi nhìn thấy ngọn núi Giáo Pháp của đức Thế Tôn có trạng thái mát lạnh, không có mầm mống tái sanh, vươn cao, không dao động, khéo được thiết lập.
Sau khi nhìn thấy ngọn núi Giáo Pháp, bằng suy luận có thể biết được bậc Đại Hùng ấy chính là như thế, đức Phật sẽ là hạng nhất.
Cũng giống như sau khi nhìn thấy bàn chân của con voi chúa, bằng suy luận mọi người biết được rằng: ‘Con voi ấy là to lớn.’
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy dấu chân của đức Phật vĩ đại, bậc có sự thông suốt, bằng suy luận họ biết rằng vị ấy sẽ là tột bực.
Sau khi nhìn thấy những con thú nhỏ bị sợ hãi, bằng suy luận họ biết rằng: ‘Những con thú nhỏ này bị sợ hãi bởi âm thanh của con thú chúa.’
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy các ngoại đạo bị bối rối, có tâm sợ hãi, bằng suy luận có thể biết được tiếng rống của đấng Pháp Vương.
Sau khi nhìn thấy trái đất đã được nguội lạnh, đạt được màu xanh, có nhiều nước, bằng suy luận họ biết rằng (trái đất) đã được nguội lạnh nhờ đám mưa lớn.
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy người này được vui mừng, hớn hở, bằng suy luận có thể biết được (người ấy) đã được toại ý bởi cơn mưa Giáo Pháp.
Sau khi nhìn thấy bụi bặm bị kết dính, bùn lầy, mặt đất trở thành lầy lội ẩm thấp, bằng suy luận họ biết rằng có khối nước lớn đã đi đến.
Y như thế ấy, sau khi nhìn thấy người này bị lấm lem bởi bụi bặm và bùn lầy, đã được đưa đến ở dòng sông Giáo Pháp, đã được chuyển đến ở biển cả Giáo Pháp.
Sau khi nhìn thấy quả đất này luôn cả chư Thiên đi đến sự Bất Tử của Giáo Pháp, bằng suy luận có thể biết được có Pháp uẩn vĩ đại đã đi đến.
Sau khi ngửi mùi hương tối thượng, bằng suy luận họ biết rằng là theo như mùi hương này thổi đến thì sẽ có những cây đã được trổ hoa.
Y như thế ấy, mùi hương giới đức này thổi ở thế gian luôn cả chư Thiên, bằng suy luận có thể biết được là có đức Phật vô thượng.’
BJT 20Tâu đại vương, có thể chỉ cho thấy năng lực của đức Phật bằng một trăm lý do, bắng một ngàn lý do, bằng một trăm nguyên nhân, bằng một ngàn nguyên nhân, bằng một trăm phương pháp, bằng một ngàn phương pháp, bằng một trăm ví dụ, bằng một ngàn ví dụ. Tâu đại vương, giống như người làm tràng hoa khôn khéo, từ đống bông hoa nhiều loại, theo sự chỉ dạy của người thầy, bằng việc làm của cá nhân một người, có thể tạo thành một đống các kiểu tràng hoa nhiều màu sắc.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Thế Tôn ấy, có đức hạnh vô biên, có đức hạnh vô lượng, ví như đống bông hoa nhiều màu sắc. Giờ đây, ví như người làm tràng hoa, người kết bông hoa trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, cũng bằng đường lối của các vị thầy tiền bối, cũng bằng năng lực ở sự sáng suốt của tôi, tôi sẽ giải thích năng lực của đức Phật bằng cách suy luận bằng nhiều lý lẽ không thể đếm được. Vậy thì trong trường hợp này, đại vương hãy khởi lên ước muốn về việc lắng nghe.”
BJT 21“Thưa ngài Nāgasena, thật là việc khó khăn để chỉ cho thấy năng lực của đức Phật bằng sự suy luận bằng lý lẽ có hình thức như vầy đối với những người khác. Thưa ngài Nāgasena, trẫm đã được thỏa mãn với việc giải thích câu hỏi một cách vô cùng đa dạng của ngài.”
Câu hỏi (giảng bằng sự) suy luận là thứ nhất.
Atha kho milindo rājā yenāyasmā nāgaseno tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā āyasmantaṁ nāgasenaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi, ekamantaṁ nisinno kho milindo rājā ñātukāmo sotukāmo dhāretukāmo ñāṇālokaṁ daṭṭhukāmo aññāṇaṁ bhinditukāmo ñāṇālokaṁ uppādetukāmo avijjandhakāraṁ nāsetukāmo adhimattaṁ dhitiñca ussāhañca satiñca sampajaññañca upaṭṭhapetvā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“bhante nāgasena, kiṁ pana buddho tayā diṭṭho”ti.
“Na hi, mahārājā”ti.
“Kiṁ pana te ācariyehi buddho diṭṭho”ti?
“Na hi, mahārājā”ti.
“Bhante nāgasena, na kira tayā buddho diṭṭho, nāpi kira te ācariyehi buddho diṭṭho.
Tena hi, bhante nāgasena, natthi buddho, na hettha buddho paññāyatī”ti.
“Atthi pana te, mahārāja, pubbakā khattiyā, ye te tava khattiyavaṁsassa pubbaṅgamā”ti?
“Āma, bhante.
Ko saṁsayo, atthi pubbakā khattiyā, ye mama khattiyavaṁsassa pubbaṅgamā”ti.
“Diṭṭhapubbā tayā, mahārāja, pubbakā khattiyā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Ye pana taṁ, mahārāja, anusāsanti purohitā senāpatino akkhadassā mahāmattā, tehi pubbakā khattiyā diṭṭhapubbā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Yadi pana te, mahārāja, pubbakā khattiyā na diṭṭhā, nāpi kira te anusāsakehi pubbakā khattiyā diṭṭhā, tena hi natthi pubbakā khattiyā, na hettha pubbakā khattiyā paññāyantī”ti.
“Dissanti, bhante nāgasena, pubbakānaṁ khattiyānaṁ anubhūtāni paribhogabhaṇḍāni.
Seyyathidaṁ—
setacchattaṁ uṇhīsaṁ pādukā vālabījanī khaggaratanaṁ mahārahāni ca sayanāni.
Yehi mayaṁ jāneyyāma saddaheyyāma ‘atthi pubbakā khattiyā’”ti.
“Evameva kho, mahārāja, mayampetaṁ bhagavantaṁ jāneyyāma saddaheyyāma.
Atthi taṁ kāraṇaṁ, yena mayaṁ kāraṇena jāneyyāma saddaheyyāma ‘atthi so bhagavā’ti.
Katamaṁ taṁ kāraṇaṁ?
Atthi kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena anubhūtāni paribhogabhaṇḍāni.
Seyyathidaṁ—
cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, yehi sadevako loko jānāti saddahati ‘atthi so bhagavā’ti.
Iminā, mahārāja, kāraṇena iminā hetunā iminā nayena iminā anumānena ñātabbo ‘atthi so bhagavā’ti.
‘Bahū jane tārayitvā,
nibbuto upadhikkhaye;
Anumānena ñātabbaṁ,
atthi so dvipaduttamo’”ti.
“Bhante nāgasena, opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, nagaravaḍḍhakī nagaraṁ māpetukāmo paṭhamaṁ tāva samaṁ anunnatamanonataṁ asakkharapāsāṇaṁ nirupaddavamanavajjaṁ ramaṇīyaṁ bhūmibhāgaṁ anuviloketvā yaṁ tattha visamaṁ, taṁ samaṁ kārāpetvā khāṇukaṇṭakaṁ visodhāpetvā tattha nagaraṁ māpeyya sobhanaṁ vibhattaṁ bhāgaso mitaṁ ukkiṇṇaparikhāpākāraṁ daḷhagopuraṭṭālakoṭṭakaṁ puthucaccaracatukkasandhisiṅghāṭakaṁ sucisamatalarājamaggaṁ suvibhattaantarāpaṇaṁ ārāmuyyānataḷākapokkharaṇiudapānasampannaṁ bahuvidhadevaṭṭhānappaṭimaṇḍitaṁ sabbadosavirahitaṁ, so tasmiṁ nagare sabbathā vepullattaṁ patte aññaṁ desaṁ upagaccheyya, atha taṁ nagaraṁ aparena samayena iddhaṁ bhaveyya phītaṁ subhikkhaṁ khemaṁ samiddhaṁ sivaṁ anītikaṁ nirupaddavaṁ nānājanasamākulaṁ, puthū khattiyā brāhmaṇā vessā suddā hatthārohā assārohā rathikā pattikā dhanuggahā tharuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā rājaputtā pakkhandino mahānāgā sūrā vammino yodhino dāsikaputtā bhaṭiputtā mallakā gaṇakā āḷārikā sūdā kappakā nahāpakā cundā mālākārā suvaṇṇakārā sajjhukārā sīsakārā tipukārā lohakārā vaṭṭakārā ayokārā maṇikārā pesakārā kumbhakārā veṇukārā loṇakārā cammakārā rathakārā dantakārā rajjukārā kocchakārā suttakārā vilīvakārā dhanukārā jiyakārā usukārā cittakārā raṅgakārā rajakā tantavāyā tunnavāyā heraññikā dussikā gandhikā tiṇahārakā kaṭṭhahārakā bhatakā paṇṇikā phalikā mūlikā odanikā pūvikā macchikā maṁsikā majjikā naṭakā naccakā laṅghakā indajālikā vetālikā mallā chavaḍāhakā pupphachaḍḍakā venā nesādā gaṇikā lāsikā kumbhadāsiyo sakkayavanacīnavilātā ujjenakā bhārukacchakā kāsikosalā parantakā māgadhakā sāketakā soreyyakā pāveyyakā koṭumbaramāthurakā alasandakasmīragandhārā taṁ nagaraṁ vāsāya upagatā nānāvisayino janā navaṁ suvibhattaṁ adosamanavajjaṁ ramaṇīyaṁ taṁ nagaraṁ passitvā anumānena jānanti ‘cheko vata bho so nagaravaḍḍhakī, yo imassa nagarassa māpetā’ti.
Evameva kho, mahārāja, so bhagavā asamo asamasamo appaṭisamo asadiso atulo asaṅkhyeyyo appameyyo aparimeyyo amitaguṇo guṇapāramippatto anantadhiti anantatejo anantavīriyo anantabalo buddhabalapāramiṁ gato sasenamāraṁ parājetvā diṭṭhijālaṁ padāletvā avijjaṁ khepetvā vijjaṁ uppādetvā dhammukkaṁ dhārayitvā sabbaññutaṁ pāpuṇitvā vijitasaṅgāmo dhammanagaraṁ māpesi.
Bhagavato kho, mahārāja, dhammanagaraṁ sīlapākāraṁ hiriparikhaṁ ñāṇadvārakoṭṭhakaṁ vīriyaaṭṭālakaṁ saddhāesikaṁ satidovārikaṁ paññāpāsādaṁ suttantacaccaraṁ abhidhammasiṅghāṭakaṁ vinayavinicchayaṁ satipaṭṭhānavīthikaṁ, tassa kho pana, mahārāja, satipaṭṭhānavīthiyaṁ evarūpā āpaṇā pasāritā honti.
Seyyathidaṁ—
pupphāpaṇaṁ gandhāpaṇaṁ phalāpaṇaṁ agadāpaṇaṁ osadhāpaṇaṁ amatāpaṇaṁ ratanāpaṇaṁ sabbāpaṇan”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato pupphāpaṇan”ti?
“Atthi kho pana, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena ārammaṇavibhattiyo akkhātā.
Seyyathidaṁ—
aniccasaññā dukkhasaññā anattasaññā asubhasaññā ādīnavasaññā pahānasaññā virāgasaññā nirodhasaññā sabbaloke anabhiratisaññā sabbasaṅkhāresu aniccasaññā ānāpānassati uddhumātakasaññā vinīlakasaññā vipubbakasaññā vicchiddakasaññā vikkhāyitakasaññā vikkhittakasaññā hatavikkhittakasaññā lohitakasaññā puḷavakasaññā aṭṭhikasaññā mettāsaññā karuṇāsaññā muditāsaññā upekkhāsaññā maraṇānussati kāyagatāsati, ime kho, mahārāja, buddhena bhagavatā ārammaṇavibhattiyo akkhātā.
Tattha yo koci jarāmaraṇā muccitukāmo, so tesu aññataraṁ ārammaṇaṁ gaṇhāti, tena ārammaṇena rāgā vimuccati, dosā vimuccati, mohā vimuccati, mānato vimuccati, diṭṭhito vimuccati, saṁsāraṁ tarati, taṇhāsotaṁ nivāreti, tividhaṁ malaṁ visodheti, sabbakilese upahantvā amalaṁ virajaṁ suddhaṁ paṇḍaraṁ ajātiṁ ajaraṁ amaraṁ sukhaṁ sītibhūtaṁ abhayaṁ nagaruttamaṁ nibbānanagaraṁ pavisitvā arahatte cittaṁ vimoceti, idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato pupphāpaṇan’ti.
‘Kammamūlaṁ gahetvāna,
āpaṇaṁ upagacchatha;
Ārammaṇaṁ kiṇitvāna,
tato muccatha muttiyā’”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato gandhāpaṇan”ti?
“Atthi kho pana, mahārāja, tena bhagavatā sīlavibhattiyo akkhātā, yena sīlagandhena anulittā bhagavato puttā sadevakaṁ lokaṁ sīlagandhena dhūpenti sampadhūpenti, disampi anudisampi anuvātampi paṭivātampi vāyanti ativāyanti, pharitvā tiṭṭhanti.
Katamā tā sīlavibhattiyo?
Saraṇasīlaṁ pañcaṅgasīlaṁ aṭṭhaṅgasīlaṁ dasaṅgasīlaṁ pañcuddesapariyāpannaṁ pātimokkhasaṁvarasīlaṁ.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato gandhāpaṇan’ti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena—
‘Na pupphagandho paṭivātameti,
Na candanaṁ taggaramallikā vā;
Satañca gandho paṭivātameti,
Sabbā disā sappuriso pavāyati.
Candanaṁ tagaraṁ vāpi,
uppalaṁ atha vassikī;
Etesaṁ gandhajātānaṁ,
sīlagandho anuttaro.
Appamatto ayaṁ gandho,
yvāyaṁ tagaracandanaṁ;
Yo ca sīlavataṁ gandho,
vāti devesu uttamo’”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato phalāpaṇan”ti?
“Phalāni kho, mahārāja, bhagavatā akkhātāni.
Seyyathidaṁ—
sotāpattiphalaṁ sakadāgāmiphalaṁ anāgāmiphalaṁ arahattaphalaṁ suññataphalasamāpatti animittaphalasamāpatti appaṇihitaphalasamāpatti.
Tattha yo koci yaṁ phalaṁ icchati, so kammamūlaṁ datvā patthitaṁ phalaṁ kiṇāti.
Yadi sotāpattiphalaṁ, yadi sakadāgāmiphalaṁ, yadi anāgāmiphalaṁ, yadi arahattaphalaṁ, yadi suññataphalasamāpattiṁ, yadi animittaphalasamāpattiṁ, yadi appaṇihitaphalasamāpattiṁ.
Yathā, mahārāja, kassaci purisassa dhuvaphalo ambo bhaveyya, so na tāva tato phalāni pāteti, yāva kayikā na āgacchanti, anuppatte pana kayike mūlaṁ gahetvā evaṁ ācikkhati ‘ambho purisa, eso kho dhuvaphalo ambo, tato yaṁ icchasi, ettakaṁ phalaṁ gaṇhāhi salāṭukaṁ vā dovilaṁ vā kesikaṁ vā āmaṁ vā pakkaṁ vā’ti, so tena attanā dinnamūlena yadi salāṭukaṁ icchati, salāṭukaṁ gaṇhāti, yadi dovilaṁ icchati, dovilaṁ gaṇhāti, yadi kesikaṁ icchati, kesikaṁ gaṇhāti, yadi āmakaṁ icchati, āmakaṁ gaṇhāti, yadi pakkaṁ icchati, pakkaṁ gaṇhāti.
Evameva kho, mahārāja, yo yaṁ phalaṁ icchati, so kammamūlaṁ datvā patthitaṁ phalaṁ gaṇhāti, yadi sotāpattiphalaṁ …pe…
yadi appaṇihitaphalasamāpattiṁ, idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato phalāpaṇan’ti.
‘Kammamūlaṁ janā datvā,
gaṇhanti amatapphalaṁ;
Tena te sukhitā honti,
ye kītā amatapphalan’”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato agadāpaṇan”ti?
“Agadāni kho, mahārāja, bhagavatā akkhātāni, yehi agadehi so bhagavā sadevakaṁ lokaṁ kilesavisato parimoceti.
Katamāni pana tāni agadāni?
Yānimāni, mahārāja, bhagavatā cattāri ariyasaccāni akkhātāni.
Seyyathidaṁ—
dukkhaṁ ariyasaccaṁ dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ, tattha ye keci aññāpekkhā catusaccaṁ dhammaṁ suṇanti, te jātiyā parimuccanti, jarāya parimuccanti, maraṇā parimuccanti, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi parimuccanti, idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato agadāpaṇan’ti.
‘Ye keci agadā loke,
visānaṁ paṭibāhakā;
Dhammāgadasamaṁ natthi,
etaṁ pivatha bhikkhavo’”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato osadhāpaṇan”ti?
“Osadhāni kho, mahārāja, bhagavatā akkhātāni, yehi osadhehi so bhagavā devamanusse tikicchati.
Seyyathidaṁ—
cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, etehi osadhehi bhagavā micchādiṭṭhiṁ vireceti, micchāsaṅkappaṁ vireceti, micchāvācaṁ vireceti, micchākammantaṁ vireceti, micchāājīvaṁ vireceti, micchāvāyāmaṁ vireceti, micchāsatiṁ vireceti, micchāsamādhiṁ vireceti, lobhavamanaṁ kāreti, dosavamanaṁ kāreti, mohavamanaṁ kāreti, mānavamanaṁ kāreti, diṭṭhivamanaṁ kāreti, vicikicchāvamanaṁ kāreti, uddhaccavamanaṁ kāreti, thinamiddhavamanaṁ kāreti, ahirikānottappavamanaṁ kāreti, sabbakilesavamanaṁ kāreti, idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato osadhāpaṇan’ti.
‘Ye keci osadhā loke,
vijjanti vividhā bahū;
Dhammosadhasamaṁ natthi,
etaṁ pivatha bhikkhavo.
Dhammosadhaṁ pivitvāna,
ajarāmaraṇā siyuṁ;
Bhāvayitvā ca passitvā,
nibbutā upadhikkhaye’”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato amatāpaṇan”ti?
“Amataṁ kho, mahārāja, bhagavatā akkhātaṁ, yena amatena so bhagavā sadevakaṁ lokaṁ abhisiñci, yena amatena abhisittā devamanussā jātijarābyādhimaraṇasokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi parimucciṁsu.
Katamaṁ taṁ amataṁ?
Yadidaṁ kāyagatāsati.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena ‘amataṁ te, bhikkhave, paribhuñjanti, ye kāyagatāsatiṁ paribhuñjantī’ti.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato amatāpaṇan’ti.
‘Byādhitaṁ janataṁ disvā,
Amatāpaṇaṁ pasārayi;
Kammena taṁ kiṇitvāna,
Amataṁ ādetha bhikkhavo’”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato ratanāpaṇan”ti?
“Ratanāni kho, mahārāja, bhagavatā akkhātāni, yehi ratanehi vibhūsitā bhagavato puttā sadevakaṁ lokaṁ virocanti obhāsenti pabhāsenti jalanti pajjalanti uddhaṁ adho tiriyaṁ ālokaṁ dassenti.
Katamāni tāni ratanāni?
Sīlaratanaṁ samādhiratanaṁ paññāratanaṁ vimuttiratanaṁ vimuttiñāṇadassanaratanaṁ paṭisambhidāratanaṁ bojjhaṅgaratanaṁ.
Katamaṁ, mahārāja, bhagavato sīlaratanaṁ?
Pātimokkhasaṁvarasīlaṁ indriyasaṁvarasīlaṁ ājīvapārisuddhisīlaṁ paccayasannissitasīlaṁ cūḷasīlaṁ majjhimasīlaṁ mahāsīlaṁ maggasīlaṁ phalasīlaṁ.
Sīlaratanena kho, mahārāja, vibhūsitassa puggalassa sadevako loko samārako sabrahmako sassamaṇabrāhmaṇī pajā pihayati pattheti, sīlaratanapiḷandho kho, mahārāja, bhikkhu disampi anudisampi uddhampi adhopi tiriyampi virocati ativirocati, heṭṭhato avīciṁ uparito bhavaggaṁ upādāya etthantare sabbaratanāni atikkamitvā abhibhavitvā ajjhottharitvā tiṭṭhati, evarūpāni kho, mahārāja, sīlaratanāni bhagavato ratanāpaṇe pasāritāni, idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato sīlaratanan’ti.
‘Evarūpāni sīlāni,
santi buddhassa āpaṇe;
Kammena taṁ kiṇitvāna,
ratanaṁ vo piḷandhathā’ti.
Katamaṁ, mahārāja, bhagavato samādhiratanaṁ?
Savitakkasavicāro samādhi, avitakkavicāramatto samādhi, avitakkaavicāro samādhi, suññato samādhi, animitto samādhi, appaṇihito samādhi.
Samādhiratanaṁ kho, mahārāja, piḷandhassa bhikkhuno ye te kāmavitakkabyāpādavitakkavihiṁsāvitakkamānuddhaccadiṭṭhivicikicchākilesavatthūni vividhāni ca kuvitakkāni, te sabbe samādhiṁ āsajja vikiranti vidhamanti viddhaṁsanti na saṇṭhanti na upalimpanti.
Yathā, mahārāja, vāri pokkharapatte vikirati vidhamati viddhaṁsati na saṇṭhāti na upalimpati.
Taṁ kissa hetu?
Parisuddhattā padumassa.
Evameva kho, mahārāja, samādhiratanaṁ piḷandhassa bhikkhuno ye te kāmavitakkabyāpādavitakkavihiṁsāvitakkamānuddhaccadiṭṭhivicikicchākilesavatthūni vividhāni ca kuvitakkāni, te sabbe samādhiṁ āsajja vikiranti vidhamanti viddhaṁsanti na saṇṭhanti na upalimpanti.
Taṁ kissa hetu?
Parisuddhattā samādhissa.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato samādhiratanan’ti, evarūpāni kho, mahārāja, samādhiratanāni bhagavato ratanāpaṇe pasāritāni.
‘Samādhiratanamālassa,
kuvitakkā na jāyare;
Na ca vikkhipate cittaṁ,
etaṁ tumhe piḷandhathā’ti.
Katamaṁ, mahārāja, bhagavato paññāratanaṁ?
Yāya, mahārāja, paññāya ariyasāvako ‘idaṁ kusalan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘idaṁ akusalan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘idaṁ sāvajjaṁ, idaṁ anavajjaṁ, idaṁ sevitabbaṁ, idaṁ na sevitabbaṁ, idaṁ hīnaṁ, idaṁ paṇītaṁ, idaṁ kaṇhaṁ, idaṁ sukkaṁ, idaṁ kaṇhasukkasappaṭibhāgan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato paññāratanan’ti.
‘Paññāratanamālassa,
na ciraṁ vattate bhavo;
Khippaṁ phasseti amataṁ,
na ca so rocate bhave’ti.
Katamaṁ, mahārāja, bhagavato vimuttiratanaṁ?
Vimuttiratanaṁ kho, mahārāja, arahattaṁ vuccati, arahattaṁ patto kho, mahārāja, bhikkhu ‘vimuttiratanaṁ piḷandho’ti vuccati.
Yathā, mahārāja, puriso muttākalāpamaṇikalāpapavāḷakalāpābharaṇappaṭimaṇḍito agalutagaratālīsakalohitacandanānulittagatto nāgapunnāgasālasalaḷacampakayūthikātimuttakapāṭaluppalavassikamallikāvicitto sesajane atikkamitvā virocati ativirocati obhāsati pabhāsati sampabhāsati jalati pajjalati abhibhavati ajjhottharati mālāgandharatanābharaṇehi;
evameva kho, mahārāja, arahattaṁ patto khīṇāsavo vimuttiratanapiḷandho upādāyupādāya vimuttānaṁ bhikkhūnaṁ atikkamitvā samatikkamitvā virocati ativirocati obhāsati pabhāsati sampabhāsati jalati pajjalati abhibhavati ajjhottharati vimuttiyā.
Taṁ kissa hetu?
Aggaṁ, mahārāja, etaṁ piḷandhanaṁ sabbapiḷandhanānaṁ, yadidaṁ vimuttipiḷandhanaṁ.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato vimuttiratanan’ti.
‘Maṇimālādharaṁ geha,
jano sāmiṁ udikkhati;
Vimuttiratanamālantu,
udikkhanti sadevakā’ti.
Katamaṁ, mahārāja, bhagavato vimuttiñāṇadassanaratanaṁ?
Paccavekkhaṇañāṇaṁ, mahārāja, bhagavato vimuttiñāṇadassanaratananti vuccati, yena ñāṇena ariyasāvako maggaphalanibbānāni pahīnakilesāvasiṭṭhakilese ca paccavekkhati.
‘Yena ñāṇena bujjhanti,
ariyā katakiccataṁ;
Taṁ ñāṇaratanaṁ laddhuṁ,
vāyametha jinorasā’ti.
Katamaṁ, mahārāja, bhagavato paṭisambhidāratanaṁ?
Catasso kho, mahārāja, paṭisambhidāyo atthapaṭisambhidā dhammapaṭisambhidā niruttipaṭisambhidā paṭibhānapaṭisambhidāti.
Imehi kho, mahārāja, catūhi paṭisambhidāratanehi samalaṅkato bhikkhu yaṁ yaṁ parisaṁ upasaṅkamati, yadi khattiyaparisaṁ, yadi brāhmaṇaparisaṁ, yadi gahapatiparisaṁ, yadi samaṇaparisaṁ, visārado upasaṅkamati amaṅkubhūto abhīru acchambhī anutrāsī vigatalomahaṁso parisaṁ upasaṅkamati.
Yathā, mahārāja, yodho saṅgāmasūro sannaddhapañcāvudho acchambhito saṅgāmaṁ otarati, ‘sace amittā dūre bhavissanti usunā pātayissāmi, tato orato bhavissanti sattiyā paharissāmi, tato orato bhavissanti kaṇayena paharissāmi, upagataṁ santaṁ maṇḍalaggena dvidhā chindissāmi, kāyūpagataṁ churikāya vinivijjhissāmī’ti;
evameva kho, mahārāja, catupaṭisambhidāratanamaṇḍito bhikkhu acchambhito parisaṁ upasaṅkamati.
‘Yo koci maṁ atthapaṭisambhide pañhaṁ pucchissati, tassa atthena atthaṁ kathayissāmi, kāraṇena kāraṇaṁ kathayissāmi, hetunā hetuṁ kathayissāmi, nayena nayaṁ kathayissāmi, nissaṁsayaṁ karissāmi, vimatiṁ vivecessāmi, tosayissāmi pañhaveyyākaraṇena.
Yo koci maṁ dhammapaṭisambhide pañhaṁ pucchissati, tassa dhammena dhammaṁ kathayissāmi, amatena amataṁ kathayissāmi, asaṅkhatena asaṅkhataṁ kathayissāmi, nibbānena nibbānaṁ kathayissāmi, suññatena suññataṁ kathayissāmi, animittena animittaṁ kathayissāmi, appaṇihitena appaṇihitaṁ kathayissāmi, anejena anejaṁ kathayissāmi, nissaṁsayaṁ karissāmi, vimatiṁ vivecessāmi, tosayissāmi pañhaveyyākaraṇena.
Yo koci maṁ niruttipaṭisambhide pañhaṁ pucchissati, tassa niruttiyā niruttiṁ kathayissāmi, padena padaṁ kathayissāmi, anupadena anupadaṁ kathayissāmi, akkharena akkharaṁ kathayissāmi, sandhiyā sandhiṁ kathayissāmi, byañjanena byañjanaṁ kathayissāmi, anubyañjanena anubyañjanaṁ kathayissāmi, vaṇṇena vaṇṇaṁ kathayissāmi, sarena saraṁ kathayissāmi, paññattiyā paññattiṁ kathayissāmi, vohārena vohāraṁ kathayissāmi, nissaṁsayaṁ karissāmi, vimatiṁ vivecessāmi, tosayissāmi pañhaveyyākaraṇena.
Yo koci maṁ paṭibhānapaṭisambhide pañhaṁ pucchissati, tassa paṭibhānena paṭibhānaṁ kathayissāmi, opammena opammaṁ kathayissāmi, lakkhaṇena lakkhaṇaṁ kathayissāmi, rasena rasaṁ kathayissāmi, nissaṁsayaṁ karissāmi, vimatiṁ vivecessāmi, tosayissāmi pañhaveyyākaraṇenā’ti.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato paṭisambhidāratanan’ti.
‘Paṭisambhidā kiṇitvāna,
Ñāṇena phassayeyya yo;
Acchambhito anubbiggo,
Atirocati sadevake’ti.
Katamaṁ, mahārāja, bhagavato bojjhaṅgaratanaṁ?
Sattime, mahārāja, bojjhaṅgā, satisambojjhaṅgo dhammavicayasambojjhaṅgo vīriyasambojjhaṅgo pītisambojjhaṅgo passaddhisambojjhaṅgo samādhisambojjhaṅgo upekkhāsambojjhaṅgo.
Imehi kho, mahārāja, sattahi bojjhaṅgaratanehi paṭimaṇḍito bhikkhu sabbaṁ tamaṁ abhibhuyya sadevakaṁ lokaṁ obhāseti pabhāseti ālokaṁ janeti.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato bojjhaṅgaratanan’ti.
‘Bojjhaṅgaratanamālassa,
uṭṭhahanti sadevakā;
Kammena taṁ kiṇitvāna,
ratanaṁ vo piḷandhathā’”ti.
“Bhante nāgasena, katamaṁ buddhassa bhagavato sabbāpaṇan”ti?
“Sabbāpaṇaṁ kho, mahārāja, bhagavato navaṅgaṁ buddhavacanaṁ sārīrikāni pāribhogikāni cetiyāni saṅgharatanañca.
Sabbāpaṇe, mahārāja, bhagavatā jātisampatti pasāritā, bhogasampatti pasāritā, āyusampatti pasāritā, ārogyasampatti pasāritā, vaṇṇasampatti pasāritā, paññāsampatti pasāritā, mānusikasampatti pasāritā, dibbasampatti pasāritā, nibbānasampatti pasāritā.
Tattha ye taṁ taṁ sampattiṁ icchanti, te kammamūlaṁ datvā patthitapatthitaṁ sampattiṁ kiṇanti, keci sīlasamādānena kiṇanti, keci uposathakammena kiṇanti, appamattakenapi kammamūlena upādāyupādāya sampattiyo paṭilabhanti.
Yathā, mahārāja, āpaṇikassa āpaṇe tilamuggamāse parittakenapi taṇḍulamuggamāsena appakenapi mūlena upādāyupādāya gaṇhanti;
evameva kho, mahārāja, bhagavato sabbāpaṇe appamattakenapi kammamūlena upādāyupādāya sampattiyo paṭilabhanti.
Idaṁ vuccati, mahārāja, ‘bhagavato sabbāpaṇan’ti.
‘Āyu arogatā vaṇṇaṁ,
saggaṁ uccākulīnatā;
Asaṅkhatañca amataṁ,
atthi sabbāpaṇe jine.
Appena bahukenāpi,
kammamūlena gayhati;
Kiṇitvā saddhāmūlena,
samiddhā hotha bhikkhavo’ti.
Bhagavato kho, mahārāja, dhammanagare evarūpā janā paṭivasanti, suttantikā venayikā ābhidhammikā dhammakathikā jātakabhāṇakā dīghabhāṇakā majjhimabhāṇakā saṁyuttabhāṇakā aṅguttarabhāṇakā khuddakabhāṇakā sīlasampannā samādhisampannā paññāsampannā bojjhaṅgabhāvanāratā vipassakā sadatthamanuyuttā āraññikā rukkhamūlikā abbhokāsikā palālapuñjikā sosānikā nesajjikā paṭipannakā phalaṭṭhā sekkhā phalasamaṅgino sotāpannā sakadāgāmino anāgāmino arahanto tevijjā chaḷabhiññā iddhimanto paññāya pāramiṅgatā satipaṭṭhānasammappadhānaiddhipādaindriyabalabojjhaṅgamaggavarajhānavimokkharūpārūpasantasukhasamāpattikusalā, tehi arahantehi ākulaṁ samākulaṁ ākiṇṇaṁ samākiṇṇaṁ naḷavanasaravanamiva dhammanagaraṁ ahosi.
Bhavatīha—
‘Vītarāgā vītadosā,
vītamohā anāsavā;
Vītataṇhā anādānā,
dhammanagare vasanti te.
Āraññikā dhutadharā,
jhāyino lūkhacīvarā;
Vivekābhiratā dhīrā,
dhammanagare vasanti te.
Nesajjikā santhatikā,
athopi ṭhānacaṅkamā;
Paṁsukūladharā sabbe,
dhammanagare vasanti te.
Ticīvaradharā santā,
cammakhaṇḍacatutthakā;
Ratā ekāsane viññū,
dhammanagare vasanti te.
Appicchā nipakā dhīrā,
appāhārā alolupā;
Lābhālābhena santuṭṭhā,
dhammanagare vasanti te.
Jhāyī jhānaratā dhīrā,
santacittā samāhitā;
Ākiñcaññaṁ patthayānā,
dhammanagare vasanti te.
Paṭipannā phalaṭṭhā ca,
sekkhā phalasamaṅgino;
Āsīsakā uttamatthaṁ,
dhammanagare vasanti te.
Sotāpannā ca vimalā,
sakadāgāmino ca ye;
Anāgāmī ca arahanto,
dhammanagare vasanti te.
Satipaṭṭhānakusalā,
bojjhaṅgabhāvanāratā;
Vipassakā dhammadharā,
dhammanagare vasanti te.
Iddhipādesu kusalā,
samādhibhāvanāratā;
Sammappadhānānuyuttā,
dhammanagare vasanti te.
Abhiññāpāramippattā,
pettike gocare ratā;
Antalikkhamhi caraṇā,
dhammanagare vasanti te.
Okkhittacakkhū mitabhāṇī,
guttadvārā susaṁvutā;
Sudantā uttame damme,
dhammanagare vasanti te.
Tevijjā chaḷabhiññā ca,
Iddhiyā pāramiṁ gatā;
Paññāya pāramippattā,
Dhammanagare vasanti te’ti.
Ye kho te, mahārāja, bhikkhū aparimitañāṇavaradharā asaṅgā atulaguṇā atulayasā atulabalā atulatejā dhammacakkānuppavattakā paññāpāramiṁ gatā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘dhammasenāpatino’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū iddhimanto adhigatappaṭisambhidāpattavesārajjā gaganacarā durāsadā duppasahā anālambacarā sasāgaramahidharapathavikampakā candasūriyaparimajjakā vikubbanādhiṭṭhānābhinīhārakusalā iddhiyā pāramiṁ gatā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘purohitā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū dhutaṅgamanugatā appicchā santuṭṭhā viññattimanesanajigucchakā piṇḍāya sapadānacārino bhamarāva gandhamanughāyitvā pavisanti vivittakānanaṁ, kāye ca jīvite ca nirapekkhā arahattamanuppattā dhutaṅgaguṇe agganikkhittā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘akkhadassā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū parisuddhā vimalā nikkilesā cutūpapātakusalā dibbacakkhumhi pāramiṁ gatā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘nagarajotakā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā sithiladhanitadīgharassagarukalahukakkharaparicchedakusalā navaṅgasāsanadharā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘dhammarakkhā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū vinayaññū vinayakovidā ṭhānāṭṭhānakusalā āpattānāpattigarukalahukasatekicchaatekicchavuṭṭhānadesanāniggahapaṭikammaosāraṇanissāraṇapaṭisāraṇakusalā vinaye pāramiṁ gatā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘rūparakkhā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū vimuttivarakusumamālabaddhā varapavaramahagghaseṭṭhabhāvamanuppattā bahujanakantamabhipatthitā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘pupphāpaṇikā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū catusaccābhisamayappaṭividdhā diṭṭhasaccā viññātasāsanā catūsu sāmaññaphalesu tiṇṇavicikicchā paṭiladdhaphalasukhā aññesampi paṭipannānaṁ te phale saṁvibhajanti, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘phalāpaṇikā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū sīlasaṁvaragandhamanulittā anekavidhabahuguṇadharā kilesamaladuggandhavidhamakā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘gandhāpaṇikā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū dhammakāmā piyasamudāhārā abhidhamme abhivinaye uḷārapāmojjā araññagatāpi rukkhamūlagatāpi suññāgāragatāpi dhammavararasaṁ pivanti, kāyena vācāya manasā dhammavararasamogāḷhā adhimattapaṭibhānā dhammesu dhammesanappaṭipannā ito vā tato vā yattha yattha appicchakathā santuṭṭhikathā pavivekakathā asaṁsaggakathā vīriyārambhakathā sīlakathā samādhikathā paññākathā vimuttikathā vimuttiñāṇadassanakathā, tattha tattha gantvā taṁ taṁ kathārasaṁ pivanti, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘soṇḍā pipāsā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū pubbarattāpararattaṁ jāgariyānuyogamanuyuttā nisajjaṭṭhānacaṅkamehi rattindivaṁ vītināmenti, bhāvanānuyogamanuyuttā kilesapaṭibāhanāya sadatthappasutā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘nagaraguttikā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū navaṅgaṁ buddhavacanaṁ atthato ca byañjanato ca nayato ca kāraṇato ca hetuto ca udāharaṇato ca vācenti anuvācenti bhāsanti anubhāsanti, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘dhammāpaṇikā’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū dhammaratanabhogena āgamapariyattisutabhogena bhogino dhanino niddiṭṭhasarabyañjanalakkhaṇappaṭivedhā viññū pharaṇā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘dhammaseṭṭhino’ti vuccanti.
Ye pana te, mahārāja, bhikkhū uḷāradesanāpaṭivedhā pariciṇṇārammaṇavibhattiniddesā sikkhāguṇapāramippattā, evarūpā kho, mahārāja, bhikkhū bhagavato dhammanagare ‘vissutadhammikā’ti vuccanti.
Evaṁ suvibhattaṁ kho, mahārāja, bhagavato dhammanagaraṁ evaṁ sumāpitaṁ evaṁ suvihitaṁ evaṁ suparipūritaṁ evaṁ suvavatthāpitaṁ evaṁ surakkhitaṁ evaṁ sugopitaṁ evaṁ duppasayhaṁ paccatthikehi paccāmittehi, iminā, mahārāja, kāraṇena iminā hetunā iminā nayena iminā anumānena ñātabbaṁ atthi so bhagavāti.
‘Yathāpi nagaraṁ disvā,
suvibhattaṁ manoramaṁ;
Anumānena jānanti,
vaḍḍhakissa mahattanaṁ.
Tatheva lokanāthassa,
disvā dhammapuraṁ varaṁ;
Anumānena jānanti,
atthi so bhagavā iti.
Anumānena jānanti,
ūmiṁ disvāna sāgare;
Yathāyaṁ dissate ūmi,
mahanto so bhavissati.
Tathā buddhaṁ sokanudaṁ,
sabbatthamaparājitaṁ;
Taṇhakkhayamanuppattaṁ,
bhavasaṁsāramocanaṁ.
Anumānena ñātabbaṁ,
ūmiṁ disvā sadevake;
Yathā dhammūmivipphāro,
aggo buddho bhavissati.
Anumānena jānanti,
disvā accuggataṁ giriṁ;
Yathā accuggato eso,
himavā so bhavissati.
Tathā disvā dhammagiriṁ,
sītībhūtaṁ nirūpadhiṁ;
Accuggataṁ bhagavato,
acalaṁ suppatiṭṭhitaṁ.
Anumānena ñātabbaṁ,
disvāna dhammapabbataṁ;
Tathā hi so mahāvīro,
aggo buddho bhavissati.
Yathāpi gajarājassa,
padaṁ disvāna mānusā;
Anumānena jānanti,
mahā eso gajo iti.
Tatheva buddhanāgassa,
padaṁ disvā vibhāvino;
Anumānena jānanti,
uḷāro so bhavissati.
Anumānena jānanti,
bhīte disvāna kummige;
Migarājassa saddena,
bhītāme kummigā iti.
Tatheva titthiye disvā,
vitthate bhītamānase;
Anumānena ñātabbaṁ,
dhammarājena gajjitaṁ.
Nibbutaṁ pathaviṁ disvā,
haritapattaṁ mahodikaṁ;
Anumānena jānanti,
mahāmeghena nibbutaṁ.
Tathevimaṁ janaṁ disvā,
āmoditapamoditaṁ;
Anumānena ñātabbaṁ,
dhammameghena tappitaṁ.
Laggaṁ disvā bhusaṁ paṅkaṁ,
kalaladdagataṁ mahiṁ;
Anumānena jānanti,
vārikkhandho mahā gato.
Tathevimaṁ janaṁ disvā,
rajapaṅkasamohitaṁ;
Vahitaṁ dhammanadiyā,
visaṭṭhaṁ dhammasāgare.
Dhammāmatagataṁ disvā,
sadevakamimaṁ mahiṁ;
Anumānena ñātabbaṁ,
dhammakkhandho mahā gato.
Anumānena jānanti,
ghāyitvā gandhamuttamaṁ;
Yathāyaṁ vāyate gandho,
hessanti pupphitā dumā.
Tathevāyaṁ sīlagandho,
pavāyati sadevake;
Anumānena ñātabbaṁ,
atthi buddho anuttaro’ti.
Evarūpena kho, mahārāja, kāraṇasatena kāraṇasahassena hetusatena hetusahassena nayasatena nayasahassena opammasatena opammasahassena sakkā buddhabalaṁ upadassayituṁ.
Yathā, mahārāja, dakkho mālākāro nānāpuppharāsimhā ācariyānusiṭṭhiyā paccattapurisakārena vicittaṁ mālāguṇarāsiṁ kareyya;
evameva kho, mahārāja, so bhagavā vicittapuppharāsi viya anantaguṇo appameyyaguṇo, ahametarahi jinasāsane mālākāro viya pupphaganthako pubbakānaṁ ācariyānaṁ maggenapi mayhaṁ buddhibalenapi asaṅkhyeyyenapi kāraṇena anumānena buddhabalaṁ dīpayissāmi, tvaṁ panettha chandaṁ janehi savanāyā”ti.
“Dukkaraṁ, bhante nāgasena, aññesaṁ evarūpena kāraṇena anumānena buddhabalaṁ upadassayituṁ, nibbutosmi, bhante nāgasena, tumhākaṁ paramavicittena pañhaveyyākaraṇenā”ti.
Anumānapañho paṭhamo.