BJT 1214Trước đây chín mươi mốt kiếp, đã hiện khởi đấng Lãnh Đạo tên Vipassī, là vị có ánh mắt thu hút, là vị thấy rõ tất cả các pháp.
BJT 1215Khi ấy, con đã được sanh ra trong một gia đình nọ tại thành Bandhumatī. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của bậc Hiền Trí, con đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 1216Là người nghe nhiều (học rộng), thông thạo Giáo Pháp, tài biện giải cũng như thế, là vị thuyết giảng hay, và cũng là người thực hành theo lời dạy của đấng Chiến Thắng.
BJT 1217Khi ấy, con đã thực hiện việc thuyết Pháp có nhiều lợi ích cho dân chúng. Từ nơi ấy chết đi, con đã đạt đến cõi trời Đẩu Suất, có được danh tiếng.
BJT 1218Trước đây ba mươi mốt kiếp, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi ở thế gian bậc Chiến Thắng Sikhī cao quý, chói sáng với danh tiếng như là ngọn lửa.
BJT 1219Khi ấy, con cũng đã xuất gia. Là vị rành rẽ về lời dạy của đức Phật, con đã làm rạng rỡ những lời giảng của đấng Chiến Thắng, sau đó cũng đã đi đến cõi Đạo Lợi.
BJT 1220Trước đây ba mươi mốt kiếp, đấng Lãnh Đạo tên Vessabhū có đại trí tuệ đã hiện khởi. Và cũng vào lúc ấy, con đã được sanh ra tương tợ y như thế.
BJT 1221Sau khi xuất gia, thông thạo Giáo Pháp, con đã làm rạng rỡ lời dạy của đấng Chiến Thắng. Sau khi đi đến thành phố chư Thiên xinh đẹp, con đã thọ hưởng lạc thú lớn lao.
BJT 1222Trong kiếp Bhadda này, đấng Chiến Thắng tối thượng Kakusandha, bậc Nhân Báo đã hiện khởi. Và cũng vào lúc ấy, con đã được sanh ra tương tợ y như thế.
BJT 1223Sau khi xuất gia, con đã làm rạng rỡ quan điểm của bậc Hiền Trí cho đến hết tuổi thọ. Từ nơi ấy chết đi, con đã đi đến cõi trời Đạo Lợi tợ như đi đến chỗ ngụ của mình.
BJT 1224Chính ở trong kiếp này, đã hiện khởi đấng Lãnh Đạo Koṇāgamana, bậc Nương Nhờ của thế gian, là đấng Tối Thượng của tất cả chúng sanh.
BJT 1225Cũng vào khi ấy, sau khi xuất gia trong Giáo Pháp của bậc như thế ấy, là người nghe nhiều (học rộng), thông thạo Giáo Pháp, con đã làm rạng rỡ lời dạy của đấng Chiến Thắng.
BJT 1226Chính ở trong kiếp này, đã hiện khởi đấng Tối Thượng Nhân Kassapa, là con mắt của thế gian, không dục vọng, bậc đã đi đến tận cùng của sự chết.
BJT 1227Con cũng đã xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng của loài người ấy, có Chánh Pháp đã được học tập, là tự tin trong việc chất vấn.
BJT 1229Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại con đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 1230Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, con đã được sanh ra tại kinh thành Giribbaja, trong gia đình triệu phú, thịnh vượng, có sự tích lũy châu báu lớn lao.
BJT 1231Vào lúc ấy, được tháp tùng bởi một ngàn vị tỳ khưu, đấng Lãnh Đạo Thế Gian đã đi vào thành Rājagaha, và đã được ca ngợi bởi vị có ngàn mắt (trời Sakka):
BJT 1232“Là bậc đã chế ngự cùng với các vị đã được chế ngự, là bậc đã giải thoát cùng với các vị đã được giải thoát trước đây là các đạo sĩ tóc bện, đức Thế Tôn có màu da tợ như vàng đã đi vào thành Rājagaha.”
BJT 1233Sau khi nhìn thấy oai lực ấy của đức Phật, và sau khi lắng nghe sự tích lũy về đức hạnh, con đã làm cho tâm được tịnh tín ở đức Phật và đã cúng dường Ngài tùy theo năng lực.
BJT 1234Và vào thời điểm khác, trong sự hiện diện của vị ni Dhammadinnā, con đã rời khỏi gia đình và đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 1235Trong khi các sợi tóc đang được cạo, con đã tham thiền về các phiền não. Sau khi xuất gia không bao lâu, con đã học xong toàn bộ Giáo Pháp.
BJT 1236Sau đó, con đã thuyết giảng Giáo Pháp ở hội chúng đông người. Trong khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp –
BJT 1237– của nhiều ngàn người. Sau khi biết được điều đó, có vị Dạ Xoa đã vô cùng ngạc nhiên. Vô cùng tịnh tín đối với con, vị Dạ Xoa đã đi quanh thành Giribbaja (thông báo rằng):
BJT 1238“Những người dân này ở Rājagaha đã làm gì? Họ ngồi yên như là đã uống (say) mật ong mà không đi đến vị ni Sukkā đang thuyết giảng về vị thế Bất Tử?
BJT 1239Và Giáo Pháp ấy là không thể cưỡng lại, không bị trộn lẫn, có dưỡng chất. Tôi nghĩ rằng những người có trí tuệ uống (Giáo Pháp ấy) tợ như người lữ hành uống (nước từ) đám mây mưa.”
BJT 1240Bạch đấng Đại Hiền Trí, con đã có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, con đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
BJT 1241Con biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 1242Bạch đấng Đại Hùng, trí của con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ y như thế về phép biện giải là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.
BJT 1243Các phiền não của con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), con sống không còn lậu hoặc.
BJT 1244Quả vậy, con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 1245Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được con đắc chứng; con đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Sukkā trước mặt đức Thế Tôn đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Sukkā là phần thứ năm.
Tụng phẩm thứ năm.
“Ekanavutito kappe,
vipassī nāma nāyako;
Uppajji cārudassano,
sabbadhammavipassako.
Tadāhaṁ bandhumatiyaṁ,
jātā aññatare kule;
Dhammaṁ sutvāna munino,
pabbajiṁ anagāriyaṁ.
Bahussutā dhammadharā,
paṭibhānavatī tathā;
Vicittakathikā cāpi,
jinasāsanakārikā.
Tadā dhammakathaṁ katvā,
hitāya janataṁ bahuṁ;
Tato cutāhaṁ tusitaṁ,
upapannā yasassinī.
Ekattiṁse ito kappe,
sikhī viya sikhī jino;
Tapanto yasasā loke,
uppajji vadataṁ varo.
Tadāpi pabbajitvāna,
buddhasāsanakovidā;
Jotetvā jinavākyāni,
tatopi tidivaṁ gatā.
Ekattiṁseva kappamhi,
vessabhū nāma nāyako;
Uppajjittha mahāñāṇī,
tadāpi ca tathevahaṁ.
Pabbajitvā dhammadharā,
jotayiṁ jinasāsanaṁ;
Gantvā marupuraṁ rammaṁ,
anubhosiṁ mahāsukhaṁ.
Imamhi bhaddake kappe,
kakusandho jinuttamo;
Uppajji narasaraṇo,
tadāpi ca tathevahaṁ.
Pabbajitvā munimataṁ,
jotayitvā yathāyukaṁ;
Tato cutāhaṁ tidivaṁ,
agaṁ sabhavanaṁ yathā.
Imasmiṁyeva kappamhi,
koṇāgamananāyako;
Uppajji lokasaraṇo,
araṇo amataṅgato.
Tadāpi pabbajitvāna,
sāsane tassa tādino;
Bahussutā dhammadharā,
jotayiṁ jinasāsanaṁ.
Imasmiṁyeva kappamhi,
kassapo munimuttamo;
Uppajji lokasaraṇo,
araṇo maraṇantagū.
Tassāpi naravīrassa,
pabbajitvāna sāsane;
Pariyāpuṭasaddhammā,
paripucchā visāradā.
Susīlā lajjinī ceva,
tīsu sikkhāsu kovidā;
Bahuṁ dhammakathaṁ katvā,
yāvajīvaṁ mahāmune.
Tena kammavipākena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Pacchime ca bhave dāni,
giribbajapuruttame;
Jātā seṭṭhikule phīte,
mahāratanasañcaye.
Yadā bhikkhusahassena,
parivuto lokanāyako;
Upāgami rājagahaṁ,
sahassakkhena vaṇṇito.
Danto dantehi saha purāṇajaṭilehi,
Vippamutto vippamuttehi;
Siṅgīnikkhasavaṇṇo,
Rājagahaṁ pāvisi bhagavā.
Disvā buddhānubhāvaṁ taṁ,
sutvāva guṇasañcayaṁ;
Buddhe cittaṁ pasādetvā,
pūjayiṁ taṁ yathābalaṁ.
Aparena ca kālena,
dhammadinnāya santike;
Agārā nikkhamitvāna,
pabbajiṁ anagāriyaṁ.
Kesesu chijjamānesu,
kilese jhāpayiṁ ahaṁ;
Uggahiṁ sāsanaṁ sabbaṁ,
pabbajitvā cirenahaṁ.
Tato dhammamadesesiṁ,
mahājanasamāgame;
Dhamme desiyamānamhi,
dhammābhisamayo ahu.
Nekapāṇasahassānaṁ,
taṁ viditvātivimhito;
Abhippasanno me yakkho,
bhamitvāna giribbajaṁ.
Kiṁ me katā rājagahe manussā,
Madhuṁ pītāva acchare;
Ye sukkaṁ na upāsanti,
Desentiṁ amataṁ padaṁ.
Tañca appaṭivānīyaṁ,
asecanakamojavaṁ;
Pivanti maññe sappaññā,
valāhakamivaddhagū.
Iddhīsu ca vasī homi,
dibbāya sotadhātuyā;
Cetopariyañāṇassa,
vasī homi mahāmune.
Pubbenivāsaṁ jānāmi,
dibbacakkhu visodhitaṁ;
Sabbāsavā parikkhīṇā,
natthi dāni punabbhavo.
Atthadhammaniruttīsu,
paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṁ mama mahāvīra,
uppannaṁ tava santike.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavā.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ sukkā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Sukkātheriyāpadānaṁ pañcamaṁ.
Pañcamaṁ bhāṇavāraṁ.
Walt 1214 Ninety-one aeons ago the
Leader, whose name was Vipassi,
arose, the One Good to Look At,
the One with Eyes for Everything. Verse 1
Walt 1215 I was then in Bandhumatī,
born in an undistinguished clan.
Having heard the Sage’s Teaching,
I went forth into homelessness. Verse 2
Walt 1216 Learned bearer of the Teaching,
good preacher, varied discourser,
I was a nun who practiced the
dispensation of the Buddha. Verse 3
Walt 1217 Then giving many Dhamma-talks
with friendship to the populace,
fallen from there I was reborn,
full of splendor, in Tusitā. Verse 4
Walt 1218 Thirty-one aeons hence, Sikhi,
a Heap of Fire, burning with fame,
the Victor, the Best Debater,
the Buddha, arose in the world. Verse 5
Walt 1219 At that very time going forth,
skilled in Buddha’s dispensation,
making the Victor’s sayings shine,
I then went to the thirty gods. Verse 6
Walt 1220 The Leader named Vessabhu, too,
arose thirty-one aeons hence.
And then as well I was the same:
a Buddhist nun with vast knowledge. Verse 7
Walt 1221 Gone forth, a Dhamma-bearer, I
made Buddha’s dispensation shine.
Gone to the lovely gods’ city,
I experienced great comfort. Verse 8
Walt 1222 In this present lucky aeon,
Kakusandha, Supreme Victor,
arose, the Excellent Leopard,
and then as well I was the same. Verse 9
Walt 1223 Gone forth, I illuminated
the Sage’s thought, as long as life.
Fallen from there, I went as far
as the sphere of the thirty gods. Verse 10
Walt 1224 And in this very same aeon
the Leader Konāgamana
arose next, the Excellent Lamp,
Ultimate among all beings. Verse 11
Walt 1225 At that time too, going forth in
the Neutral One’s dispensation,
learned bearer of Dhamma, I
made Buddha’s dispensation shine. Verse 12
Walt 1226 Also in this lucky aeon
Kassapa Buddha, Seventh Sage,
arose, the Refuge of the World,
Non-Hostile One, Ender of Death. Verse 13
Walt 1227 Gone forth in the dispensation
of that Hero Among Men as well,
I learned the good Teaching by heart,
was confident in inquiry, Verse 14
Walt 1228 very moral, also modest,
very skilled in the three trainings,
giving many talks on Dhamma
with friendship as long as I lived. Verse 15
Walt 1229 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 16
Walt 1230 And now, in my final rebirth,
in Giribbaja, best city,
I was born to rich millionaires,
with a huge quantity of gems. Verse 17
Walt 1231 When Gotama, the World’s Leader,
surrounded by one thousand monks,
entered the city, Rajgir, he
was praised by the thousand-eyed god: Verse 18
Walt 1232 “The Restrained One, with former ascetics restrained;
the Liberated One, with those liberated;
who had the same color as a coin made of gold,
the Blessed One entered Rajagaha city.” Verse 19
Walt 1233 Seeing the Buddha’s majesty,
and hearing him, Heap of Virtues,
pleasing my heart in the Buddha,
I worshipped him with all my strength. Verse 20
Walt 1234 At some moment after that, in
the presence of Dhammadinnā,
having gone forth from my own home,
I went forth into homelessness. Verse 21
Walt 1235 I destroyed all the defilements
while my hair was being cut off.
Going forth, in no long time, I learned
Buddha’s entire dispensation. Verse 22
Walt 1236 After that I preached the Dhamma
in a huge gathering of folks.
While Dhamma was being preached, there
was insight into the Teaching. Verse 23
Walt 1237 Seeing varied thousands of folks
achieving insight, astonished,
a spirit, very pleased by me,
roaming about Rajgir said this: Verse 24
Walt 1238 “Why are these people in Rajgir
acting like nymphs drunk on honey,
unless they’re honoring Sukkā,
who’s preaching the ambrosial state? Verse 25
Walt 1239 Methinks the wise are drinking that
irresistible and unmixed
strength-bestower, like travelers
drink rainwater from a raincloud.” Verse 26
Walt 1240 I’ve mastered the superpowers
like the “divine ear” element.
I’m also a master, Great Sage,
of the knowledge in others’ hearts. Verse 27
Walt 1241 I remember my former lives;
my “divine eye” is purified.
All the defilements are destroyed;
I will not be reborn again. Verse 28
Walt 1242 In meaning and in the Teaching,
etymology and preaching,
this knowledge of mine was produced
in your presence, O Great Hero. Verse 29
Walt 1243 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 30
Walt 1244 Being in Best Buddha's presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 31
Walt 1245 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 32
Thus indeed the bhikkhunī Sukkā spoke these verses.
The legend of Sukkā Therī is finished