BJT 158Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là Bhūridatta có đại thần lực. Ta đã đi đến cõi trời cùng với vị Đại Vương Virūpakkha.
BJT 159Sau khi nhìn thấy chư thiên ở tại nơi ấy được thọ hưởng an lạc trọn vẹn, ta đã thọ trì giới cấm nhằm mục đích đi đến cõi trời ấy.
BJT 160Sau khi làm phận sự đối với cơ thể và thọ dụng chỉ đủ để nuôi sống, ta đã quyết định về bốn chi phần (của cơ thể) rồi đã nằm ở trên đỉnh của gò mối.
BJT 161Đối với người nào có việc cần dùng đến da ngoài, da trong, thịt, các sợi gân, hoặc các khúc xương (ở cơ thể ta), chính vì là vật đã được bố thí nên hãy để người ấy mang đi.
BJT 162Khi ta đang nằm, kẻ vô ơn Ālambana đã nắm lấy ta ném vào trong giỏ rồi đã bắt ta làm trò vui ở nơi này nơi khác.
BJT 163Ngay cả trong khi ông ấy ném (ta) vào giỏ, thậm chí trong khi ông ấy dùng bàn tay đè bẹp (ta) xuống, ta không giận dữ đối với Ālambana vì ta có nỗi lo sợ bị đứt giới.
BJT 164Sự xả bỏ sanh mạng bản thân của ta là nhẹ hơn cọng cỏ. Sự phá giới đối với ta tương tợ như việc đảo ngược trái đất.
BJT 165Liên tục một trăm kiếp sống, ta có thể xả bỏ mạng sống của ta chứ không thể nào làm đứt giới cho dù là vì nguyên nhân (làm vua cai trị) bốn châu lục.
BJT 166Hơn nữa, vì gìn giữ giới để làm viên mãn sự toàn hảo về giới, ta không làm thay đổi tâm ý trong khi (Ālambana) ném (ta) vào trong giỏ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Bhūridatta là phần thứ nhì.
“Punāparaṁ yadā homi,
bhūridatto mahiddhiko;
Virūpakkhena mahāraññā,
devalokamagañchahaṁ.
Tattha passitvāhaṁ deve,
ekantaṁ sukhasamappite;
Taṁ saggagamanatthāya,
sīlabbataṁ samādiyiṁ.
Sarīrakiccaṁ katvāna,
bhutvā yāpanamattakaṁ;
Caturo aṅge adhiṭṭhāya,
semi vammikamuddhani.
‘Chaviyā cammena maṁsena,
Nahāruaṭṭhikehi vā;
Yassa etena karaṇīyaṁ,
Dinnaṁyeva harātu so’.
Saṁsito akataññunā,
ālampāyano mamaggahi;
Peḷāya pakkhipitvāna,
kīḷeti maṁ tahiṁ tahiṁ.
Peḷāya pakkhipantepi,
sammaddantepi pāṇinā;
Ālampāyane na kuppāmi,
sīlakhaṇḍabhayā mama.
Sakajīvitapariccāgo,
tiṇato lahuko mama;
Sīlavītikkamo mayhaṁ,
pathavīuppatanaṁ viya.
Nirantaraṁ jātisataṁ,
cajeyyaṁ mama jīvitaṁ;
Neva sīlaṁ pabhindeyyaṁ,
catuddīpāna hetupi.
Api cāhaṁ sīlarakkhāya,
Sīlapāramipūriyā;
Na karomi citte aññathattaṁ,
Pakkhipantampi peḷake”ti.
Bhūridattacariyaṁ dutiyaṁ.
“Then again when I was
Bhūridatta, a dragon of great psychic power,
together with Virūpakkha the Great King
I went to a heavenly realm.
There I saw gods
wholly given over to pleasure.
For the sake of going to that heaven,
I undertook the observance of ethics.
After tending to me physical needs,
and eating enough to get by,
I resolved on the four factors,
and lay down atop a termite mound, thinking:
‘My outer skin and inner, flesh,
sinews and bones:
whoever has use for these,
they are already given, please take them.’
While lying there the ingrate
Ālampāyana grabbed me.
He threw me in a basket
and made me perform in places all over.
Though thrown in a basket
and crushed by his hands,
I did not get upset with Ālampāyana,
for fear of breaking my ethics.
To give up my own life
was as light as a blade of grass.
To transgress my ethical principles
was like overturning the earth.
In a hundred successive lives
I would give up my own life.
I would not even violate my ethics
for the sake of the four continents.
For the sake of protecting ethics,
and fulfilling my perfection of ethics,
I did not let my mind change,
even when thrown in a basket.”
BJT 158Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là Bhūridatta có đại thần lực. Ta đã đi đến cõi trời cùng với vị Đại Vương Virūpakkha.
BJT 159Sau khi nhìn thấy chư thiên ở tại nơi ấy được thọ hưởng an lạc trọn vẹn, ta đã thọ trì giới cấm nhằm mục đích đi đến cõi trời ấy.
BJT 160Sau khi làm phận sự đối với cơ thể và thọ dụng chỉ đủ để nuôi sống, ta đã quyết định về bốn chi phần (của cơ thể) rồi đã nằm ở trên đỉnh của gò mối.
BJT 161Đối với người nào có việc cần dùng đến da ngoài, da trong, thịt, các sợi gân, hoặc các khúc xương (ở cơ thể ta), chính vì là vật đã được bố thí nên hãy để người ấy mang đi.
BJT 162Khi ta đang nằm, kẻ vô ơn Ālambana đã nắm lấy ta ném vào trong giỏ rồi đã bắt ta làm trò vui ở nơi này nơi khác.
BJT 163Ngay cả trong khi ông ấy ném (ta) vào giỏ, thậm chí trong khi ông ấy dùng bàn tay đè bẹp (ta) xuống, ta không giận dữ đối với Ālambana vì ta có nỗi lo sợ bị đứt giới.
BJT 164Sự xả bỏ sanh mạng bản thân của ta là nhẹ hơn cọng cỏ. Sự phá giới đối với ta tương tợ như việc đảo ngược trái đất.
BJT 165Liên tục một trăm kiếp sống, ta có thể xả bỏ mạng sống của ta chứ không thể nào làm đứt giới cho dù là vì nguyên nhân (làm vua cai trị) bốn châu lục.
BJT 166Hơn nữa, vì gìn giữ giới để làm viên mãn sự toàn hảo về giới, ta không làm thay đổi tâm ý trong khi (Ālambana) ném (ta) vào trong giỏ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Bhūridatta là phần thứ nhì.
“Punāparaṁ yadā homi,
bhūridatto mahiddhiko;
Virūpakkhena mahāraññā,
devalokamagañchahaṁ.
Tattha passitvāhaṁ deve,
ekantaṁ sukhasamappite;
Taṁ saggagamanatthāya,
sīlabbataṁ samādiyiṁ.
Sarīrakiccaṁ katvāna,
bhutvā yāpanamattakaṁ;
Caturo aṅge adhiṭṭhāya,
semi vammikamuddhani.
‘Chaviyā cammena maṁsena,
Nahāruaṭṭhikehi vā;
Yassa etena karaṇīyaṁ,
Dinnaṁyeva harātu so’.
Saṁsito akataññunā,
ālampāyano mamaggahi;
Peḷāya pakkhipitvāna,
kīḷeti maṁ tahiṁ tahiṁ.
Peḷāya pakkhipantepi,
sammaddantepi pāṇinā;
Ālampāyane na kuppāmi,
sīlakhaṇḍabhayā mama.
Sakajīvitapariccāgo,
tiṇato lahuko mama;
Sīlavītikkamo mayhaṁ,
pathavīuppatanaṁ viya.
Nirantaraṁ jātisataṁ,
cajeyyaṁ mama jīvitaṁ;
Neva sīlaṁ pabhindeyyaṁ,
catuddīpāna hetupi.
Api cāhaṁ sīlarakkhāya,
Sīlapāramipūriyā;
Na karomi citte aññathattaṁ,
Pakkhipantampi peḷake”ti.
Bhūridattacariyaṁ dutiyaṁ.