BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có phải có vị trí ấy ở hướng đông, hay ở hướng nam, hay ở hướng tây, hay ở hướng bắc, hay ở hướng trên, hay ở hướng dưới, hay ở hướng ngang, là nơi Niết Bàn được chứa đựng?”
“Tâu đại vương, không có vị trí ấy ở hướng đông, hay ở hướng nam, hay ở hướng tây, hay ở hướng bắc, hay ở hướng trên, hay ở hướng dưới, hay ở hướng ngang, là nơi Niết Bàn được chứa đựng.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu không có chỗ chứa đựng của Niết Bàn, như thế thì không có Niết Bàn, và đối với những vị nào mà Niết Bàn ấy đã được chứng ngộ, thì sự chứng ngộ của những vị ấy cũng là sai trái, trẫm sẽ nói lý do của trường hợp này. Thưa ngài Nāgasena, giống như ở trái đất có ruộng sản xuất lúa gạo, có hoa sản xuất ra hương thơm, có lùm cây sản xuất ra hoa, có cây cối sản xuất ra trái, có hầm mỏ sản xuất ra châu báu, bất cứ ai ước muốn vật gì tại nơi đó, thì người ấy đi đến nơi đó rồi mang đi vật ấy. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế nếu có Niết Bàn, thì chỗ sản xuất của Niết Bàn ấy cũng là điều được mong mỏi. Và thưa ngài Nāgasena, chính bởi vì không có chỗ sản xuất của Niết Bàn, vì thế trẫm nói là; ‘Không có Niết Bàn.’ Và đối với những vị nào mà Niết Bàn ấy đã được chứng ngộ, thì sự chứng ngộ của những vị ấy cũng là sai trái.’”
BJT 2“Tâu đại vương, không có chỗ chứa đựng của Niết Bàn. Và có Niết Bàn ấy. Người thực hành đúng đắn chứng ngộ Niết Bàn nhờ vào sự tác ý đúng đường lối. Tâu đại vương, giống như có cái gọi là ngọn lửa, (nhưng) không có chỗ chứa đựng của nó. Trong khi cọ xát hai thanh củi với nhau thì đạt được ngọn lửa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế có Niết Bàn, (nhưng) không có chỗ chứa đựng của Niết Bàn. Người thực hành đúng đắn chứng ngộ Niết Bàn nhờ vào sự tác ý đúng đường lối.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như có cái gọi là bảy báu vật, như là: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc ma-ni báu, nữ nhân báu, gia chủ báu, tướng quân báu, và không có chỗ chứa đựng của các báu vật ấy. Tuy nhiên, đối với vị Sát-đế-lỵ đã thực hành đúng đắn, do nhờ năng lực của sự thực hành mà các báu vật ấy đi đến (với vị ấy). Tâu đại vương, tương tợ y như thế có Niết Bàn, (nhưng) không có chỗ chứa đựng của Niết Bàn. Người thực hành đúng đắn chứng ngộ Niết Bàn nhờ vào sự tác ý đúng đường lối.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì chớ có chỗ chứa đựng của Niết Bàn. Tuy nhiên, có phải có chỗ đứng ấy, mà người đứng tại chỗ ấy thực hành đúng đắn thì chứng ngộ Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Có chỗ đứng ấy, mà người đứng tại chỗ ấy thực hành đúng đắn thì chứng ngộ Niết Bàn.”
“Thưa ngài, vậy thì chỗ đứng ấy là chỗ nào mà người đứng tại chỗ ấy thực hành đúng đắn thì chứng ngộ Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giới là chỗ đứng. Người đã thiết lập ở giới, trong khi tác ý đúng đường lối, dầu là ở Saka hay ở Yavana, ở Cīna hay ở Vilāta, ở Alasanda, ở Nikumba, ở Kāsi hay ở Kosala, ở Kasmīra, ở Gandhāra, ở đỉnh núi, ở thế giới Phạm Thiên, dầu đứng ở bất cứ nơi đâu mà thực hành đúng đắn đều chứng ngộ Niết Bàn.
Tâu đại vương, giống như người đàn ông nào đó, sáng mắt, dầu là ở Saka hay ở Yavana, ở Cīna hay ở Vilāta, ở Alasanda, ở Nikumba, ở Kāsi hay ở Kosala ở Kasmīra, ở Gandhāra, ở đỉnh núi, ở thế giới Phạm Thiên, dầu đứng ở bất cứ nơi đâu đều nhìn thấy bầu không gian. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người đã thiết lập ở giới, trong khi tác ý đúng đường lối, dầu là ở Saka hay ở Yavana … (như trên) … dầu đứng ở bất cứ nơi đâu mà thực hành đúng đắn đều chứng ngộ Niết Bàn.
Tâu đại vương, hoặc là giống như dầu là ở Saka hay ở Yavana … (như trên) … đối với người đứng dầu ở bất cứ nơi đâu đều có phương bắc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người đã thiết lập ở giới, trong khi tác ý đúng đường lối, dầu là ở Saka hay ở Yavana … (như trên) … đối với người đứng dầu ở bất cứ nơi đâu mà thực hành đúng đắn đều chứng ngộ Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Niết Bàn đã được ngài giảng giải, sự chứng ngộ Niết Bàn đã được giảng giải, đức hạnh của giới đã được trang bị, sự thực hành đúng đắn đã được chỉ ra, biểu hiện của Chánh Pháp đã được giương cao, lối dẫn vào Chánh Pháp đã được thiết lập, sự ra sức đúng đắn của những vị đã ra sức tốt đẹp là không vô ích. Hỡi vị cao quý và ưu tú trong số các vị có đồ chúng, trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về nơi chứa đựng Niết Bàn là thứ mười hai.
Phẩm Vessantara là phẩm thứ ba.
(Ở phẩm này có mười hai câu hỏi)
“Bhante nāgasena, atthi so padeso puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya uddhaṁ vā adho vā tiriyaṁ vā, yattha nibbānaṁ sannihitan”ti?
“Natthi, mahārāja, so padeso puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya uddhaṁ vā adho vā tiriyaṁ vā, yattha nibbānaṁ sannihitan”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, natthi nibbānassa sannihitokāso, tena hi natthi nibbānaṁ?
Yesañca taṁ nibbānaṁ sacchikataṁ, tesampi sacchikiriyā micchā, kāraṇaṁ tattha vakkhāmi.
Yathā, bhante nāgasena, mahiyā dhaññuṭṭhānaṁ khettaṁ atthi, gandhuṭṭhānaṁ pupphaṁ atthi, pupphuṭṭhānaṁ gumbo atthi, phaluṭṭhānaṁ rukkho atthi, ratanuṭṭhānaṁ ākaro atthi, tattha yo koci yaṁ yaṁ icchati, so tattha gantvā taṁ taṁ harati;
evameva kho, bhante nāgasena, yadi nibbānaṁ atthi, tassa nibbānassa uṭṭhānokāsopi icchitabbo, yasmā ca kho, bhante nāgasena, nibbānassa uṭṭhānokāso natthi, tasmā natthi nibbānanti brūmi, yesañca nibbānaṁ sacchikataṁ, tesampi sacchikiriyā micchā”ti.
“Natthi, mahārāja, nibbānassa sannihitokāso, atthi cetaṁ nibbānaṁ, sammāpaṭipanno yoniso manasikārena nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā pana, mahārāja, atthi aggi nāma, natthi tassa sannihitokāso, dve kaṭṭhāni saṅghaṭṭento aggiṁ adhigacchati;
evameva kho, mahārāja, atthi nibbānaṁ, natthi tassa sannihitokāso, sammāpaṭipanno yoniso manasikārena nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā vā pana, mahārāja, atthi satta ratanāni nāma.
Seyyathidaṁ—
cakkaratanaṁ hatthiratanaṁ assaratanaṁ maṇiratanaṁ itthiratanaṁ gahapatiratanaṁ pariṇāyakaratanaṁ.
Na ca tesaṁ ratanānaṁ sannihitokāso atthi, khattiyassa pana sammāpaṭipannassa paṭipattibalena tāni ratanāni upagacchanti.
Evameva kho, mahārāja, atthi nibbānaṁ, natthi tassa sannihitokāso, sammāpaṭipanno yoniso manasikārena nibbānaṁ sacchikarotī”ti.
“Bhante nāgasena, nibbānassa sannihitokāso mā hotu, atthi pana taṁ ṭhānaṁ, yattha ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṁ sacchikarotī”ti?
“Āma, mahārāja, atthi taṁ ṭhānaṁ, yattha ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṁ sacchikarotī”ti.
“Katamaṁ pana, bhante, taṁ ṭhānaṁ, yattha ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṁ sacchikarotī”ti?
“Sīlaṁ, mahārāja, ṭhānaṁ, sīle patiṭṭhito yoniso manasikaronto sakkayavanepi cīnavilātepi alasandepi nigumbepi kāsikosalepi kasmīrepi gandhārepi nagamuddhanipi brahmalokepi yattha katthacipi ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā, mahārāja, yo koci cakkhumā puriso sakayavanepi cīnavilātepi alasandepi nigumbepi kāsikosalepi kasmīrepi gandhārepi nagamuddhanipi brahmalokepi yattha katthacipi ṭhito ākāsaṁ passati;
evameva kho, mahārāja, sīle patiṭṭhito yoniso manasikaronto sakayavanepi …pe…
yattha katthacipi ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā vā pana, mahārāja, sakayavanepi …pe…
yattha katthacipi ṭhitassa pubbadisā atthi;
evameva kho, mahārāja, sīle patiṭṭhitassa yoniso manasikarontassa sakkayavanepi …pe…
yattha katthacipi ṭhitassa sammāpaṭipannassa atthi nibbānasacchikiriyā”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, desitaṁ tayā nibbānaṁ, desitā nibbānasacchikiriyā, parikkhatā sīlaguṇā, dassitā sammāpaṭipatti, ussāpito dhammaddhajo, saṇṭhapitā dhammanetti, avañjho suppayuttānaṁ sammāpayogo, evametaṁ gaṇivarapavara tathā sampaṭicchāmī”ti.
Nibbānasannihitapañho dvādasamo.
Vessantaravaggo tatiyo.
Imasmiṁ vagge dvādasa pañhā.
PTS vp En 202 PTS cs 85 ‘Venerable Nāgasena, does there exist the spot—either in the direction of the East, or of the South, or of the West, or of the North, either above, or below, or on the horizon-where Nirvāṇa is stored up ?’
‘There is no spot, O king—either in the East, or the South, or in the West, or the North, either above, or below, or on the horizon—where Nirvāṇa is.’
‘But if so, Nāgasena, then neither can Nirvāṇa exist, and those who realise it, their realisation is vain. And I will give you an explanation of this. Just, Sir, as there are on the earth fields in which crops can be grown, flowers from which perfumes come, bushes on which flowers can grow, trees on which fruits can ripen, mines from which gems can be dug, so that whosoever desires any of these things can go there and get it—just so, Nāgasena, if PTS vp Pali 327 Nirvāṇa exists one must expect there to be some place, where it is produced. But since there is not, therefore I declare that there can be no Nirvāṇa, and those who realise it, their realisation is vain.’
PTS cs 86 ‘There is no spot, O king, where Nirvāṇa is PTS vp En 203 situate, and yet Nirvāṇa is, and he who orders his life right will, by careful attention, realise Nirvāṇa. Just as fire exists, and yet there is no place where fire (by itself) is stored up. But if a man rubs two sticks together the fire comes;—just so, O king, Nirvāṇa exists, though there is no spot where it is stored up. And he who orders his life aright will, by careful attention, realise Nirvāṇa.
PTS cs 87 ‘Or again, O king, just as there are the seven treasures of the king of kings—the treasure of the wheel, and the treasure of the elephant, and the treasure of the horse, and the treasure of the gem, and the treasure of the woman, and the treasure of the finance minister, and the treasure of the adviser. But there is no spot where these treasures are laid up. When a sovran conducts himself aright they appear to him of their own accord —just so, O king, Nirvāṇa, exists, though there is no place where it is stored up. And he who orders his life aright will, by careful attention, realise Nirvāṇa.’
PTS cs 88 ‘Venerable Nāgasena, let it be granted that there is no place where Nirvāṇa, is stored up. But is there any place on which a man may stand and, ordering his life aright, realise Nirvāṇa?’
‘Yes, O king, there is such a place.’
‘Which then, Nāgasena, is that place
‘Virtue, O king, is the place. For if grounded in virtue, and careful in attention—whether in the land of the Scythians or the Greeks, whether in China or PTS vp En 204 Tartary, whether in Alexandria or in Nikumba, whether in Benares or in Kosala, whether in Kashmir or in Gandhāra, whether on a mountain top or in the highest heavens —wheresoever he may be, the man who orders his life aright will realise Nirvāṇa. PTS vp Pali 328 Just, O king, as the man who has eyes wherever he may be—in the land of the Scythians or the Greeks, in China or in Tartary, in Alexandria, Nikumba, Benares, or Kosala, in Kashmir or in Gandhāra, on a mountain top or in the highest heavens—will be able to behold the expanse of heaven and to see the horizon facing him—just so, O king, will he who orders his conduct aright and is careful in attention—whether in the land of the Scythians or the Greeks, whether in China or Tartary, whether in Alexandria, or Benares, or Kosala, or Nikumba, whether in Kashmir or in Gandhāra, whether on a mountain top or in the highest heavens—wheresoever he may be, attain to the realisation of Nirvāṇa.’
‘Very good, Nāgasena! You have preached to me of Nirvāṇa, and of the realisation thereof, you have set forth the advantages of virtue, you have explained the supreme attainment, you have raised aloft the standard of the Truth, you have established the eye of Truth, you have shown how right means adopted by those of high aims will be neither PTS vp En 205 barren nor unfruitful. That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the problem of the place of Nirvāṇa.
Here ends the Eighth Chapter.
PTS vp En 206 BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, có phải có vị trí ấy ở hướng đông, hay ở hướng nam, hay ở hướng tây, hay ở hướng bắc, hay ở hướng trên, hay ở hướng dưới, hay ở hướng ngang, là nơi Niết Bàn được chứa đựng?”
“Tâu đại vương, không có vị trí ấy ở hướng đông, hay ở hướng nam, hay ở hướng tây, hay ở hướng bắc, hay ở hướng trên, hay ở hướng dưới, hay ở hướng ngang, là nơi Niết Bàn được chứa đựng.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu không có chỗ chứa đựng của Niết Bàn, như thế thì không có Niết Bàn, và đối với những vị nào mà Niết Bàn ấy đã được chứng ngộ, thì sự chứng ngộ của những vị ấy cũng là sai trái, trẫm sẽ nói lý do của trường hợp này. Thưa ngài Nāgasena, giống như ở trái đất có ruộng sản xuất lúa gạo, có hoa sản xuất ra hương thơm, có lùm cây sản xuất ra hoa, có cây cối sản xuất ra trái, có hầm mỏ sản xuất ra châu báu, bất cứ ai ước muốn vật gì tại nơi đó, thì người ấy đi đến nơi đó rồi mang đi vật ấy. Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế nếu có Niết Bàn, thì chỗ sản xuất của Niết Bàn ấy cũng là điều được mong mỏi. Và thưa ngài Nāgasena, chính bởi vì không có chỗ sản xuất của Niết Bàn, vì thế trẫm nói là; ‘Không có Niết Bàn.’ Và đối với những vị nào mà Niết Bàn ấy đã được chứng ngộ, thì sự chứng ngộ của những vị ấy cũng là sai trái.’”
BJT 2“Tâu đại vương, không có chỗ chứa đựng của Niết Bàn. Và có Niết Bàn ấy. Người thực hành đúng đắn chứng ngộ Niết Bàn nhờ vào sự tác ý đúng đường lối. Tâu đại vương, giống như có cái gọi là ngọn lửa, (nhưng) không có chỗ chứa đựng của nó. Trong khi cọ xát hai thanh củi với nhau thì đạt được ngọn lửa. Tâu đại vương, tương tợ y như thế có Niết Bàn, (nhưng) không có chỗ chứa đựng của Niết Bàn. Người thực hành đúng đắn chứng ngộ Niết Bàn nhờ vào sự tác ý đúng đường lối.
BJT 3Tâu đại vương, hoặc là giống như có cái gọi là bảy báu vật, như là: bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc ma-ni báu, nữ nhân báu, gia chủ báu, tướng quân báu, và không có chỗ chứa đựng của các báu vật ấy. Tuy nhiên, đối với vị Sát-đế-lỵ đã thực hành đúng đắn, do nhờ năng lực của sự thực hành mà các báu vật ấy đi đến (với vị ấy). Tâu đại vương, tương tợ y như thế có Niết Bàn, (nhưng) không có chỗ chứa đựng của Niết Bàn. Người thực hành đúng đắn chứng ngộ Niết Bàn nhờ vào sự tác ý đúng đường lối.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, vậy thì chớ có chỗ chứa đựng của Niết Bàn. Tuy nhiên, có phải có chỗ đứng ấy, mà người đứng tại chỗ ấy thực hành đúng đắn thì chứng ngộ Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, đúng vậy. Có chỗ đứng ấy, mà người đứng tại chỗ ấy thực hành đúng đắn thì chứng ngộ Niết Bàn.”
“Thưa ngài, vậy thì chỗ đứng ấy là chỗ nào mà người đứng tại chỗ ấy thực hành đúng đắn thì chứng ngộ Niết Bàn?”
“Tâu đại vương, giới là chỗ đứng. Người đã thiết lập ở giới, trong khi tác ý đúng đường lối, dầu là ở Saka hay ở Yavana, ở Cīna hay ở Vilāta, ở Alasanda, ở Nikumba, ở Kāsi hay ở Kosala, ở Kasmīra, ở Gandhāra, ở đỉnh núi, ở thế giới Phạm Thiên, dầu đứng ở bất cứ nơi đâu mà thực hành đúng đắn đều chứng ngộ Niết Bàn.
Tâu đại vương, giống như người đàn ông nào đó, sáng mắt, dầu là ở Saka hay ở Yavana, ở Cīna hay ở Vilāta, ở Alasanda, ở Nikumba, ở Kāsi hay ở Kosala ở Kasmīra, ở Gandhāra, ở đỉnh núi, ở thế giới Phạm Thiên, dầu đứng ở bất cứ nơi đâu đều nhìn thấy bầu không gian. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người đã thiết lập ở giới, trong khi tác ý đúng đường lối, dầu là ở Saka hay ở Yavana … (như trên) … dầu đứng ở bất cứ nơi đâu mà thực hành đúng đắn đều chứng ngộ Niết Bàn.
Tâu đại vương, hoặc là giống như dầu là ở Saka hay ở Yavana … (như trên) … đối với người đứng dầu ở bất cứ nơi đâu đều có phương bắc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đối với người đã thiết lập ở giới, trong khi tác ý đúng đường lối, dầu là ở Saka hay ở Yavana … (như trên) … đối với người đứng dầu ở bất cứ nơi đâu mà thực hành đúng đắn đều chứng ngộ Niết Bàn.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Niết Bàn đã được ngài giảng giải, sự chứng ngộ Niết Bàn đã được giảng giải, đức hạnh của giới đã được trang bị, sự thực hành đúng đắn đã được chỉ ra, biểu hiện của Chánh Pháp đã được giương cao, lối dẫn vào Chánh Pháp đã được thiết lập, sự ra sức đúng đắn của những vị đã ra sức tốt đẹp là không vô ích. Hỡi vị cao quý và ưu tú trong số các vị có đồ chúng, trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về nơi chứa đựng Niết Bàn là thứ mười hai.
Phẩm Vessantara là phẩm thứ ba.
(Ở phẩm này có mười hai câu hỏi)
“Bhante nāgasena, atthi so padeso puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya uddhaṁ vā adho vā tiriyaṁ vā, yattha nibbānaṁ sannihitan”ti?
“Natthi, mahārāja, so padeso puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya uddhaṁ vā adho vā tiriyaṁ vā, yattha nibbānaṁ sannihitan”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, natthi nibbānassa sannihitokāso, tena hi natthi nibbānaṁ?
Yesañca taṁ nibbānaṁ sacchikataṁ, tesampi sacchikiriyā micchā, kāraṇaṁ tattha vakkhāmi.
Yathā, bhante nāgasena, mahiyā dhaññuṭṭhānaṁ khettaṁ atthi, gandhuṭṭhānaṁ pupphaṁ atthi, pupphuṭṭhānaṁ gumbo atthi, phaluṭṭhānaṁ rukkho atthi, ratanuṭṭhānaṁ ākaro atthi, tattha yo koci yaṁ yaṁ icchati, so tattha gantvā taṁ taṁ harati;
evameva kho, bhante nāgasena, yadi nibbānaṁ atthi, tassa nibbānassa uṭṭhānokāsopi icchitabbo, yasmā ca kho, bhante nāgasena, nibbānassa uṭṭhānokāso natthi, tasmā natthi nibbānanti brūmi, yesañca nibbānaṁ sacchikataṁ, tesampi sacchikiriyā micchā”ti.
“Natthi, mahārāja, nibbānassa sannihitokāso, atthi cetaṁ nibbānaṁ, sammāpaṭipanno yoniso manasikārena nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā pana, mahārāja, atthi aggi nāma, natthi tassa sannihitokāso, dve kaṭṭhāni saṅghaṭṭento aggiṁ adhigacchati;
evameva kho, mahārāja, atthi nibbānaṁ, natthi tassa sannihitokāso, sammāpaṭipanno yoniso manasikārena nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā vā pana, mahārāja, atthi satta ratanāni nāma.
Seyyathidaṁ—
cakkaratanaṁ hatthiratanaṁ assaratanaṁ maṇiratanaṁ itthiratanaṁ gahapatiratanaṁ pariṇāyakaratanaṁ.
Na ca tesaṁ ratanānaṁ sannihitokāso atthi, khattiyassa pana sammāpaṭipannassa paṭipattibalena tāni ratanāni upagacchanti.
Evameva kho, mahārāja, atthi nibbānaṁ, natthi tassa sannihitokāso, sammāpaṭipanno yoniso manasikārena nibbānaṁ sacchikarotī”ti.
“Bhante nāgasena, nibbānassa sannihitokāso mā hotu, atthi pana taṁ ṭhānaṁ, yattha ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṁ sacchikarotī”ti?
“Āma, mahārāja, atthi taṁ ṭhānaṁ, yattha ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṁ sacchikarotī”ti.
“Katamaṁ pana, bhante, taṁ ṭhānaṁ, yattha ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṁ sacchikarotī”ti?
“Sīlaṁ, mahārāja, ṭhānaṁ, sīle patiṭṭhito yoniso manasikaronto sakkayavanepi cīnavilātepi alasandepi nigumbepi kāsikosalepi kasmīrepi gandhārepi nagamuddhanipi brahmalokepi yattha katthacipi ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā, mahārāja, yo koci cakkhumā puriso sakayavanepi cīnavilātepi alasandepi nigumbepi kāsikosalepi kasmīrepi gandhārepi nagamuddhanipi brahmalokepi yattha katthacipi ṭhito ākāsaṁ passati;
evameva kho, mahārāja, sīle patiṭṭhito yoniso manasikaronto sakayavanepi …pe…
yattha katthacipi ṭhito sammāpaṭipanno nibbānaṁ sacchikaroti.
Yathā vā pana, mahārāja, sakayavanepi …pe…
yattha katthacipi ṭhitassa pubbadisā atthi;
evameva kho, mahārāja, sīle patiṭṭhitassa yoniso manasikarontassa sakkayavanepi …pe…
yattha katthacipi ṭhitassa sammāpaṭipannassa atthi nibbānasacchikiriyā”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, desitaṁ tayā nibbānaṁ, desitā nibbānasacchikiriyā, parikkhatā sīlaguṇā, dassitā sammāpaṭipatti, ussāpito dhammaddhajo, saṇṭhapitā dhammanetti, avañjho suppayuttānaṁ sammāpayogo, evametaṁ gaṇivarapavara tathā sampaṭicchāmī”ti.
Nibbānasannihitapañho dvādasamo.
Vessantaravaggo tatiyo.
Imasmiṁ vagge dvādasa pañhā.