Đối với sự thành tựu cõi tái sanh,* khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, các gia tộc giàu sang của gia chủ, và chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân?
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân. Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, các gia tộc giàu sang của gia chủ, và chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân. Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân. Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của 8 nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: ‘Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).’ Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: ‘Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi).’ Vào sát-na tục sinh, ba nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, năm uẩn là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn đại hiển là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên. Vào sát-na tục sinh, ba sự tạo tác mạng sống* là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, năm quyền các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, ba nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên.
Vào sát-na tục sinh, hai mươi tám pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này. (1)
Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na tục sinh, ba nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, năm uẩn là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn đại hiển là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên. Vào sát-na tục sinh, ba sự tạo tác mạng sống là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, năm quyền các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, ba nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên.
Vào sát-na tục sinh, hai mươi tám pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này. (2)
Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện …(như trên)… Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này. (3)
Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na tục sinh, ba nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, năm quyền là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, ba nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân?
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân. Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, hai nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, hai nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, năm uẩn là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn đại hiển là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên. Vào sát-na tục sinh, ba sự tạo tác mạng sống là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, mười bốn pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn quyền các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, hai nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 12 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên.
Vào sát-na tục sinh, 26 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân này. (1)
Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, hai nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).” …(nt)… Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân này.
Phần giảng về Cõi Tái Sanh được đầy đủ.
Gatisampattiyā ñāṇasampayutte katinaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇasampayutte katinaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Rūpāvacarānaṁ devānaṁ katinaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Arūpāvacarānaṁ devānaṁ katinaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Gatisampattiyā ñāṇasampayutte aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇasampayutte aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Rūpāvacarānaṁ devānaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Arūpāvacarānaṁ devānaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Gatisampattiyā ñāṇasampayutte katamesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Kusalakammassa javanakkhaṇe tayo hetū kusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā.
Nikantikkhaṇe dve hetū akusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
akusalamūlapaccayāpi saṅkhārā.
Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū abyākatā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“nāmarūpapaccayāpi viññāṇaṁ, viññāṇapaccayāpi nāmarūpaṁ”.
Paṭisandhikkhaṇe pañcakkhandhā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro mahābhūtā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe tayo jīvitasaṅkhārā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe nāmañca rūpañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro khandhā arūpino sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe pañcindriyāni sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe nāmañca viññāṇañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime aṭṭhavīsati dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Gatisampattiyā ñāṇasampayutte imesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇasampayutte katamesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Kusalakammassa javanakkhaṇe tayo hetū kusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā”.
Nikantikkhaṇe dve hetū akusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“akusalamūlapaccayāpi saṅkhārā”.
Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū abyākatā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“nāmarūpapaccayāpi viññāṇaṁ, viññāṇapaccayāpi nāmarūpaṁ”.
Paṭisandhikkhaṇe pañcakkhandhā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro mahābhūtā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe tayo jīvitasaṅkhārā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe nāmañca rūpañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro khandhā arūpino sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe pañcindriyāni sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe nāmañca viññāṇañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime aṭṭhavīsati dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇasampayutte imesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Rūpāvacarānaṁ devānaṁ katamesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Kusalakammassa javanakkhaṇe tayo hetū kusalā …pe…
rūpāvacarānaṁ devānaṁ imesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Arūpāvacarānaṁ devānaṁ katamesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Kusalakammassa javanakkhaṇe tayo hetū kusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā”.
Nikantikkhaṇe dve hetū akusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“akusalamūlapaccayāpi saṅkhārā”.
Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū abyākatā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“nāmapaccayāpi viññāṇaṁ viññāṇapaccayāpi nāmaṁ”.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro khandhā arūpino sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe pañcindriyāni sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe nāmañca viññāṇañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Arūpāvacarānaṁ devānaṁ imesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Gatisampattiyā ñāṇavippayutte katinaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇavippayutte katinaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Gatisampattiyā ñāṇavippayutte channaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇavippayutte channaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Gatisampattiyā ñāṇavippayutte katamesaṁ channaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Kusalakammassa javanakkhaṇe dve hetū kusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā”.
Nikantikkhaṇe dve hetū akusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“akusalamūlapaccayāpi saṅkhārā”.
Paṭisandhikkhaṇe dve hetū abyākatā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“nāmarūpapaccayāpi viññāṇaṁ, viññāṇapaccayāpi nāmarūpaṁ”.
Paṭisandhikkhaṇe pañcakkhandhā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro mahābhūtā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe tayo jīvitasaṅkhārā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe nāmañca rūpañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro khandhā arūpino sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe cattāri indriyāni sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe dve hetū sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe nāmañca viññāṇañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime dvādasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime chabbīsati dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Gatisampattiyā ñāṇavippayutte imesaṁ channaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇavippayutte katamesaṁ channaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Kusalakammassa javanakkhaṇe dve hetū kusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā …pe…
khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇavippayutte imesaṁ channaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hotī”ti.
Gatikathā niṭṭhitā.
PTS vp En 2711. (i) In the case of a successful destination, in how many root-causes does rearising have its conditions at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge?
(ii) In the case of wealthy khattiyas, wealthy brahmans, wealthy house-holders, sensual-desire-sphere deities, in how many root-causes does rearising have its conditions at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge?
(iii) In the case of material-sphere deities, in how many root-causes does rearising have its conditions at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge?
(iv) In the case of immaterial-sphere deities, in how many root-causes does rearising have its conditions at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge?
(i) In the case of a successful destination, rearising has its conditions in eight root-causes at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge.
(ii) In the case of wealthy khattiyas, wealthy brahmans, wealthy house-holders, sensual-desire-sphere deities, rearising has its conditions in eight root-causes at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge.
(iii) In the case of material-sphere deities, rearising has its conditions in eight root-causes at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge.
(iv) In the case of immaterial-sphere deities, rearising has its conditions in eight root-causes at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge.
2. (i) In the case of a successful destination, in what eight root-causes does rearising have its conditions at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge?
At the moment of impulsion of profitable action [in the previous life], three root-causes, being profitable, are conascence conditions for the volition produced at that moment; hence “With profitable root-causes as condition there are formations” is said. At the moment of attachment [immediately prior to death], “two root-causes”, [namely, greed and delusion,] being unprofitable, are conascence conditions for the volition produced at that time; hence “With unprofitable root-causes as conditions there are formations” is said. At the moment of rebirth-linking [in the new life], three root-causes, being indeterminate, are conascence conditions PTS vp En 272 for the volition produced at that moment; hence “With mentality-materiality as condition there is consciousness and with consciousness as condition there is mentality-materiality” is said.
3. At the time of the rebirth-linking, the five aggregates are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and dissociation conditions. At the moment of rebirth-linking, the four great entities are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and dissociation conditions. At the moment of rebirth-linking, the three life-formations [of life-span, heat and consciousness] are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and dissociation conditions. At the moment of rebirth-linking, mentality and materiality are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and dissociation conditions.
At the moment of rebirth-linking, these fourteen ideas are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and dissociation conditions.
4. At the moment of rebirth-linking, the four immaterial aggregates are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and association conditions. At the moment of rebirth-linking, the five faculties [of faith, etc.,] are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and association conditions. At the moment of rebirth-linking, three root-causes are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and association conditions. At the moment of rebirth-linking, mentality and consciousness are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and association conditions.
At the moment of rebirth-linking, these fourteen ideas are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and association conditions.
5. At the moment of rebirth-linking, these twenty-eight ideas are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and dissociation conditions.
6. In the case of a successful destination, rebirth has its conditions in these eight root-causes at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge.
7.–10. (ii) In the case of wealthy khattiyas, wealthy brahmans, wealthy house-holders, sensual-desire-sphere deities, in what eight root-causes does rebirth have its condition at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge?
At the moment of impulsion … [repeat §§ 2–5].
11. In the case of wealthy khattiyas, wealthy brahmans, wealthy house-holders, sensual-desire-sphere deities, rebirth has its conditions in these PTS vp En 273 eight root-causes at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge.
12.–15. (iii) In the case of material-sphere deities what … [repeat §§ 2–5].}
16. In the case of material-sphere deities, rebirth has its conditions in these eight root-causes at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge.
17. (iv) In the case of immaterial-sphere deities, in what eight root-causes does rebirth have its conditions at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge?
At the moment of impulsion … [repeat § 2 up to] … hence “With mentality as condition there is consciousness and with consciousness as condition there is mentality” is said.
18. At the moment of rebirth-linking, the immaterial aggregates … [repeat § 4 up to] … and association conditions.
19. At the moment of rebirth-linking, these fourteen ideas are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, and association conditions.
20. In the case of immaterial-sphere deities, rebirth has its conditions in these eight root-causes at [the moment of rebirth-linking] associated with knowledge.
>21. (i) In the case of a successful destination, in how many root-causes does rebirth have its conditions at [the moment of rebirth-linking] dissociated from knowledge?
(ii) In the case of wealthy khattiyas, wealthy brahmans, wealthy house-holders, sensual-desire-sphere deities, in how many root-causes does rebirth have its conditions at [the moment of rebirth-linking] dissociated from knowledge?
(i) In the case of a successful destination, rebirth has its conditions in six root-causes at [the moment of rebirth-linking] dissociated from knowledge.
(ii) In the case of wealthy khattiyas, wealthy brahmans, wealthy house-holders, sensual-desire-sphere deities, rebirth has its conditions in six root-causes at [the moment of rebirth-linking] dissociated from knowledge.
22. (i) In the case of a successful destination, in what six root-causes does rebirth have its conditions at [the moment of rebirth-linking] dissociated from knowledge?
At the moment of impulsion of profitable action [in the previous life], two root-causes, being profitable, are conascence conditions for the PTS vp En 274 volition produced at that moment; hence “With profitable root-causes as conditions there are formations” is said. At the moment of attachment [immediately prior to death], two root-causes, [namely greed and delusion,] being unprofitable, are conascence conditions for the volition produced at that moment; hence “With unprofitable root-causes as conditions there are formations” is said. At the moment of rebirth-linking [in the new life], two root-causes, being indeterminate, are conascence conditions for the volition produced at that moment; hence “With mentality-materiality as condition there is consciousness and with consciousness as condition there is mentality-materiality” is said
23. At the moment of rebirth-linking, the five aggregates … [repeat § 3].
At the moment of rebirth-linking, these fourteen ideas are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, dissociation conditions.
24. At the moment of rebirth-linking four aggregates are conascence conditions, … At the moment of rebirth-linking four faculties [omitting the understanding faculty] are conascence conditions, … At the moment of rebirth-linking two root-causes [namely, non-greed and non-hate,] are conascence conditions, … At the moment of rebirth-linking, mentality and consciousness are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions.
At the moment of rebirth-linking these twelve ideas are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, association conditions.
25. At the moment of rebirth-linking, these twenty-six ideas are conascence conditions, mutuality conditions, support conditions, dissociation conditions.
26. In the case of a successful destination, rebirth has its conditions in these six root-causes at [the moment of rebirth-linking] dissociated from knowledge.
27.–30. (ii) In the case of wealthy khattiyas, wealthy brahmans, wealthy house-holders, sensual-desire-sphere deities, in what six root-causes does rebirth have its conditions at [the moment of rebirth-linking] dissociated from knowledge?
At the moment of impulsion … [repeat §§ 22–5].
31. In the case of wealthy khattiyas, wealthy brahmans, wealthy house-holders, sensual-desire-sphere deities, rebirth has its conditions in these six root-causes at [the moment of rebirth-linking] dissociated from knowledge.
The Treatise on Destinations is Ended
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh,* khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, các gia tộc giàu sang của gia chủ, và chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân?
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân. Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, các gia tộc giàu sang của gia chủ, và chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân. Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân. Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của 8 nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: ‘Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).’ Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: ‘Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi).’ Vào sát-na tục sinh, ba nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, năm uẩn là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn đại hiển là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên. Vào sát-na tục sinh, ba sự tạo tác mạng sống* là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, năm quyền các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, ba nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên.
Vào sát-na tục sinh, hai mươi tám pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này. (1)
Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na tục sinh, ba nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, năm uẩn là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn đại hiển là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên. Vào sát-na tục sinh, ba sự tạo tác mạng sống là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, năm quyền các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, ba nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên.
Vào sát-na tục sinh, hai mươi tám pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này. (2)
Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện …(như trên)… Đối với chư thiên sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này. (3)
Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, ba nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na tục sinh, ba nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, năm quyền là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, ba nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 14 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Đối với chư thiên vô sắc giới thì sự sanh lên là do duyên của tám nhân này.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân? Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của bao nhiêu nhân?
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân. Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, hai nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).” Vào sát-na cận tử, hai nhân bất thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn bất thiện, các hành (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, hai nhân vô ký là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên danh sắc, thức (sanh khởi), do duyên thức, danh sắc (sanh khởi).”
Vào sát-na tục sinh, năm uẩn là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn đại hiển là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên. Vào sát-na tục sinh, ba sự tạo tác mạng sống là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên. Vào sát-na tục sinh, mười bốn pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Vào sát-na tục sinh, bốn uẩn vô sắc là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, bốn quyền các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, hai nhân là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, danh và thức là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên. Vào sát-na tục sinh, 12 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các tương ưng duyên.
Vào sát-na tục sinh, 26 pháp này là các đồng sanh duyên, là các hỗ tương duyên, là các y chỉ duyên, là các bất hợp duyên.
Đối với sự thành tựu cõi tái sanh, khi không được liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân này. (1)
Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân nào? Vào sát-na đổng lực của nghiệp thiện, hai nhân thiện là các đồng sanh duyên của sở hữu tư đã được sanh lên vào sát-na ấy; vì thế được gọi là: “Do duyên các căn thiện, các hành (sanh khởi).” …(nt)… Đối với các gia tộc giàu sang dòng Sát-đế-lỵ, đối với các gia tộc giàu sang dòng Bà-la-môn, đối với các gia tộc giàu sang của gia chủ, đối với chư thiên dục giới, khi không liên kết với trí thì sự sanh lên là do duyên của sáu nhân này.
Phần giảng về Cõi Tái Sanh được đầy đủ.
Gatisampattiyā ñāṇasampayutte katinaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇasampayutte katinaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Rūpāvacarānaṁ devānaṁ katinaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Arūpāvacarānaṁ devānaṁ katinaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Gatisampattiyā ñāṇasampayutte aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇasampayutte aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Rūpāvacarānaṁ devānaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Arūpāvacarānaṁ devānaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Gatisampattiyā ñāṇasampayutte katamesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Kusalakammassa javanakkhaṇe tayo hetū kusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā.
Nikantikkhaṇe dve hetū akusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
akusalamūlapaccayāpi saṅkhārā.
Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū abyākatā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“nāmarūpapaccayāpi viññāṇaṁ, viññāṇapaccayāpi nāmarūpaṁ”.
Paṭisandhikkhaṇe pañcakkhandhā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro mahābhūtā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe tayo jīvitasaṅkhārā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe nāmañca rūpañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro khandhā arūpino sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe pañcindriyāni sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe nāmañca viññāṇañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime aṭṭhavīsati dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Gatisampattiyā ñāṇasampayutte imesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇasampayutte katamesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Kusalakammassa javanakkhaṇe tayo hetū kusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā”.
Nikantikkhaṇe dve hetū akusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“akusalamūlapaccayāpi saṅkhārā”.
Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū abyākatā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“nāmarūpapaccayāpi viññāṇaṁ, viññāṇapaccayāpi nāmarūpaṁ”.
Paṭisandhikkhaṇe pañcakkhandhā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro mahābhūtā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe tayo jīvitasaṅkhārā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe nāmañca rūpañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro khandhā arūpino sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe pañcindriyāni sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe nāmañca viññāṇañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime aṭṭhavīsati dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇasampayutte imesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Rūpāvacarānaṁ devānaṁ katamesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Kusalakammassa javanakkhaṇe tayo hetū kusalā …pe…
rūpāvacarānaṁ devānaṁ imesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Arūpāvacarānaṁ devānaṁ katamesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Kusalakammassa javanakkhaṇe tayo hetū kusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā”.
Nikantikkhaṇe dve hetū akusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“akusalamūlapaccayāpi saṅkhārā”.
Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū abyākatā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“nāmapaccayāpi viññāṇaṁ viññāṇapaccayāpi nāmaṁ”.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro khandhā arūpino sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe pañcindriyāni sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe tayo hetū sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe nāmañca viññāṇañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Arūpāvacarānaṁ devānaṁ imesaṁ aṭṭhannaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Gatisampattiyā ñāṇavippayutte katinaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇavippayutte katinaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Gatisampattiyā ñāṇavippayutte channaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇavippayutte channaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Gatisampattiyā ñāṇavippayutte katamesaṁ channaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Kusalakammassa javanakkhaṇe dve hetū kusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā”.
Nikantikkhaṇe dve hetū akusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“akusalamūlapaccayāpi saṅkhārā”.
Paṭisandhikkhaṇe dve hetū abyākatā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“nāmarūpapaccayāpi viññāṇaṁ, viññāṇapaccayāpi nāmarūpaṁ”.
Paṭisandhikkhaṇe pañcakkhandhā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro mahābhūtā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe tayo jīvitasaṅkhārā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe nāmañca rūpañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime cuddasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe cattāro khandhā arūpino sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe cattāri indriyāni sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe dve hetū sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe nāmañca viññāṇañca sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime dvādasa dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, sampayuttapaccayā honti.
Paṭisandhikkhaṇe ime chabbīsati dhammā sahajātapaccayā honti, aññamaññapaccayā honti, nissayapaccayā honti, vippayuttapaccayā honti.
Gatisampattiyā ñāṇavippayutte imesaṁ channaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti.
Khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇavippayutte katamesaṁ channaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hoti?
Kusalakammassa javanakkhaṇe dve hetū kusalā;
tasmiṁ khaṇe jātacetanāya sahajātapaccayā honti.
Tena vuccati—
“kusalamūlapaccayāpi saṅkhārā …pe…
khattiyamahāsālānaṁ brāhmaṇamahāsālānaṁ gahapatimahāsālānaṁ kāmāvacarānaṁ devānaṁ ñāṇavippayutte imesaṁ channaṁ hetūnaṁ paccayā upapatti hotī”ti.
Gatikathā niṭṭhitā.