“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của loài rùa có đốm nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài rùa có đốm di chuyển, tránh xa nước vì sợ nước, tuy nhiên do việc tránh xa nước ấy, vẫn không bị giảm thiểu về tuổi thọ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi ở việc xao lãng, nên có sự nhìn thấy nét đặc biệt của đức hạnh ở việc không xao lãng. Tuy nhiên, do trạng thái nhìn thấy nỗi sợ hãi ở việc xao lãng ấy, vẫn không bị suy giảm về bản thể Sa-môn, vị ấy tiến đến gần chỗ kề cận Niết Bàn. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của loài rùa có đốm nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Pháp Cú:
‘Vị tỳ khưu thích thú trong việc không xao lãng, hoặc có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi ở việc xao lãng, không thể bị hư hỏng, và ở kề cận chính Niết Bàn.’”
Câu hỏi về tính chất của loài rùa là thứ ba.
“Bhante nāgasena, ‘cittakadharakummassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, cittakadharakummo udakabhayā udakaṁ parivajjetvā vicarati, tāya ca pana udakaṁ parivajjanāya āyunā na parihāyati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena pamāde bhayadassāvinā bhavitabbaṁ, appamāde guṇavisesadassāvinā.
Tāya ca pana bhayadassāvitāya na parihāyati sāmaññā, nibbānassa santike upeti.
Idaṁ, mahārāja, cittakadharakummassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena dhammapade—
‘Appamādarato bhikkhu,
pamāde bhayadassi vā;
Abhabbo parihānāya,
nibbānasseva santike’”ti.
Cittakadharakummaṅgapañho catuttho.
PTS cs 3 ‘Venerable Nāgasena, that one quality of the land tortoise which you say he ought to take, which is it?’
‘Just, O king, as the land tortoise, being afraid of the water, frequents places far from it, and by that habit of avoiding water its length of life is kept undiminished; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, seeing the danger in the want of earnestness, be mindful of the advantages that distinguish earnestness. For by that perception of PTS vp En 353 danger in carelessness, his Samanaship fades not away, but rather does he go forward to Nirvāṇa itself. This, O king, is the quality of the land tortoise he ought to have. For it was said, O king, by the Blessed One, the god over all gods, in the Dhammapada:
“The Bhikshu who in earnestness delights,
Who sees the danger of indifference,
Shall fall not from his high estate away,
But in the presence of Nirvāṇa dwell.”’
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của loài rùa có đốm nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài rùa có đốm di chuyển, tránh xa nước vì sợ nước, tuy nhiên do việc tránh xa nước ấy, vẫn không bị giảm thiểu về tuổi thọ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi ở việc xao lãng, nên có sự nhìn thấy nét đặc biệt của đức hạnh ở việc không xao lãng. Tuy nhiên, do trạng thái nhìn thấy nỗi sợ hãi ở việc xao lãng ấy, vẫn không bị suy giảm về bản thể Sa-môn, vị ấy tiến đến gần chỗ kề cận Niết Bàn. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của loài rùa có đốm nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Pháp Cú:
‘Vị tỳ khưu thích thú trong việc không xao lãng, hoặc có sự nhìn thấy nỗi sợ hãi ở việc xao lãng, không thể bị hư hỏng, và ở kề cận chính Niết Bàn.’”
Câu hỏi về tính chất của loài rùa là thứ ba.
“Bhante nāgasena, ‘cittakadharakummassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, cittakadharakummo udakabhayā udakaṁ parivajjetvā vicarati, tāya ca pana udakaṁ parivajjanāya āyunā na parihāyati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena pamāde bhayadassāvinā bhavitabbaṁ, appamāde guṇavisesadassāvinā.
Tāya ca pana bhayadassāvitāya na parihāyati sāmaññā, nibbānassa santike upeti.
Idaṁ, mahārāja, cittakadharakummassa ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena dhammapade—
‘Appamādarato bhikkhu,
pamāde bhayadassi vā;
Abhabbo parihānāya,
nibbānasseva santike’”ti.
Cittakadharakummaṅgapañho catuttho.