“Thưa ngài Nāgasena, tư có cái gì là hành tướng?”
“Tâu đại vương, tư có sự quyết định là hành tướng và có sự tạo tác là hành tướng.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó tạo ra thuốc độc rồi tự mình uống, và cho các người khác uống. Bản thân người ấy bị khổ sở, những người khác cũng bị khổ sở. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ở đây có một người nào đó suy nghĩ với sự quyết định về điều bất thiện, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, bị sanh vào chốn bất hạnh, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục. Luôn cả những người học tập theo người ấy, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, cũng bị sanh vào chốn bất hạnh, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nào đó tạo ra một hỗn hợp bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía rồi tự mình uống, và cho các người khác uống. Bản thân người ấy được khoái lạc, những người khác cũng được khoái lạc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ở đây có một người nào đó suy nghĩ với sự quyết định về điều thiện, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, được sanh vào chốn an vui, cõi trời. Luôn cả những người học tập theo người ấy, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, cũng được sanh vào chốn an vui, cõi trời. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tư có sự quyết định là hành tướng và có sự tạo tác là hành tướng.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
“Bhante nāgasena, kiṁlakkhaṇā cetanā”ti?
“Cetayitalakkhaṇā, mahārāja, cetanā abhisaṅkharaṇalakkhaṇā cā”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, kocideva puriso visaṁ abhisaṅkharitvā attanā ca piveyya, pare ca pāyeyya, so attanāpi dukkhito bhaveyya, parepi dukkhitā bhaveyyuṁ;
evameva kho, mahārāja, idhekacco puggalo akusalaṁ kammaṁ cetanāya cetayitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya.
Yepi tassa anusikkhanti, tepi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti.
Yathā vā pana, mahārāja, kocideva puriso sappinavanītatelamadhuphāṇitaṁ ekajjhaṁ abhisaṅkharitvā attanā ca piveyya, pare ca pāyeyya, so attanā sukhito bhaveyya, parepi sukhitā bhaveyyuṁ;
evameva kho, mahārāja, idhekacco puggalo kusalaṁ kammaṁ cetanāya cetayitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
Yepi tassa anusikkhanti, tepi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
Evaṁ kho, mahārāja, cetayitalakkhaṇā cetanā abhisaṅkharaṇalakkhaṇā cā”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Cetanālakkhaṇapañho ekādasamo.
‘What is the distinguishing characteristic, Nāgasena, of the conceived purpose (cetanā)?’
‘The being conceived, O king, and the being prepared.’
‘Give me an illustration.’
‘It is like the case of a man, O king, who should prepare poison, and both drink of it himself, and give of it to others to drink. He himself would suffer pain, and so would they. In the same way some individual, having thought out with intention some evil deed, on the dissolution of the body after death, would be reborn into some unhappy state of woe in purgatory, and so also would those who followed his advice.—And it is like the case of a PTS vp En 95 man, O king, who should prepare a mixture of ghee, butter, oil, honey and molasses, and should both drink thereof himself and give of it to others to drink. He himself would have pleasure, and so would they. PTS vp Pali 62 In the same way some individual, having thought out with intention some good deed, will be reborn, on the dissolution of the body after death, into some happy state of bliss in heaven, and so also would those who follow his advice. Thus is it, great king, that the being conceived, and the being prepared, are marks of the conceived purpose.’
‘Very good, Nāgasena!’
“Thưa ngài Nāgasena, tư có cái gì là hành tướng?”
“Tâu đại vương, tư có sự quyết định là hành tướng và có sự tạo tác là hành tướng.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó tạo ra thuốc độc rồi tự mình uống, và cho các người khác uống. Bản thân người ấy bị khổ sở, những người khác cũng bị khổ sở. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ở đây có một người nào đó suy nghĩ với sự quyết định về điều bất thiện, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, bị sanh vào chốn bất hạnh, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục. Luôn cả những người học tập theo người ấy, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, cũng bị sanh vào chốn bất hạnh, cõi khổ, nơi trừng phạt, địa ngục.
Tâu đại vương, hoặc là giống như người nào đó tạo ra một hỗn hợp bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía rồi tự mình uống, và cho các người khác uống. Bản thân người ấy được khoái lạc, những người khác cũng được khoái lạc. Tâu đại vương, tương tợ y như thế ở đây có một người nào đó suy nghĩ với sự quyết định về điều thiện, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, được sanh vào chốn an vui, cõi trời. Luôn cả những người học tập theo người ấy, do sự hoại rã của thân, do sự chết đi, cũng được sanh vào chốn an vui, cõi trời. Tâu đại vương, tương tợ y như thế tư có sự quyết định là hành tướng và có sự tạo tác là hành tướng.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
“Bhante nāgasena, kiṁlakkhaṇā cetanā”ti?
“Cetayitalakkhaṇā, mahārāja, cetanā abhisaṅkharaṇalakkhaṇā cā”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, kocideva puriso visaṁ abhisaṅkharitvā attanā ca piveyya, pare ca pāyeyya, so attanāpi dukkhito bhaveyya, parepi dukkhitā bhaveyyuṁ;
evameva kho, mahārāja, idhekacco puggalo akusalaṁ kammaṁ cetanāya cetayitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjeyya.
Yepi tassa anusikkhanti, tepi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti.
Yathā vā pana, mahārāja, kocideva puriso sappinavanītatelamadhuphāṇitaṁ ekajjhaṁ abhisaṅkharitvā attanā ca piveyya, pare ca pāyeyya, so attanā sukhito bhaveyya, parepi sukhitā bhaveyyuṁ;
evameva kho, mahārāja, idhekacco puggalo kusalaṁ kammaṁ cetanāya cetayitvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
Yepi tassa anusikkhanti, tepi kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
Evaṁ kho, mahārāja, cetayitalakkhaṇā cetanā abhisaṅkharaṇalakkhaṇā cā”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Cetanālakkhaṇapañho ekādasamo.