BJT 733Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc thông suốt về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 734Khi ấy, tôi đã ở trong một gia đình nọ tại thành Haṁsavatī. Tôi đã là người nữ làm thuê cho người khác, cẩn trọng, gìn giữ tánh hạnh.
BJT 735Sujāta, vị Thinh Văn hàng đầu của đức Phật Padumuttara, đã rời khỏi trú xá đi khất thực.
BJT 736Là người nữ đội nước, khi ấy trong lúc cầm lấy bầu nước đang đi, tôi đã nhìn thấy vị ấy. Được tịnh tín, tôi đã tự tay mình dâng (vị ấy) món bánh ngọt.
BJT 737Sau khi thọ lãnh, vị ấy đã ngồi xuống ngay tại nơi ấy và đã thọ dụng. Sau đó, tôi đã đưa vị ấy về nhà và đã dâng vật thực đến vị ấy.
BJT 738Do đó, người chủ của tôi hoan hỷ đã nhận làm con dâu của mình. Tôi đã cùng với người mẹ chồng đi đến và đã đảnh lễ bậc Toàn Giác.
BJT 739Khi ấy, Ngài đã tán dương và đã thiết lập vị tỳ khưu ni là vị thuyết giảng Giáo Pháp vào vị thế tối thắng. Sau khi nghe được điều ấy, tôi đã hoan hỷ.
BJT 740Tôi đã thỉnh mời đức Thiện Thệ đấng Lãnh Đạo Thế Gian cùng với hội chúng, rồi đã dâng cúng đại thí và đã ước nguyện vị thế ấy.
BJT 741742. Sau đó, với giọng có âm điệu đều đều vang vang, đấng Thiện Thệ đã nói với tôi rằng: “Này người thiếu nữ hiền thục là người dâng vật thực, được vui thích trong việc hộ độ Ta cùng với hội chúng, được gắn bó trong việc lắng nghe Chánh Pháp, với tâm ý được tăng trưởng về đức hạnh, nàng hãy hoan hỷ, nàng sẽ đạt được kết quả của điều nguyện ước.
BJT 743Vào một trăm ngàn kiếp về sau này, bậc Đạo Sư tên Gotama, thuộc dòng dõi, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 744Nàng sẽ trở thành nữ Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tựGiáo Pháp của vị(Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từGiáo Pháp, có tên là Dhammadinnā.”
BJT 745Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ. Khi ấy, với tâm từ ái tôi đã chăm sóc đấng Chiến Thắng, bậc Hướng Đạo bằng các vật dụng cho đến hết cuộc đời.
BJT 746Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 748Khi ấy, có vị quân vương là đức vua xứ Kāsi tên Kikī ở tại kinh thành Bārāṇasī là người hộ độ của bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 749Tôi đã là người con gái thứ sáu của vị (vua) ấy được nổi danh là Sudhammā. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cao cả, tôi đã xin xuất gia.
Tụng phẩm thứ ba.
BJT 750751. Cha đã không cho phép chúng tôi. Là những người con gái của đức vua khéo được nuôi dưỡng có sự cư ngụ cùng với gia đình, chúng tôi đã thực hành Phạm hạnh của người thiếu nữ trong hai chục ngàn năm, không xao lãng. Được hoan hỷ, bảy người con gái đã vui thích trong việc hộ độ đức Phật.
BJT 752Samaṇī, Samaṇaguttā, Bhikkhunī, Bhikkhudāsikā, Dhammā, luôn cả Sudhammā nữa, và Saṅghadāsikā là thứ bảy.
BJT 753Khemā, Uppalavaṇṇā, Paṭācārā, Kuṇḍalā, Gotamī, tôi, và luôn cả Visākhā là thứ bảy (vào thời hiện tại).
BJT 754Do các nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 755Và vào kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh ra ở kinh thành Giribbaja, trong gia đình triệu phú, thịnh vượng, có sự dồi dào về tất cả các dục lạc.
BJT 756Vào lúc đạt đến sắc đẹp và đức hạnh ở vào thời đầu của tuổi thanh xuân, khi ấy tôi đã đi đến gia tộc khác (làm vợ) và đã sống thọ hưởng lạc thú.
BJT 757Sau khi đi đến đấng Nương Nhờ của thế gian và đã lắng nghe thuyết giảng Giáo Pháp, chồng của tôi đã đạt đến quả vị Bất Lai, có trí giác ngộ hoàn hảo.
BJT 758Khi ấy, tôi đã thuyết phục vị ấy rồi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Trong thời gian không bao lâu, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 759Khi ấy, vị nam cư sĩ ấy đã đi đến tôi và đã hỏi về các tuệ thâm sâu và khôn khéo. Tôi đã giảng giải về tất cả các điều ấy.
BJT 760Hoan hỷ về đức hạnh ấy, đấng Chiến Thắng đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng: “Ta không nhìn thấy vị tỳ khưu ni nào khác là vị thuyết giảng Giáo Pháp như là vị ni này.
BJT 761Này các tỳ khưu, Dhammadinnā là vị ni sáng trí, các ngươi hãy ghi nhớ như thế.” Được đấng Lãnh Đạo thương xót, tôi đã trở thành vị ni trí tuệ như thế.
BJT 762Bậc Đạo Sư đã được tôi phục vụ, lời dạy của đức Phật đã được tôi thực hành, nhiệm vụ nặng nề đã được đặt xuống, lối dẫn đi tái sanh đã được xóa tan.
BJT 763Vì mục đích nào tôi đã rời khỏi gia đình xuất gia vào đời sống không gia đình, mục đích ấy tức là sự đoạn tận tất cả các sự trói buộc đã được tôi đạt đến.
BJT 764Là người thực hành theo lời dạy của đấng Đạo Sư, tôi có năng lực về các thần thông, về thiên nhĩ giới, tôi biết được tâm của người khác.
BJT 765Tôi biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh. Sau khi đã quăng bỏ tất cả các lậu hoặc, tôi được thanh tịnh, hoàn toàn không ô nhiễm.
BJT 766Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 767Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 768Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Dhammadinnā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Dhammadinnā là phần thứ ba.
“Padumuttaro nāma jino,
sabbadhammāna pāragū;
Ito satasahassamhi,
kappe uppajji nāyako.
Tadāhaṁ haṁsavatiyaṁ,
kule aññatare ahuṁ;
Parakammakārī āsiṁ,
nipakā sīlasaṁvutā.
Padumuttarabuddhassa,
sujāto aggasāvako;
Vihārā abhinikkhamma,
piṇḍapātāya gacchati.
Ghaṭaṁ gahetvā gacchantī,
tadā udakahārikā;
Taṁ disvā adadaṁ pūpaṁ,
pasannā sehi pāṇibhi.
Paṭiggahetvā tattheva,
nisinno paribhuñji so;
Tato netvāna taṁ gehaṁ,
adāsiṁ tassa bhojanaṁ.
Tato me ayyako tuṭṭho,
akarī suṇisaṁ sakaṁ;
Sassuyā saha gantvāna,
sambuddhaṁ abhivādayiṁ.
Tadā so dhammakathikaṁ,
bhikkhuniṁ parikittayaṁ;
Ṭhapesi etadaggamhi,
taṁ sutvā muditā ahaṁ.
Nimantayitvā sugataṁ,
sasaṅghaṁ lokanāyakaṁ;
Mahādānaṁ daditvāna,
taṁ ṭhānamabhipatthayiṁ.
Tato maṁ sugato āha,
ghananinnādasussaro;
‘Mamupaṭṭhānanirate,
sasaṅghaparivesike.
Saddhammassavane yutte,
guṇavaddhitamānase;
Bhadde bhavassu muditā,
lacchase paṇidhīphalaṁ.
Satasahassito kappe,
okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena,
satthā loke bhavissati.
Tassa dhammesu dāyādā,
orasā dhammanimmitā;
Dhammadinnāti nāmena,
hessati satthu sāvikā’.
Taṁ sutvā muditā hutvā,
yāvajīvaṁ mahāmuniṁ;
Mettacittā paricariṁ,
paccayehi vināyakaṁ.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Imamhi bhaddake kappe,
brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena,
uppajji vadataṁ varo.
Upaṭṭhāko mahesissa,
tadā āsi narissaro;
Kāsirājā kikī nāma,
bārāṇasipuruttame.
Chaṭṭhā tassāsahaṁ dhītā,
sudhammā iti vissutā;
Dhammaṁ sutvā jinaggassa,
pabbajjaṁ samarocayiṁ.
Anujāni na no tāto,
agāreva tadā mayaṁ;
Vīsavassasahassāni,
vicarimha atanditā.
Tatiyaṁ bhāṇavāraṁ.
Komāribrahmacariyaṁ,
rājakaññā sukhedhitā;
Buddhopaṭṭhānaniratā,
muditā satta dhītaro.
Samaṇī samaṇaguttā ca,
bhikkhunī bhikkhudāyikā;
Dhammā ceva sudhammā ca,
sattamī saṅghadāyikā.
Khemā uppalavaṇṇā ca,
paṭācārā ca kuṇḍalā;
Gotamī ca ahañceva,
visākhā hoti sattamī.
Tehi kammehi sukatehi,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Pacchime ca bhave dāni,
giribbajapuruttame;
Jātā seṭṭhikule phīte,
sabbakāmasamiddhine.
Yadā rūpaguṇūpetā,
paṭhame yobbane ṭhitā;
Tadā parakulaṁ gantvā,
vasiṁ sukhasamappitā.
Upetvā lokasaraṇaṁ,
suṇitvā dhammadesanaṁ;
Anāgāmiphalaṁ patto,
sāmiko me subuddhimā.
Tadāhaṁ anujānetvā,
pabbajiṁ anagāriyaṁ;
Na cireneva kālena,
arahattamapāpuṇiṁ.
Tadā upāsako so maṁ,
upagantvā apucchatha;
Gambhīre nipuṇe pañhe,
te sabbe byākariṁ ahaṁ.
Jino tasmiṁ guṇe tuṭṭho,
etadagge ṭhapesi maṁ;
‘Bhikkhuniṁ dhammakathikaṁ,
nāññaṁ passāmi edisiṁ.
Dhammadinnā yathā dhīrā,
evaṁ dhāretha bhikkhavo’;
Evāhaṁ paṇḍitā homi,
nāyakenānukampitā.
Pariciṇṇo mayā satthā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ;
Ohito garuko bhāro,
bhavanetti samūhatā.
Yassatthāya pabbajitā,
agārasmānagāriyaṁ;
So me attho anuppatto,
sabbasaṁyojanakkhayo.
Iddhīsu ca vasī homi,
dibbāya sotadhātuyā;
Paracittāni jānāmi,
satthusāsanakārikā.
Pubbenivāsaṁ jānāmi,
dibbacakkhu visodhitaṁ;
Khepetvā āsave sabbe,
visuddhāsiṁ sunimmalā.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavā.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ dhammadinnā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Dhammadinnātheriyāpadānaṁ tatiyaṁ.
Walt 733 The Victor, Padumuttara,
was a Master of Everything.
That Leader arose in the world
one hundred thousand aeons hence. Verse 1
Walt 734 I then lived in Haṁsavatī,
born in an undistinguished clan.
I worked for others, governed by
morality, intelligent. Verse 2
Walt 735 Sujāta, foremost follower
of Padumuttara Buddha,
departing the monastery,
was going begging for alms-food. Verse 3
Walt 736 I was then a water-bearer,
going carrying a pitcher.
Seeing him I gave him some soup,
feeling well-pleased by my own hands. Verse 4
Walt 737 Having accepted that from me,
he sat down there and enjoyed it.
After leading him to that house,
I gave some solid food to him. Verse 5
Walt 738 Then my employer, being pleased,
made me his own daughter-in-law.
Going with my mother-in-law,
I worshipped him, the Sambuddha. Verse 6
Walt 739 Then he extolled a Buddhist nun
who was a preacher of Dhamma.
He placed her in that foremost place;
hearing that I was delighted. Verse 7
Walt 740 Then, inviting the Well-Gone-One,
World’s Leader with the Assembly,
giving them a large almsgiving,
I aspired to attain that place. Verse 8
Walt 741-742 Then the Well-Gone-One said to me,
with the sweet sound of a cymbal:
“O one who’s fond of serving me,
O servant of the Assembly,
O hearer of the good Teaching,
proper one, mind set on virtue,
O lucky one, be overjoyed:
you will attain your wish’s fruit. Verse 9-10
Walt 743 In one hundred thousand aeons,
arising in Okkāka’s clan,
the one whose name is Gotama
will be the Teacher in the world. Verse 11
Walt 744Worthy heir to that one’s Dhamma,
Dhamma’s legitimate offspring,
the one whose name’s Dhammadinnā
will be the Teacher’s follower.” Verse 12
Walt 745 At that time being overjoyed,
as long as life, heart full of love,
I attended on the Victor,
the Guide, providing requisites. Verse 13
Walt 746 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 14
Walt 747 In this present lucky aeon
Brahma’s Kinsman, Greatly Famed One,
the Buddha known as Kassapa
was born, the Best of Debaters. Verse 15
Walt 748 The attendant of the Great Sage
was the ruler of men back then,
the king of Kāsi, named Kiki,
in Benares, greatest city. Verse 16
Walt 749 I was his sixth royal daughter,
well-known by the name Sudhammā.
Hearing the Best Victor’s Teaching,
I chose to seek ordination. Verse 17
Walt 750-751 Our father did not permit it;
we stayed at home during that time,
comfortable royal maidens
doing our practice with vigor
in virginal celibacy,
for twenty times a thousand years,
fond of waiting on the Buddha,
the king’s seven joyful daughters. Verse 18-19
Walt 752 Samaṇī, and Samaṇaguttā,
Bhikkhunī, Bhikkhadāyikā,
Dhammā, and also Sudhammā,
and seventh Saṅghadāyikā, Verse 20
Walt 753 now Khemā Uppalavaṇṇā,
Paṭācārā and Kuṇḍalā,
Kisāgotamī, also I,
and Visākhā is the seventh. Verse 21
Walt 754 Due to those karmas done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 22
Walt 755 And now, in my final rebirth,
I’m born in a millionaire’s clan,
rich, endowed with every pleasure,
in Rajgir, excellent city. Verse 23
Walt 756 When I’d become a young woman,
possessing the virtue of beauty,
married to another good clan,
I dwelt endowed with happiness. Verse 24
Walt 757 Having approached the World’s Refuge,
having heard his Dhamma-preaching,
through the Buddha, my husband gained
the fruit of a non-returner. Verse 25
Walt 758 Then I, having been permitted,
went forth into homelessness too.
After not a very long time,
I attained my arahantship. Verse 26
Walt 759 Then a layman, approaching me,
asked me a series of questions
which were very deep and subtle;
I explained all of them to him. Verse 27
Walt 760-761 The Victor, pleased by my virtue,
then placed me in that foremost place,
Buddhist nun, preacher of Dhamma: “I see no other one who is
as wise as is Dhammadinnā;
so should you consider her, monks.”
“I am indeed a wise woman,
who was pitied by the Leader. Verse 28-29
Walt 762 The Teacher’s been worshipped by me;
I have done what the Buddha taught.
The heavy load has been laid down,
the ties to existence severed. Verse 30
Walt 763 The reason for which I went forth,
from my home into homelessness —
I have now achieved that purpose:
destruction of all the fetters. Verse 31
Walt 764 I’ve mastered the superpowers
like the “divine ear” element.
I know the hearts of others too,
I have done what the Teacher taught. Verse 32
Walt 765 I remember my former lives;
my “divine eye” is purified.
Throwing off all the defilements,
I am purified, I’m stainless. Verse 33
Walt 766 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 34
Walt 767 Being in Best Buddha's presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 35
Walt 768 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 36
Thus indeed Bhikkhunī Dhammadinnā spoke these verses.
The legend of Dhammadinnā Therī is finished.