BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Năm tính chất của loài rùa nên được hành trì,’ năm tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài rùa là loài sống ở nước, sắp xếp chỗ trú ngụ ở ngay trong nước. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên lan tỏa toàn thể thế gian với tâm ý bao la, vĩ đại, không đo lường được, không thù oán, không hãm hại, đồng hành với từ ái, có lòng thương tưởng đến sự lợi ích của tất cả các cá nhân có mạng sống và đang hiện hữu, rồi an trú. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của loài rùa nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài rùa trong khi nổi lên ở trong nước thì ngước đầu lên nhìn xem, nếu nhìn thấy ai đó thì ngay tại nơi ấy lặn xuống, và chìm sâu (nghĩ rằng): ‘Chớ để những kẻ ấy nhìn thấy ta lần nữa.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập, khi các phiền não xâm nhập thì nên lặn xuống hồ nước là cảnh giới (của đề mục thiền), và nên chìm sâu (nghĩ rằng): ‘Chớ để các phiền não nhìn thấy ta lần nữa.’ Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của loài rùa nên được hành trì.
BJT 3Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài rùa sau khi đi ra khỏi nước thì sưởi ấm thân thể. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập sau khi đưa tâm ý ra khỏi việc ngồi, đứng, nằm, đi kinh hành thì nên sưởi ấm tâm ý ở sự nỗ lực đúng đắn. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ ba của loài rùa nên được hành trì.
BJT 4Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài rùa sau khi đào đất thì sắp đặt chỗ ngụ ở nơi cô quạnh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên dứt bỏ lợi lộc, tôn kính, tiếng tăm, nên đi sâu vào nơi trống vắng, cô quạnh, khu rừng lớn, khu rừng thưa, sườn núi, thung lũng, hang núi, nơi ít âm thanh, ít tiếng ồn, được tách biệt, nên đi đến chỗ trú ngụ ở ngay tại nơi cô quạnh. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ tư của loài rùa nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Upasena, con trai của Vaṅganta, nói đến:
‘Vị tỳ khưu, vì nguyên nhân thiền tịnh, nên tới lui chỗ trú ngụ cô quạnh, ít tiếng ồn, được lai vãng bởi các thú dữ.’
BJT 5Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài rùa trong lúc đi lang thang, nếu nhìn thấy cái gì hoặc nghe được cái gì, thì thu giấu các chân và cái đầu là thứ năm ở trong cái vỏ của mình, không cử động, có trạng thái im lặng, giữ yên, trong khi hộ trì thân thể.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập, ở tất cả các nơi, trong khi các sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp xâm nhập, thì không nên mở ra cánh cửa phòng hộ ở sáu căn, nên tập trung tâm trí, nên thực hành sự thu thúc, nên sống có niệm và có sự nhận biết rõ trong khi hộ trì Sa-môn pháp. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ năm của loài rùa nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Tương Ưng Bộ quý báu, bài Kinh Ví Dụ Con Rùa:
‘Tợ như con rùa đang thu lại các phần thân thể ở trong cái vỏ của mình, vị tỳ khưu trong khi tập trung lại các sự suy nghĩ của tâm, không bị lệ thuộc, không quấy rối kẻ khác, được hoàn toàn tịch tịnh, không chửi mắng bất cứ ai.’”
Câu hỏi về tính chất của loài rùa là thứ sáu.
“Bhante nāgasena, ‘kummassa pañca aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni pañca aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, kummo udakacaro udakeyeva vāsaṁ kappeti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena sabbapāṇabhūtapuggalānaṁ hitānukampinā mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena sabbāvantaṁ lokaṁ pharitvā viharitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, kummassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, kummo udake uppilavanto sīsaṁ ukkhipitvā yadi koci passati, tattheva nimujjati gāḷhamogāhati ‘mā maṁ te puna passeyyun’ti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena kilesesu opatantesu ārammaṇasare nimujjitabbaṁ gāḷhamogāhitabbaṁ ‘mā maṁ kilesā puna passeyyun’ti.
Idaṁ, mahārāja, kummassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, kummo udakato nikkhamitvā kāyaṁ otāpeti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena nisajjaṭṭhānasayanacaṅkamato mānasaṁ nīharitvā sammappadhāne mānasaṁ otāpetabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, kummassa tatiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, kummo pathaviṁ khaṇitvā vivitte vāsaṁ kappeti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena lābhasakkārasilokaṁ pajahitvā suññaṁ vivittaṁ kānanaṁ vanapatthaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ appasaddaṁ appanigghosaṁ pavivittamogāhitvā vivitte yeva vāsaṁ upagantabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, kummassa catutthaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena upasenena vaṅgantaputtena—
‘Vivittaṁ appanigghosaṁ,
vāḷamiganisevitaṁ;
Seve senāsanaṁ bhikkhu,
paṭisallānakāraṇā’ti.
Puna caparaṁ, mahārāja, kummo cārikaṁ caramāno yadi kañci passati vā, saddaṁ suṇāti vā, soṇḍipañcamāni aṅgāni sake kapāle nidahitvā appossukko tuṇhībhūto tiṭṭhati kāyamanurakkhanto;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena sabbattha rūpasaddagandharasaphoṭṭhabbadhammesu āpatantesu chasu dvāresu saṁvarakavāṭaṁ anugghāṭetvā mānasaṁ samodahitvā saṁvaraṁ katvā satena sampajānena vihātabbaṁ samaṇadhammaṁ anurakkhamānena.
Idaṁ, mahārāja, kummassa pañcamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena saṁyuttanikāyavare kummūpamasuttante—
‘Kummova aṅgāni sake kapāle,
Samodahaṁ bhikkhu manovitakke;
Anissito aññamaheṭhayāno,
Parinibbuto nūpavadeyya kañcī’”ti.
Kummaṅgapañho chaṭṭho.
PTS cs 12 ‘Venerable Nāgasena, those five qualities of the tortoise which you say he ought to take, what are they? ’
‘Just, O king, as the tortoise, which is a water animal, keeps to the water; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, let his heart go out over the whole wide world with pity and with love—mighty, abounding, beyond measure, free from every feeling of hatred or of malice—towards all creatures that have life. This, O king, is the first of the qualities of the tortoise he ought to have.
PTS cs 13 ‘And again, O king, just as the tortoise, when, as he swims on the water and raises his head, he catches sight of any one, that moment sinks, and dives into the depths, lest they should see him again; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, when evil inclinations fall upon him, sink into the waters of meditation, dive down into the deeps thereof, lest those evil inclinations should catch sight of him again. This, O king, is the PTS vp En 289 second of the qualities of the tortoise he ought to have.
PTS cs 14 PTS vp Pali 371 ‘And again, O king, just as the tortoise gets up out of the water, and suns himself; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, when he rouses himself (withdraws his mind) out of meditation—whether taken sitting, or lying down, or standing, or walking up and down—sun his mind in the Great Struggle against evil dispositions. This, O king, is the third of the qualities of the tortoise he ought to have.
PTS cs 15 ‘And again, O king, just as the tortoise, digging a hole in the ground, dwells alone; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, giving up worldly gain and honour and praise, take up his abode alone, plunging into the solitudes of empty lonely places in the groves and woods and hills, in caves and grottoes, noiseless and quiet. This, O king, is the fourth of the qualities of the tortoise he ought to have. For it was said, O king, by Upasena, the Elder, of the sons of the Vaṅgantas:
“Lonely and quiet places, haunts
Of the deer, and of wild beasts,
Should the Bhikshu seek as his abode,
For solitude’s sweet sake.”
PTS cs 16 ‘And again, O king, as the tortoise, when on his rounds he sees any one, draws in at once all his head and limbs into his shell, and hiding them there, keeps still in silence to save himself; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, wheresoever forms, or sounds, or odours, or tastes, PTS vp En 290 or feelings strike upon him, shut to the gate of self-restraint at the six doors of his senses, cover up his mind in self-control, and continue constant in mindfulness and thoughtfulness to save his Samanaship. This, O king, is the fifth of the qualities of the tortoise he ought to have. For it was said, O king, by the Blessed One, the god over all gods, in the most excellent Saṁyutta Nikāya, in the Sutta of the parable of the tortoise:
“As the tortoise withdraws his limbs in his shell,
Let the Bhikshu bury the thoughts of his mind,
Himself Independent, injuring none,
Set free himself, speaking evil of none.”’
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Năm tính chất của loài rùa nên được hành trì,’ năm tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài rùa là loài sống ở nước, sắp xếp chỗ trú ngụ ở ngay trong nước. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên lan tỏa toàn thể thế gian với tâm ý bao la, vĩ đại, không đo lường được, không thù oán, không hãm hại, đồng hành với từ ái, có lòng thương tưởng đến sự lợi ích của tất cả các cá nhân có mạng sống và đang hiện hữu, rồi an trú. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của loài rùa nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài rùa trong khi nổi lên ở trong nước thì ngước đầu lên nhìn xem, nếu nhìn thấy ai đó thì ngay tại nơi ấy lặn xuống, và chìm sâu (nghĩ rằng): ‘Chớ để những kẻ ấy nhìn thấy ta lần nữa.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập, khi các phiền não xâm nhập thì nên lặn xuống hồ nước là cảnh giới (của đề mục thiền), và nên chìm sâu (nghĩ rằng): ‘Chớ để các phiền não nhìn thấy ta lần nữa.’ Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của loài rùa nên được hành trì.
BJT 3Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài rùa sau khi đi ra khỏi nước thì sưởi ấm thân thể. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập sau khi đưa tâm ý ra khỏi việc ngồi, đứng, nằm, đi kinh hành thì nên sưởi ấm tâm ý ở sự nỗ lực đúng đắn. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ ba của loài rùa nên được hành trì.
BJT 4Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài rùa sau khi đào đất thì sắp đặt chỗ ngụ ở nơi cô quạnh. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên dứt bỏ lợi lộc, tôn kính, tiếng tăm, nên đi sâu vào nơi trống vắng, cô quạnh, khu rừng lớn, khu rừng thưa, sườn núi, thung lũng, hang núi, nơi ít âm thanh, ít tiếng ồn, được tách biệt, nên đi đến chỗ trú ngụ ở ngay tại nơi cô quạnh. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ tư của loài rùa nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Upasena, con trai của Vaṅganta, nói đến:
‘Vị tỳ khưu, vì nguyên nhân thiền tịnh, nên tới lui chỗ trú ngụ cô quạnh, ít tiếng ồn, được lai vãng bởi các thú dữ.’
BJT 5Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài rùa trong lúc đi lang thang, nếu nhìn thấy cái gì hoặc nghe được cái gì, thì thu giấu các chân và cái đầu là thứ năm ở trong cái vỏ của mình, không cử động, có trạng thái im lặng, giữ yên, trong khi hộ trì thân thể.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập, ở tất cả các nơi, trong khi các sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp xâm nhập, thì không nên mở ra cánh cửa phòng hộ ở sáu căn, nên tập trung tâm trí, nên thực hành sự thu thúc, nên sống có niệm và có sự nhận biết rõ trong khi hộ trì Sa-môn pháp. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ năm của loài rùa nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Tương Ưng Bộ quý báu, bài Kinh Ví Dụ Con Rùa:
‘Tợ như con rùa đang thu lại các phần thân thể ở trong cái vỏ của mình, vị tỳ khưu trong khi tập trung lại các sự suy nghĩ của tâm, không bị lệ thuộc, không quấy rối kẻ khác, được hoàn toàn tịch tịnh, không chửi mắng bất cứ ai.’”
Câu hỏi về tính chất của loài rùa là thứ sáu.
“Bhante nāgasena, ‘kummassa pañca aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni pañca aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, kummo udakacaro udakeyeva vāsaṁ kappeti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena sabbapāṇabhūtapuggalānaṁ hitānukampinā mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena sabbāvantaṁ lokaṁ pharitvā viharitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, kummassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, kummo udake uppilavanto sīsaṁ ukkhipitvā yadi koci passati, tattheva nimujjati gāḷhamogāhati ‘mā maṁ te puna passeyyun’ti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena kilesesu opatantesu ārammaṇasare nimujjitabbaṁ gāḷhamogāhitabbaṁ ‘mā maṁ kilesā puna passeyyun’ti.
Idaṁ, mahārāja, kummassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, kummo udakato nikkhamitvā kāyaṁ otāpeti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena nisajjaṭṭhānasayanacaṅkamato mānasaṁ nīharitvā sammappadhāne mānasaṁ otāpetabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, kummassa tatiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, kummo pathaviṁ khaṇitvā vivitte vāsaṁ kappeti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena lābhasakkārasilokaṁ pajahitvā suññaṁ vivittaṁ kānanaṁ vanapatthaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ appasaddaṁ appanigghosaṁ pavivittamogāhitvā vivitte yeva vāsaṁ upagantabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, kummassa catutthaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena upasenena vaṅgantaputtena—
‘Vivittaṁ appanigghosaṁ,
vāḷamiganisevitaṁ;
Seve senāsanaṁ bhikkhu,
paṭisallānakāraṇā’ti.
Puna caparaṁ, mahārāja, kummo cārikaṁ caramāno yadi kañci passati vā, saddaṁ suṇāti vā, soṇḍipañcamāni aṅgāni sake kapāle nidahitvā appossukko tuṇhībhūto tiṭṭhati kāyamanurakkhanto;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena sabbattha rūpasaddagandharasaphoṭṭhabbadhammesu āpatantesu chasu dvāresu saṁvarakavāṭaṁ anugghāṭetvā mānasaṁ samodahitvā saṁvaraṁ katvā satena sampajānena vihātabbaṁ samaṇadhammaṁ anurakkhamānena.
Idaṁ, mahārāja, kummassa pañcamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena saṁyuttanikāyavare kummūpamasuttante—
‘Kummova aṅgāni sake kapāle,
Samodahaṁ bhikkhu manovitakke;
Anissito aññamaheṭhayāno,
Parinibbuto nūpavadeyya kañcī’”ti.
Kummaṅgapañho chaṭṭho.