BJT 5813Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Lãnh Đạo, bậc Anh Hùng tên Padumuttara, vị hữu ích của tất cả thế gian đã hiện khởi.
BJT 5814Lúc bấy giờ, tôi đã là vị Bà-la-môn được nổi tiếng, thông suốt các bộ Vệ Đà. Tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian đang tiến hành việc nghỉ ngơi giữa ngày.
BJT 5815Ngài đang công bố về bốn Sự Thật, đang giác ngộ chúng sanh luôn cả chư Thiên, đang tán dương vị đứng đầu trong số các vị thuyết giảng hay ở nơi đám đông dân chúng.
BJT 58165817. Khi ấy, có tâm hoan hỷ tôi đã thỉnh mời đức Như Lai và đã trang hoàng mái che bằng những tấm vải có nhiều màu khắc khác nhau, được sáng chói bởi nhiều loại châu báu. Tại nơi ấy, tôi đã chăm lo bữa ăn đến Ngài là bậc cùng với Hội Chúng. Tôi đã cung cấp bữa ăn có hương vị tối thắng đa dạng trong bảy ngày.
BJT 5818Sau khi cúng dường Ngài cùng các vị Thinh Văn bằng những bông hoa có nhiều màu sắc khác nhau, tôi đã quỳ xuống ở cạnh bàn chân (Ngài) và đã phát nguyện vị thế ấy.
BJT 5819Khi ấy, đấng Hiền Trí cao quý với thiên hướng thực hành hạnh bi mẫn đã nói rằng: “Các ngươi hãy nhìn xem người Bà-la-môn cao quý này có khuôn mặt và con mắt của những đóa hoa sen.
BJT 5820(Người này) tràn ngập niềm phỉ lạc và hưng phấn, có lông tóc dựng đứng, có mắt mở to tỏ lộ nụ cười, có lòng khao khát Giáo Pháp của Ta.
BJT 5821(Người này) đã quỳ xuống ở cạnh bàn chân của Ta với thiện ý hướng đến một điều: Vị ấy phát nguyện về vị thế ấy là bản thể của vị thuyết giảng hay.
BJT 5822Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 5823(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Kumārakassapa.
BJT 5824Do nhờ tác động của các loại bông hoa cùng vải vóc đã được trang hoàng và của các loại châu báu, người ấy sẽ thành tựu tư cách đứng đầu trong số các vị thuyết giảng hay.”
BJT 5825Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 5826Giống như vũ công ở giữa sân khấu, trong khi quay cuồng ở không gian của các cõi tôi đã hạ sanh vào bụng của con nai cái và đã trở thành nai (đực), con của con nai tên Sākha.
BJT 5827Lúc bấy giờ, khi tôi nhập thai là thời điểm trừng phạt xảy đến. Mẹ tôi đã bị con nai Sākha ruồng bỏ và đã đi đến nương tựa vào (nai chúa) Nigrodha.
BJT 5828Lúc bấy giờ, nhờ vào con nai chúa ấy mẹ tôi đã được thoát khỏi sự chết. Sau khi đã được ban cho mạng sống, mẹ tôi đã giáo huấn tôi như vầy:
BJT 5829“Con nên phục vụ chỉ riêng Nigrodha, chớ có sống thân cận với Sākha. Thà bị chết ở nơi Nigrodha còn tốt hơn nếu phải sống cùng Sākha.”
BJT 5830Được chỉ dạy bởi con nai đầu đàn ấy, tôi cùng mẹ và những con nai khác cũng như vậy đã đi đến trú ngụ ở cõi trời Đẩu Suất đáng yêu, rồi đã đi đến nơi cư trú khác cũng có chỗ ở tương tợ như thế.
BJT 5831Lần khác nữa, trong khi Giáo Pháp của đấng Anh Hùng Kassapa đang đi đến hoại diệt, (bảy vị chúng tôi) đã leo lên đỉnh ngọn núi và đã gắn bó vào lời dạy của đấng Chiến Thắng.
BJT 5832Giờ đây, tôi đã được sanh vào gia tộc triệu phú ở thành Rājagaha. Mẹ của tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình khi đã mang thai.
BJT 5833Biết được mẹ tôi có thai, các vị đã đưa mẹ tôi đến gặp Devadatta. Vị ấy đã nói rằng: “Các người hãy trục xuất cô tỳ khưu ni xấu xa này.”
BJT 5834Giờ đây, (mẹ tôi) cũng đã được đấng Chiến Thắng bậc Hiền Trí Vương thương xót. Được an toàn, mẹ đã sanh ra tôi tại tu viện của các tỳ khưu ni.
BJT 5835Biết được điều ấy, đức vua xứ Kosala đã nuôi dưỡng tôi. Và do việc có phẩm hạnh từ lúc nhỏ, tôi có tên là Kassapa.
BJT 5836So sánh với vị Mahākassapa (Kassapa Lớn), tôi là Kumāra-kassapa (Kassapa thiếu niên). Tôi đã lắng nghe điều đã được đức Phật thuyết giảng rằng xác thân là tương tợ tổ mối.
BJT 5837Do đó, tâm của tôi đã được giải thoát không còn chấp thủ mọi thứ. Tôi đã cảm hóa được đức vua Pāyāsi và đã đạt được vị thế tối thắng.
BJT 5838Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5839Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5840Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Kumārakassapa đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Kumārakassapa là phần thứ năm.
(Tụng phẩm thứ hai mươi bốn).
“Ito satasahassamhi,
kappe uppajji nāyako;
Sabbalokahito vīro,
padumuttaranāmako.
Tadāhaṁ brāhmaṇo hutvā,
vissuto vedapāragū;
Divāvihāraṁ vicaraṁ,
addasaṁ lokanāyakaṁ.
Catusaccaṁ pakāsentaṁ,
bodhayantaṁ sadevakaṁ;
Vicittakathikānaggaṁ,
vaṇṇayantaṁ mahājane.
Tadā muditacittohaṁ,
nimantetvā tathāgataṁ;
Nānārattehi vatthehi,
alaṅkaritvāna maṇḍapaṁ.
Nānāratanapajjotaṁ,
sasaṅghaṁ bhojayiṁ tahiṁ;
Bhojayitvāna sattāhaṁ,
nānaggarasabhojanaṁ.
Nānācittehi pupphehi,
pūjayitvā sasāvakaṁ;
Nipacca pādamūlamhi,
taṁ ṭhānaṁ patthayiṁ ahaṁ.
Tadā munivaro āha,
karuṇekarasāsayo;
‘Passathetaṁ dijavaraṁ,
padumānanalocanaṁ.
Pītipāmojjabahulaṁ,
samuggatatanūruhaṁ;
Hāsamhitavisālakkhaṁ,
mama sāsanalālasaṁ.
Patitaṁ pādamūle me,
ekāvatthasumānasaṁ;
Esa pattheti taṁ ṭhānaṁ,
vicittakathikattanaṁ.
Satasahassito kappe,
okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena,
satthā loke bhavissati.
Tassa dhammesu dāyādo,
oraso dhammanimmito;
Kumārakassapo nāma,
hessati satthu sāvako.
Vicittapupphadussānaṁ,
ratanānañca vāhasā;
Vicittakathikānaṁ so,
aggataṁ pāpuṇissati’.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Paribbhamaṁ bhavābhave,
raṅgamajjhe yathā naṭo;
Sākhamigatrajo hutvā,
migiyā kucchimokkamiṁ.
Tadā mayi kucchigate,
vajjhavāro upaṭṭhito;
Sākhena cattā me mātā,
nigrodhaṁ saraṇaṁ gatā.
Tena sā migarājena,
maraṇā parimocitā;
Pariccajitvā sapāṇaṁ,
mamevaṁ ovadī tadā.
‘Nigrodhameva seveyya,
na sākhamupasaṁvase;
Nigrodhasmiṁ mataṁ seyyo,
yañce sākhamhi jīvitaṁ’.
Tenānusiṭṭhā migayūthapena,
Ahañca mātā ca tathetare ca;
Āgamma rammaṁ tusitādhivāsaṁ,
Gatā pavāsaṁ sagharaṁ yatheva.
Puno kassapavīrassa,
atthamentamhi sāsane;
Āruyha selasikharaṁ,
yuñjitvā jinasāsanaṁ.
Idānāhaṁ rājagahe,
jāto seṭṭhikule ahuṁ;
Āpannasattā me mātā,
pabbaji anagāriyaṁ.
Sagabbhaṁ taṁ viditvāna,
devadattamupānayuṁ;
So avoca ‘vināsetha,
pāpikaṁ bhikkhuniṁ imaṁ’.
Idānipi munindena,
jinena anukampitā;
Sukhinī ajanī mayhaṁ,
mātā bhikkhunupassaye.
Taṁ viditvā mahīpālo,
kosalo maṁ aposayi;
Kumāraparihārena,
nāmenāhañca kassapo.
Mahākassapamāgamma,
ahaṁ kumārakassapo;
Vammikasadisaṁ kāyaṁ,
sutvā buddhena desitaṁ.
Tato cittaṁ vimucci me,
anupādāya sabbaso;
Pāyāsiṁ damayitvāhaṁ,
etadaggamapāpuṇiṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā kumārakassapo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Kumārakassapattherassāpadānaṁ pañcamaṁ.
Catuvīsatimaṁ bhāṇavāraṁ.
Walt 5811 One hundred thousand aeons hence
the Leader arose in the world,
the Hero, Friend of Every World,
who name was Padumuttara. Verse 1
Walt 5812-5813 Being a brahmin at that time,
distinguished, a Vedic master,
wandering during siesta,
I saw the Leader of the World,
explaining the Four Noble Truths,
awakening the world with gods,
praising in the multitude the
top of those with varied discourse. Verse 2-3
Walt 5814-5816 At that time, with a gladdened heart,
inviting him, the Thus-Gone-One,
decorating a pavilion
with bolts of cloth diversely dyed,
lit up by various gemstones,
I fed him with the monks in it.
Having fed them all for a week
diverse, foremost and tasty food,
worshipping him and followers
with flowers of various hues,
falling down in front of his feet,
I aspired to attain that place. Verse 4-6
Walt 5617-5819 Then the Excellent Sage, Sole Hoard
of the Taste of Compassion, said:
“Look at that excellent brahmin,
with face and eyes like lotuses,
possessing much joy and delight,
his body hair growing upward,
his large eyes extremely mirthful,
greedy for my dispensation,
fallen down in front of my feet,
happily turned toward one purpose:
he’s wishing for that foremost place
of preachers with varied discourse. Verse 7-9
Walt 5820 In one hundred thousand aeons,
arising in Okkāka’s clan,
the one whose name is Gotama
will be the Teacher in the world. Verse 10
Walt 5821Worthy heir to that one’s Dhamma,
Dhamma’s legitimate offspring,
named Kumāra-Kassapa, he
will be the Teacher’s follower. Verse 11
Walt 5822 Through the power of that cloth with
varied flowers and gems as well,
he will attain the foremost place
of preachers with varied discourse.” Verse 12
Walt 5823 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 13
Walt 5824 Touring the space of existence
like an actor upon the stage,
the son of a deer named Sākhā,
I entered the womb of a doe. Verse 14
Walt 5825 And then while I was in the womb,
my mother’s turn to die stood nigh.
Turned out by Sākhā, my mother
went to Nigrodha for refuge. Verse 15
Walt 5826 By that deer-king Nigrodha, she
was released from her pending death.
Sacrificing his life instead,
Nigrodha then advised me thus: Verse 16
Walt 5827 “Only Nigrodha should be served;
don’t keep company with Sākhā.
Better death in Nirodha‘s care
than life in the care of Sākhā.” Verse 17
Walt 5828 Instructed by that advice of the deer-king,
my mother and I, because of his advice,
to the delightful Tusitā heaven came
as though we had gone abroad, taking our house. Verse 18-19
Walt 5829 Again, when Hero Kassapa’s
dispensation had reached its goal,
ascending to a mountain-top
engaged in the Victor’s teachings, Verse 20
Walt 5830 now, in Rājagaha city,
I was born in a wealthy clan.
My mother, with me in her womb,
had gone forth into homelessness. Verse 21
Walt 5831 Finding out that she was pregnant,
they approached Devadatta then.
He said, “let all of you banish
this Buddhist nun who is evil.” Verse 22
Walt 5832 Now she too being shown mercy
by the Lord of Sages, Victor,
my mother’s living happily
in a convent for Buddhist nuns. Verse 23
Walt 5833 Finding that out, the Kosala
earth-protector supported me,
with the care given to a prince,
and by name I was “Kassapa.” Verse 24
Walt 5834-5835 Because there was “Great Kassapa,”
I was known as “Boy Kassapa.”
Hearing Buddha’s preaching that the
body’s the same as an anthill,
because of that my mind was freed
from attachment altogether.
After taming King Pāyāsi,
I then attained that foremost place. Verse 25-26
Walt 5836 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 27
Walt 5837 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 28
Walt 5838 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 29
Thus indeed Venerable Kumāra-Kassapa Thera spoke these verses.
The legend of Kumāra-Kassapa Thera is finished.