“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của loài chồn nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài chồn, trong khi tiến đến gần con rắn, thì nó phủ lên thân thể bằng một loại thuốc men rồi tiến đến gần để bắt con rắn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên bôi thoa tâm ý bằng loại thuốc từ ái trong khi tiến đến gần thế gian có nhiều sự giận dữ và va chạm, đã bị ngự trị bởi các cuộc cãi cọ, tranh luận, tranh cãi, chống đối. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của của loài chồn nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp nói đến:
‘Do đó, sự tu tập về từ ái nên được thực hiện cho mình và cho luôn cả những người khác, nên tỏa khắp bằng tâm từ ái; điều này là lời dạy của chư Phật.’”
Câu hỏi về tính chất của loài chồn là thứ năm.
“Bhante nāgasena, ‘nakulassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, nakulo uragamupagacchanto bhesajjena kāyaṁ paribhāvetvā uragamupagacchati gahetuṁ;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena kodhāghātabahulaṁ kalahaviggahavivādavirodhābhibhūtaṁ lokamupagacchantena mettābhesajjena mānasaṁ anulimpitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, nakulassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Tasmā sakaṁ paresampi,
kātabbā mettabhāvanā;
Mettacittena pharitabbaṁ,
etaṁ buddhāna sāsanan’”ti.
Nakulaṅgapañho pañcamo.
PTS cs 6 ‘Venerable Nāgasena, that one quality of the mungoose you say he ought to take, which is it?’
‘Just, O king, as the mungoose, when attacking a snake, only does so when he has covered his body with an antidote; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, when going into the world where anger and hatred are rife, which is under the sway of quarrels, strife, disputes, and enmities, ever keep his mind anointed with the antidote of love. This, O king, is the quality of the mungoose he ought to have. For it was said, O king, by Sāriputta, the Elder, the Commander of the Faith:
“Therefore should love be felt for one’s own kin,
And so for strangers too, and the whole wide world
Should be pervaded with a heart of love—
This is the doctrine of the Buddhas all.”’
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của loài chồn nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài chồn, trong khi tiến đến gần con rắn, thì nó phủ lên thân thể bằng một loại thuốc men rồi tiến đến gần để bắt con rắn. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên bôi thoa tâm ý bằng loại thuốc từ ái trong khi tiến đến gần thế gian có nhiều sự giận dữ và va chạm, đã bị ngự trị bởi các cuộc cãi cọ, tranh luận, tranh cãi, chống đối. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của của loài chồn nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp nói đến:
‘Do đó, sự tu tập về từ ái nên được thực hiện cho mình và cho luôn cả những người khác, nên tỏa khắp bằng tâm từ ái; điều này là lời dạy của chư Phật.’”
Câu hỏi về tính chất của loài chồn là thứ năm.
“Bhante nāgasena, ‘nakulassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, nakulo uragamupagacchanto bhesajjena kāyaṁ paribhāvetvā uragamupagacchati gahetuṁ;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena kodhāghātabahulaṁ kalahaviggahavivādavirodhābhibhūtaṁ lokamupagacchantena mettābhesajjena mānasaṁ anulimpitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, nakulassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Tasmā sakaṁ paresampi,
kātabbā mettabhāvanā;
Mettacittena pharitabbaṁ,
etaṁ buddhāna sāsanan’”ti.
Nakulaṅgapañho pañcamo.