BJT 221Ở trong kinh thành Kampillā, thành phố tráng lệ thuộc vương quốc Pancāla, có đức vua tên Jayaddisa đã được thành tựu giới đức.
BJT 222Là Alīnasatta, người con trai của đức vua ấy, ta được học tập, có giới hạnh tốt, có đức độ, luôn luôn quan tâm đến người hầu cận.
BJT 223Cha ta đã đi săn thú rừng và đã đến gần bên Porisāda (kẻ ăn thịt người). Gã ấy đã bắt giữ cha ta (nói rằng): “Ngươi là thức ăn của ta, chớ có vùng vẫy.”
BJT 224Sau khi được nghe lời nói ấy của gã, đức vua đã trở nên hoảng hốt, run rẩy vì sợ hãi, cứng đờ chân cẳng khi trông thấy kẻ ăn thịt người.
BJT 225(Đức vua đã nói rằng:) “Hãy giữ lấy con thú rừng, rồi trả tự do cho ta,” và đã hứa hẹn việc sẽ quay trở lại. Sau khi giao lại tài sản cho vị (quan đại thần) Bà-la-môn, cha (ta) đã nhắn nhủ ta rằng:
BJT 226“Này con, hãy cai quản vương quốc. Chớ bỏ bê thành phố này. Cha đã hứa với kẻ ăn thịt người về việc sẽ quay trở lại của cha.”
BJT 227Sau khi cúi lạy mẹ cha và buông bỏ bản thân, ta đã đặt cung kiếm xuống rồi đã đi đến gặp kẻ ăn thịt người.
BJT 228Có lẽ gã ấy sẽ sợ hãi người đi đến có vũ khí trong tay. Khi ta đã gây nên nỗi lo sợ, vì điều ấy giới sẽ bị hư hỏng.
BJT 229Vì ta có nỗi lo sợ về việc đứt giới, ta đã không nói điều gây khó chịu đối với gã ấy. Là người nói điều lợi ích, có tâm từ ái, ta đã nói điều này:
BJT 230“Hãy đốt lên ngọn lửa lớn, tôi sẽ lao từ trên cây xuống. Này ông chú, ông hãy biết lúc đã được chín tới, rồi ông hãy thọ thực.”
BJT 231Như thế với việc thực hành giới là nguyên nhân, ta đã không bảo tồn mạng sống của ta. Và ta đã khiến cho gã (ăn thịt người) ấy luôn luôn xa lánh việc giết hại sanh mạng.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Alīnasatta là phần thứ chín.
“Pañcālaraṭṭhe nagaravare,
Kapilāyaṁ puruttame;
Rājā jayaddiso nāma,
Sīlaguṇamupāgato.
Tassa rañño ahaṁ putto,
Sutadhammo susīlavā;
Alīnasatto guṇavā,
Anurakkhaparijano sadā.
Pitā me migavaṁ gantvā,
porisādaṁ upāgami;
So me pitumaggahesi,
‘bhakkhosi mama mā cali’.
Tassa taṁ vacanaṁ sutvā,
bhīto tasitavedhito;
Ūrukkhambho ahu tassa,
disvāna porisādakaṁ.
Migavaṁ gahetvā muñcassu,
katvā āgamanaṁ puna;
Brāhmaṇassa dhanaṁ datvā,
pitā āmantayī mamaṁ.
‘Rajjaṁ putta paṭipajja,
mā pamajji puraṁ idaṁ;
Kataṁ me porisādena,
mama āgamanaṁ puna’.
Mātāpitū ca vanditvā,
nimminitvāna attanā;
Nikkhipitvā dhanuṁ khaggaṁ,
porisādaṁ upāgamiṁ.
Sasatthahatthūpagataṁ,
kadāci so tasissati;
Tena bhijjissati sīlaṁ,
parittāsaṁ kate mayi.
Sīlakhaṇḍabhayā mayhaṁ,
tassa dessaṁ na byāhariṁ;
Mettacitto hitavādī,
idaṁ vacanamabraviṁ.
‘Ujjālehi mahāaggiṁ,
papatissāmi rukkhato;
Tvaṁ pakkakālamaññāya,
bhakkhaya maṁ pitāmaha’.
Iti sīlavataṁ hetu,
nārakkhiṁ mama jīvitaṁ;
Pabbājesiṁ cahaṁ tassa,
sadā pāṇātipātikan”ti.
Alīnasattucariyaṁ navamaṁ.
“In the fine city of kingdom of Pañcāla,
in the capital city of Kapilā,
the king named Jayaddisa
was furnished with virtuous qualities.
I was that king’s son,
well educated and virtuous;
Alīnasattu of fine qualities,
I always cared for the attendants.
My father had gone deer hunting
when he came across a cannibal,
who seized my father, saying,
‘You are my prey, don’t move!’
When he heard these words,
he was scared and trembled with fear,
his thighs became stiff
when he saw the cannibal.
‘Let me go, take the deer meat!’ he said,
‘I promise to return.’
Having paid the brahmin,
my father said to me:
‘Son, rule the realm.
Do not neglect this city.
I promised the cannibal
that I will return.’
I bowed to my mother and father,
and substituted myself.
Tossing my bow and sword,
I approached the cannibal.
Perhaps if I have weapons in hand
that might make him afraid.
And that would violate my ethics,
were I to frighten him.
For fear of violating my ethics,
I said nothing hateful to him.
Lovingly and beneficially,
I said the following.
‘Kindle a great fire.
I will drop into it from a tree.
When you know I am cooked,
eat me, Grandfather.’
And so for the sake of my ethical vows
I did not protect my life.
And I drove out forever
his attacks on living creatures.”
BJT 221Ở trong kinh thành Kampillā, thành phố tráng lệ thuộc vương quốc Pancāla, có đức vua tên Jayaddisa đã được thành tựu giới đức.
BJT 222Là Alīnasatta, người con trai của đức vua ấy, ta được học tập, có giới hạnh tốt, có đức độ, luôn luôn quan tâm đến người hầu cận.
BJT 223Cha ta đã đi săn thú rừng và đã đến gần bên Porisāda (kẻ ăn thịt người). Gã ấy đã bắt giữ cha ta (nói rằng): “Ngươi là thức ăn của ta, chớ có vùng vẫy.”
BJT 224Sau khi được nghe lời nói ấy của gã, đức vua đã trở nên hoảng hốt, run rẩy vì sợ hãi, cứng đờ chân cẳng khi trông thấy kẻ ăn thịt người.
BJT 225(Đức vua đã nói rằng:) “Hãy giữ lấy con thú rừng, rồi trả tự do cho ta,” và đã hứa hẹn việc sẽ quay trở lại. Sau khi giao lại tài sản cho vị (quan đại thần) Bà-la-môn, cha (ta) đã nhắn nhủ ta rằng:
BJT 226“Này con, hãy cai quản vương quốc. Chớ bỏ bê thành phố này. Cha đã hứa với kẻ ăn thịt người về việc sẽ quay trở lại của cha.”
BJT 227Sau khi cúi lạy mẹ cha và buông bỏ bản thân, ta đã đặt cung kiếm xuống rồi đã đi đến gặp kẻ ăn thịt người.
BJT 228Có lẽ gã ấy sẽ sợ hãi người đi đến có vũ khí trong tay. Khi ta đã gây nên nỗi lo sợ, vì điều ấy giới sẽ bị hư hỏng.
BJT 229Vì ta có nỗi lo sợ về việc đứt giới, ta đã không nói điều gây khó chịu đối với gã ấy. Là người nói điều lợi ích, có tâm từ ái, ta đã nói điều này:
BJT 230“Hãy đốt lên ngọn lửa lớn, tôi sẽ lao từ trên cây xuống. Này ông chú, ông hãy biết lúc đã được chín tới, rồi ông hãy thọ thực.”
BJT 231Như thế với việc thực hành giới là nguyên nhân, ta đã không bảo tồn mạng sống của ta. Và ta đã khiến cho gã (ăn thịt người) ấy luôn luôn xa lánh việc giết hại sanh mạng.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Alīnasatta là phần thứ chín.
“Pañcālaraṭṭhe nagaravare,
Kapilāyaṁ puruttame;
Rājā jayaddiso nāma,
Sīlaguṇamupāgato.
Tassa rañño ahaṁ putto,
Sutadhammo susīlavā;
Alīnasatto guṇavā,
Anurakkhaparijano sadā.
Pitā me migavaṁ gantvā,
porisādaṁ upāgami;
So me pitumaggahesi,
‘bhakkhosi mama mā cali’.
Tassa taṁ vacanaṁ sutvā,
bhīto tasitavedhito;
Ūrukkhambho ahu tassa,
disvāna porisādakaṁ.
Migavaṁ gahetvā muñcassu,
katvā āgamanaṁ puna;
Brāhmaṇassa dhanaṁ datvā,
pitā āmantayī mamaṁ.
‘Rajjaṁ putta paṭipajja,
mā pamajji puraṁ idaṁ;
Kataṁ me porisādena,
mama āgamanaṁ puna’.
Mātāpitū ca vanditvā,
nimminitvāna attanā;
Nikkhipitvā dhanuṁ khaggaṁ,
porisādaṁ upāgamiṁ.
Sasatthahatthūpagataṁ,
kadāci so tasissati;
Tena bhijjissati sīlaṁ,
parittāsaṁ kate mayi.
Sīlakhaṇḍabhayā mayhaṁ,
tassa dessaṁ na byāhariṁ;
Mettacitto hitavādī,
idaṁ vacanamabraviṁ.
‘Ujjālehi mahāaggiṁ,
papatissāmi rukkhato;
Tvaṁ pakkakālamaññāya,
bhakkhaya maṁ pitāmaha’.
Iti sīlavataṁ hetu,
nārakkhiṁ mama jīvitaṁ;
Pabbājesiṁ cahaṁ tassa,
sadā pāṇātipātikan”ti.
Alīnasattucariyaṁ navamaṁ.