BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Hai tính chất của loài khỉ nên được hành trì,’ hai tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài khỉ, trong khi đi đến chỗ trú, thì đi đến chỗ trú ở khoảng trống có hình thức như thế: là ở thân cây to lớn vĩ đại, được tách biệt, có cành lá ở mọi nơi, là chốn nương nhờ cho kẻ bị sợ hãi.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên sống nương tựa vào vị thầy, người bạn tốt lành, có hình thức như vầy: là vị có liêm sỉ, khéo cư xử, có giới hạnh, có thiện pháp, nghe nhiều, vị duy trì Giáo Pháp, đáng mến, đáng kính, đáng trọng, vị tuyên thuyết, có sự nhẫn nại với lời nói, vị giáo giới, vị giải thích, vị chỉ dạy, vị thức tỉnh, vị khuyến khích, vị tạo niềm phấn khởi. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của loài khỉ nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài khỉ đi đứng ngồi chỉ ở trên cây. Nếu nó rơi vào giấc ngủ thì nó trải qua việc trú đêm ở ngay tại chỗ ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên có khuynh hướng ở rừng, nên đứng, đi, ngồi, nằm, và rơi vào giấc ngủ chỉ ở trong rừng, nên kinh nghiệm về sự thiết lập niệm ở ngay tại chỗ ấy. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của loài khỉ nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến:
‘Ngay cả trong khi đi kinh hành, trong khi đứng, hoặc với việc ngồi và việc nằm, vị tỳ khưu chiếu sáng ở khu rừng, chính khu rừng ấy được ca ngợi.’”
Câu hỏi về tính chất của loài khỉ là thứ mười.
Phẩm Lừa là phẩm thứ nhất.
“Bhante nāgasena, ‘makkaṭassa dve aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni dve aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, makkaṭo vāsamupagacchanto tathārūpe okāse mahatimahārukkhe pavivitte sabbaṭṭhakasākhe bhīruttāṇe vāsamupagacchati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena lajjiṁ pesalaṁ sīlavantaṁ kalyāṇadhammaṁ bahussutaṁ dhammadharaṁ vinayadharaṁ piyaṁ garubhāvanīyaṁ vattāraṁ vacanakkhamaṁ ovādakaṁ viññāpakaṁ sandassakaṁ samādapakaṁ samuttejakaṁ sampahaṁsakaṁ evarūpaṁ kalyāṇamittaṁ ācariyaṁ nissāya viharitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, makkaṭassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, makkaṭo rukkheyeva carati tiṭṭhati nisīdati, yadi niddaṁ okkamati, tattheva rattiṁ vāsamanubhavati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena pavanābhimukhena bhavitabbaṁ, pavaneyeva ṭhānacaṅkamanisajjāsayanaṁ niddaṁ okkamitabbaṁ, tattheva satipaṭṭhānamanubhavitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, makkaṭassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Caṅkamantopi tiṭṭhanto,
nisajjāsayanena vā;
Pavane sobhate bhikkhu,
pavanantaṁva vaṇṇitan’”ti.
Makkaṭaṅgapañho dasamo.
Gadrabhavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Gadrabho ceva kukkuṭo,
kalando dīpini dīpiko;
Kummo vaṁso ca cāpo ca,
vāyaso atha makkaṭoti.
PTS cs 21 ‘Venerable Nāgasena, those two qualities of the monkey which you say he ought to have, which are they?’
‘Just, O king, as the monkey, when about to take up his abode does so in some such place as a mighty tree, in a lonely place covered all over with branches, a sure place of refuge; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, choose as the teacher under whom to live a man modest, amiable, righteous, of beauty of character, learned in tradition and in the scriptures, lovable, venerable, worthy of PTS vp En 293 reverence, a speaker of profitable things, meek, clever in admonition, in instruction, and in education, able to arouse, to incite, to gladden —such a friend should he choose as teacher. This, O king, is the first of the qualities of the monkey he ought to have.
PTS cs 22 ‘And again, O king, as the monkey wanders about, and stands and sits, always on trees, and, if he goes to sleep, spends the night on them; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, stand and walk up and down thinking, PTS vp Pali 374 and lie down, and sleep, in the forest, and there enjoy the sense of self-possession. This, O king, is the second of the qualities of the monkey he ought to have. For it has been said, O king, by Sāriputta, the Elder, the Commander of the Faith:
“Walking, or standing, sitting, lying down,
’Tis in the forest that the Bhikshu shines.
To dwell in wildernesses far remote
Has been exalted by the Buddhas all.”’
Here ends the First Chapter.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Hai tính chất của loài khỉ nên được hành trì,’ hai tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài khỉ, trong khi đi đến chỗ trú, thì đi đến chỗ trú ở khoảng trống có hình thức như thế: là ở thân cây to lớn vĩ đại, được tách biệt, có cành lá ở mọi nơi, là chốn nương nhờ cho kẻ bị sợ hãi.
Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên sống nương tựa vào vị thầy, người bạn tốt lành, có hình thức như vầy: là vị có liêm sỉ, khéo cư xử, có giới hạnh, có thiện pháp, nghe nhiều, vị duy trì Giáo Pháp, đáng mến, đáng kính, đáng trọng, vị tuyên thuyết, có sự nhẫn nại với lời nói, vị giáo giới, vị giải thích, vị chỉ dạy, vị thức tỉnh, vị khuyến khích, vị tạo niềm phấn khởi. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của loài khỉ nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài khỉ đi đứng ngồi chỉ ở trên cây. Nếu nó rơi vào giấc ngủ thì nó trải qua việc trú đêm ở ngay tại chỗ ấy. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên có khuynh hướng ở rừng, nên đứng, đi, ngồi, nằm, và rơi vào giấc ngủ chỉ ở trong rừng, nên kinh nghiệm về sự thiết lập niệm ở ngay tại chỗ ấy. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của loài khỉ nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến:
‘Ngay cả trong khi đi kinh hành, trong khi đứng, hoặc với việc ngồi và việc nằm, vị tỳ khưu chiếu sáng ở khu rừng, chính khu rừng ấy được ca ngợi.’”
Câu hỏi về tính chất của loài khỉ là thứ mười.
Phẩm Lừa là phẩm thứ nhất.
“Bhante nāgasena, ‘makkaṭassa dve aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni dve aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, makkaṭo vāsamupagacchanto tathārūpe okāse mahatimahārukkhe pavivitte sabbaṭṭhakasākhe bhīruttāṇe vāsamupagacchati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena lajjiṁ pesalaṁ sīlavantaṁ kalyāṇadhammaṁ bahussutaṁ dhammadharaṁ vinayadharaṁ piyaṁ garubhāvanīyaṁ vattāraṁ vacanakkhamaṁ ovādakaṁ viññāpakaṁ sandassakaṁ samādapakaṁ samuttejakaṁ sampahaṁsakaṁ evarūpaṁ kalyāṇamittaṁ ācariyaṁ nissāya viharitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, makkaṭassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, makkaṭo rukkheyeva carati tiṭṭhati nisīdati, yadi niddaṁ okkamati, tattheva rattiṁ vāsamanubhavati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena pavanābhimukhena bhavitabbaṁ, pavaneyeva ṭhānacaṅkamanisajjāsayanaṁ niddaṁ okkamitabbaṁ, tattheva satipaṭṭhānamanubhavitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, makkaṭassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Caṅkamantopi tiṭṭhanto,
nisajjāsayanena vā;
Pavane sobhate bhikkhu,
pavanantaṁva vaṇṇitan’”ti.
Makkaṭaṅgapañho dasamo.
Gadrabhavaggo paṭhamo.
Tassuddānaṁ
Gadrabho ceva kukkuṭo,
kalando dīpini dīpiko;
Kummo vaṁso ca cāpo ca,
vāyaso atha makkaṭoti.