BJT 232Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là Saṅkhapāla, chúa tể của loài rồng, có đại thần lực, có răng nanh là vũ khí, có nọc độc ghê gớm, và có hai lưỡi.
BJT 233Ở tại ngã tư của con đường lớn có sự tụ hội của nhiều hạng người, sau khi quyết định về bốn chi phần (của cơ thể), ta đã thiết lập chỗ cư ngụ ở tại nơi ấy.
BJT 234Đối với người nào có việc cần dùng đến da ngoài, da trong, thịt, các sợi gân, hoặc các khúc xương (ở cơ thể ta), chính vì là vật đã được bố thí nên hãy để người ấy mang đi.
BJT 235Có những gã vô lại thô lỗ, hung dữ, bất nhân, đã nhìn thấy và đã tiến đến gần ta ở tại nơi ấy, các bàn tay có nắm gậy gộc.
BJT 236Sau khi chọc thủng ở lỗ mũi, ở đuôi, và ở xương sống lưng, những gã vô lại đã đặt ta lên cáng rồi lôi đi.
BJT 237Và ở nơi ấy, với luồng gió từ lỗ mũi ta, trong khi mong muốn ta có thể thiêu đốt trái đất có biển bao bọc, có rừng, có núi.
BJT 238Mặc dù đang bị đâm thọc bởi những cọc nhọn, mặc dầu đang bị chặt chém bởi những con dao, ta cũng không tức giận những gã vô lại; đây là sự toàn hảo về giới của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Saṅkhapāla là phần thứ mười.
BJT 239Con long tượng, Bhūridatta, (con rồng) Campeyya, (Culla) bodhi, con trâu (chúa), (con nai chúa) Ruru, (đạo sĩ tóc bện) Mātaṅga, (thiên tử) Dhamma, (đức vua) Jayaddisa và người con trai.
BJT 240Tất cả (chín) hạnh này đều có năng lực của giới, là những phần thiết yếu, là những yếu tố góp phần (vào sự toàn hảo về giới); (tuy nhiên), ta còn bảo tồn mạng sống rồi mới gìn giữ các giới.
BJT 241(Trái lại), mạng sống của ta khi là Saṅkhapāla luôn luôn được ban phát đến bất cứ người nào; do đó, điều ấy là sự toàn hảo về giới.
Dứt phần giảng giải sự toàn hảo về giới.
“Punāparaṁ yadā homi,
saṅkhapālo mahiddhiko;
Dāṭhāvudho ghoraviso,
dvijivho uragādhibhū.
Catuppathe mahāmagge,
nānājanasamākule;
Caturo aṅge adhiṭṭhāya,
tattha vāsamakappayiṁ.
Chaviyā cammena maṁsena,
Nahāruaṭṭhikehi vā;
Yassa etena karaṇīyaṁ,
Dinnaṁyeva harātu so.
Addasaṁsu bhojaputtā,
kharā luddā akāruṇā;
Upagañchuṁ mamaṁ tattha,
daṇḍamuggarapāṇino.
Nāsāya vinivijjhitvā,
naṅguṭṭhe piṭṭhikaṇṭake;
Kāje āropayitvāna,
bhojaputtā hariṁsu maṁ.
Sasāgarantaṁ pathaviṁ,
sakānanaṁ sapabbataṁ;
Icchamāno cahaṁ tattha,
nāsāvātena jhāpaye.
Sūlehi vinivijjhante,
Koṭṭayantepi sattibhi;
Bhojaputte na kuppāmi,
Esā me sīlapāramī”ti.
Saṅkhapālacariyaṁ dasamaṁ.
Hatthināgavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Hatthināgo bhūridatto,
campeyyo bodhi mahiṁso;
Ruru mātaṅgo dhammo ca,
atrajo ca jayaddiso.
Ete nava sīlabalā,
parikkhārā padesikā;
Jīvitaṁ parirakkhitvā,
sīlāni anurakkhisaṁ.
Saṅkhapālassa me sato,
sabbakālampi jīvitaṁ;
Yassa kassaci niyyattaṁ,
tasmā sā sīlapāramīti.
Sīlapāraminiddeso niṭṭhito.
“Then again when I was
Saṅkhapāla, a dragon of great psychic power,
deadly-fanged, lethally venomous,
two-tongued, lord of serpents.
At a crossroad on a highway
crowded with many people,
I resolved on the four factors,
and made my home there.
‘My outer skin and inner, flesh,
sinews and bones:
whoever has use for these,
they are already given, please take them.’
Seeing me, the Bhojans,
those violent and pitiless hunters,
came to me there
with sticks and hammers in their hands.
Having pierced my nose,
tail, and spine,
and fastened me to a pole,
the Bhojans carried me away.
The earth from sea to sea,
with its forests and mountains—
had I wished, right there
I could have burnt it up with a blast from my nose.
Though pierced with stakes,
and stabbed with knives,
I did not get upset with the Bhojans:
this is my perfection of ethics.”
BJT 232Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là Saṅkhapāla, chúa tể của loài rồng, có đại thần lực, có răng nanh là vũ khí, có nọc độc ghê gớm, và có hai lưỡi.
BJT 233Ở tại ngã tư của con đường lớn có sự tụ hội của nhiều hạng người, sau khi quyết định về bốn chi phần (của cơ thể), ta đã thiết lập chỗ cư ngụ ở tại nơi ấy.
BJT 234Đối với người nào có việc cần dùng đến da ngoài, da trong, thịt, các sợi gân, hoặc các khúc xương (ở cơ thể ta), chính vì là vật đã được bố thí nên hãy để người ấy mang đi.
BJT 235Có những gã vô lại thô lỗ, hung dữ, bất nhân, đã nhìn thấy và đã tiến đến gần ta ở tại nơi ấy, các bàn tay có nắm gậy gộc.
BJT 236Sau khi chọc thủng ở lỗ mũi, ở đuôi, và ở xương sống lưng, những gã vô lại đã đặt ta lên cáng rồi lôi đi.
BJT 237Và ở nơi ấy, với luồng gió từ lỗ mũi ta, trong khi mong muốn ta có thể thiêu đốt trái đất có biển bao bọc, có rừng, có núi.
BJT 238Mặc dù đang bị đâm thọc bởi những cọc nhọn, mặc dầu đang bị chặt chém bởi những con dao, ta cũng không tức giận những gã vô lại; đây là sự toàn hảo về giới của ta.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Saṅkhapāla là phần thứ mười.
BJT 239Con long tượng, Bhūridatta, (con rồng) Campeyya, (Culla) bodhi, con trâu (chúa), (con nai chúa) Ruru, (đạo sĩ tóc bện) Mātaṅga, (thiên tử) Dhamma, (đức vua) Jayaddisa và người con trai.
BJT 240Tất cả (chín) hạnh này đều có năng lực của giới, là những phần thiết yếu, là những yếu tố góp phần (vào sự toàn hảo về giới); (tuy nhiên), ta còn bảo tồn mạng sống rồi mới gìn giữ các giới.
BJT 241(Trái lại), mạng sống của ta khi là Saṅkhapāla luôn luôn được ban phát đến bất cứ người nào; do đó, điều ấy là sự toàn hảo về giới.
Dứt phần giảng giải sự toàn hảo về giới.
“Punāparaṁ yadā homi,
saṅkhapālo mahiddhiko;
Dāṭhāvudho ghoraviso,
dvijivho uragādhibhū.
Catuppathe mahāmagge,
nānājanasamākule;
Caturo aṅge adhiṭṭhāya,
tattha vāsamakappayiṁ.
Chaviyā cammena maṁsena,
Nahāruaṭṭhikehi vā;
Yassa etena karaṇīyaṁ,
Dinnaṁyeva harātu so.
Addasaṁsu bhojaputtā,
kharā luddā akāruṇā;
Upagañchuṁ mamaṁ tattha,
daṇḍamuggarapāṇino.
Nāsāya vinivijjhitvā,
naṅguṭṭhe piṭṭhikaṇṭake;
Kāje āropayitvāna,
bhojaputtā hariṁsu maṁ.
Sasāgarantaṁ pathaviṁ,
sakānanaṁ sapabbataṁ;
Icchamāno cahaṁ tattha,
nāsāvātena jhāpaye.
Sūlehi vinivijjhante,
Koṭṭayantepi sattibhi;
Bhojaputte na kuppāmi,
Esā me sīlapāramī”ti.
Saṅkhapālacariyaṁ dasamaṁ.
Hatthināgavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Hatthināgo bhūridatto,
campeyyo bodhi mahiṁso;
Ruru mātaṅgo dhammo ca,
atrajo ca jayaddiso.
Ete nava sīlabalā,
parikkhārā padesikā;
Jīvitaṁ parirakkhitvā,
sīlāni anurakkhisaṁ.
Saṅkhapālassa me sato,
sabbakālampi jīvitaṁ;
Yassa kassaci niyyattaṁ,
tasmā sā sīlapāramīti.
Sīlapāraminiddeso niṭṭhito.