BJT 4766Đấng Toàn Giác Sumedha là đấng Bi Mẫn cao cả, bậc Hiền Trí. Sau khi đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua, vị có danh vọng lớn lao ấy đã Niết Bàn.
BJT 4767Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã thực hiện ghế kê chân ở bên cạnh bảo tọa sư tử của bậc Đại Ẩn Sĩ Sumedha.
BJT 4768Tôi đã thực hiện nghiệp tốt lành (là nghiệp) có kết quả là sự an lạc, đưa đến sự an lạc. Được gắn liền với nghiệp phước thiện, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 4769Trong khi sống ở tại nơi ấy, tôi là người có được nghiệp phước thiện, khi tôi giở các bàn chân lên là có những chiếc ghế đẩu vàng hiện ra cho tôi.
BJT 4770Những người nào có được sự lắng nghe ở Ngài, các sự lợi ích cho họ đã được đạt thành tốt đẹp. (Thậm chí) sau khi thể hiện sự tôn kính đến bậc đã Niết Bàn, họ (cũng) đạt được sự an lạc lớn lao.
BJT 4771Việc làm cũng đã được tôi thực hiện tốt đẹp, việc đổi trao đã được gắn liền tốt đẹp. Sau khi thực hiện chiếc ghế kê chân, tôi đạt được chiếc ghế đẩu vàng.
BJT 4772Bất cứ phương nào tôi ra đi vì bất cứ lý do gì, tôi đều bước đi ở trên chiếc ghế đẩu vàng; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.
BJT 4773Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của ghế kê chân.
BJT 4774Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4775Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4776Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pādapīṭhiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pādapīṭhiya là phần thứ tám.
“Sumedho nāma sambuddho,
aggo kāruṇiko muni;
Tārayitvā bahū satte,
nibbuto so mahāyaso.
Sīhāsanassa sāmantā,
sumedhassa mahesino;
Pasannacitto sumano,
pādapīṭhamakārayiṁ.
Katvāna kusalaṁ kammaṁ,
sukhapākaṁ sukhudrayaṁ;
Puññakammena saṁyutto,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Tattha me vasamānassa,
puññakammasamaṅgino;
Padāni uddharantassa,
soṇṇapīṭhā bhavanti me.
Lābhā tesaṁ suladdhaṁ vo,
ye labhanti upassutiṁ;
Nibbute kāraṁ katvāna,
labhanti vipulaṁ sukhaṁ.
Mayāpi sukataṁ kammaṁ,
vāṇijjaṁ suppayojitaṁ;
Pādapīṭhaṁ karitvāna,
soṇṇapīṭhaṁ labhāmahaṁ.
Yaṁ yaṁ disaṁ pakkamāmi,
kenaci kiccayenahaṁ;
Soṇṇapīṭhe akkamāmi,
puññakammassidaṁ phalaṁ.
Tiṁsakappasahassamhi,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
pādapīṭhassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pādapīṭhiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pādapīṭhiyattherassāpadānaṁ aṭṭhamaṁ.
Walt 4766 The Sambuddha named Sumedha,
the Chief, Compassionate, the Sage,
causing many beings to cross,
then reached nirvana, Great-Famed One. Verse 1
Walt 4767 Happy, with pleasure in my heart,
I had a stool for the feet made
close to the lion-throne of him,
of Sumedha, the Sage So Great. Verse 2
Walt 4768 Doing that wholesome karma which
bears fruit and leads to happiness,
conforming to my good karma,
I then went to Tāvatiṁsa. Verse 3
Walt 4769 When I was living in that world,
being endowed with good karma,
when lifting up my feet a gold
footstool then comes to be for me. Verse 4
Walt 4770 The gain for them is well-received,
who are getting a listening;
serving Buddha in nirvana,
they’re receiving huge happiness. Verse 5
Walt 4771 My karma too was so well done,
carefully employing merchants.
After having a footstool made,
I’m receiving a chair of gold. Verse 6
Walt 4772 Whichever direction I go,
for any reason at all, I’m
stepping on a stool of gold:
that is the fruit of good karma. Verse 7
Walt 4773 In the thirty thousand aeons
since I did that karma back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that is the fruit of a footstool. Verse 8
Walt 4774 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 9
Walt 4775 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 10
Walt 4776 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 11
Thus indeed Venerable Pādapīṭhiya Thera spoke these verses.
The legend of Pādapīṭhiya Thera is finished.
BJT 4766Đấng Toàn Giác Sumedha là đấng Bi Mẫn cao cả, bậc Hiền Trí. Sau khi đã giúp cho nhiều chúng sanh vượt qua, vị có danh vọng lớn lao ấy đã Niết Bàn.
BJT 4767Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã thực hiện ghế kê chân ở bên cạnh bảo tọa sư tử của bậc Đại Ẩn Sĩ Sumedha.
BJT 4768Tôi đã thực hiện nghiệp tốt lành (là nghiệp) có kết quả là sự an lạc, đưa đến sự an lạc. Được gắn liền với nghiệp phước thiện, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 4769Trong khi sống ở tại nơi ấy, tôi là người có được nghiệp phước thiện, khi tôi giở các bàn chân lên là có những chiếc ghế đẩu vàng hiện ra cho tôi.
BJT 4770Những người nào có được sự lắng nghe ở Ngài, các sự lợi ích cho họ đã được đạt thành tốt đẹp. (Thậm chí) sau khi thể hiện sự tôn kính đến bậc đã Niết Bàn, họ (cũng) đạt được sự an lạc lớn lao.
BJT 4771Việc làm cũng đã được tôi thực hiện tốt đẹp, việc đổi trao đã được gắn liền tốt đẹp. Sau khi thực hiện chiếc ghế kê chân, tôi đạt được chiếc ghế đẩu vàng.
BJT 4772Bất cứ phương nào tôi ra đi vì bất cứ lý do gì, tôi đều bước đi ở trên chiếc ghế đẩu vàng; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.
BJT 4773Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây ba mươi ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của ghế kê chân.
BJT 4774Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4775Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4776Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pādapīṭhiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pādapīṭhiya là phần thứ tám.
“Sumedho nāma sambuddho,
aggo kāruṇiko muni;
Tārayitvā bahū satte,
nibbuto so mahāyaso.
Sīhāsanassa sāmantā,
sumedhassa mahesino;
Pasannacitto sumano,
pādapīṭhamakārayiṁ.
Katvāna kusalaṁ kammaṁ,
sukhapākaṁ sukhudrayaṁ;
Puññakammena saṁyutto,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Tattha me vasamānassa,
puññakammasamaṅgino;
Padāni uddharantassa,
soṇṇapīṭhā bhavanti me.
Lābhā tesaṁ suladdhaṁ vo,
ye labhanti upassutiṁ;
Nibbute kāraṁ katvāna,
labhanti vipulaṁ sukhaṁ.
Mayāpi sukataṁ kammaṁ,
vāṇijjaṁ suppayojitaṁ;
Pādapīṭhaṁ karitvāna,
soṇṇapīṭhaṁ labhāmahaṁ.
Yaṁ yaṁ disaṁ pakkamāmi,
kenaci kiccayenahaṁ;
Soṇṇapīṭhe akkamāmi,
puññakammassidaṁ phalaṁ.
Tiṁsakappasahassamhi,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
pādapīṭhassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pādapīṭhiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pādapīṭhiyattherassāpadānaṁ aṭṭhamaṁ.