Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, nghiệp thiện hoặc bất thiện được tạo ra bởi danh sắc này, vậy các nghiệp ấy trú ở đâu?”
“Tâu đại vương, các nghiệp ấy theo sau tợ như bóng có sự không xa lìa (hình) vậy.”
“Thưa ngài, có thể nào chỉ cho thấy các nghiệp ấy là: ‘Các nghiệp ấy trú ở chỗ này’ không?”
“Tâu đại vương, không thể nào chỉ cho thấy các nghiệp ấy là: ‘Các nghiệp ấy trú ở chỗ này hay ở chỗ này.’”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Những cây nào có các trái chưa trổ, có thể nào chỉ cho thấy các trái của chúng là: ‘Các trái ấy trú ở chỗ này hay ở chỗ này’ không?”
“Thưa ngài, không.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi sự diễn tiến còn chưa bị cắt đứt thì không thể nào chỉ cho thấy các nghiệp ấy là: ‘Các nghiệp ấy trú ở chỗ này hay ở chỗ này.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, iminā nāmarūpena kammaṁ kataṁ kusalaṁ vā akusalaṁ vā, kuhiṁ tāni kammāni tiṭṭhantī”ti?
“Anubandheyyuṁ kho, mahārāja, tāni kammāni chāyāva anapāyinī”ti.
“Sakkā pana, bhante, tāni kammāni dassetuṁ ‘idha vā idha vā tāni kammāni tiṭṭhantī’”ti?
“Na sakkā, mahārāja, tāni kammāni dassetuṁ ‘idha vā idha vā tāni kammāni tiṭṭhantī’”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yānimāni rukkhāni anibbattaphalāni, sakkā tesaṁ phalāni dassetuṁ ‘idha vā idha vā tāni phalāni tiṭṭhantī’”ti.
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, abbocchinnāya santatiyā na sakkā tāni kammāni dassetuṁ ‘idha vā idha vā tāni kammāni tiṭṭhantī’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Kammaphalaatthibhāvapañho aṭṭhamo.
PTS cs 8 The king said: ‘When deeds are committed, Nāgasena, by one name-and-form, what becomes of those deeds?’
‘The deeds would follow it, O king, like a shadow that never leaves it.’
‘Can any one point out those deeds, saying: “Here are those deeds, or there”?’
‘No.’ PTS vp En 113
‘Give me an illustration.’
‘Now what do you think, O king? Can any one point out the fruits which a tree has not yet produced, saying: “Here they are, or there”?’
‘Certainly not, Sir.’
‘Just so, great king, so long as the continuity of life is not cut off, it is impossible to point out the deeds that are done.’
‘Very good, Nāgasena!’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, nghiệp thiện hoặc bất thiện được tạo ra bởi danh sắc này, vậy các nghiệp ấy trú ở đâu?”
“Tâu đại vương, các nghiệp ấy theo sau tợ như bóng có sự không xa lìa (hình) vậy.”
“Thưa ngài, có thể nào chỉ cho thấy các nghiệp ấy là: ‘Các nghiệp ấy trú ở chỗ này’ không?”
“Tâu đại vương, không thể nào chỉ cho thấy các nghiệp ấy là: ‘Các nghiệp ấy trú ở chỗ này hay ở chỗ này.’”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Những cây nào có các trái chưa trổ, có thể nào chỉ cho thấy các trái của chúng là: ‘Các trái ấy trú ở chỗ này hay ở chỗ này’ không?”
“Thưa ngài, không.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi sự diễn tiến còn chưa bị cắt đứt thì không thể nào chỉ cho thấy các nghiệp ấy là: ‘Các nghiệp ấy trú ở chỗ này hay ở chỗ này.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, iminā nāmarūpena kammaṁ kataṁ kusalaṁ vā akusalaṁ vā, kuhiṁ tāni kammāni tiṭṭhantī”ti?
“Anubandheyyuṁ kho, mahārāja, tāni kammāni chāyāva anapāyinī”ti.
“Sakkā pana, bhante, tāni kammāni dassetuṁ ‘idha vā idha vā tāni kammāni tiṭṭhantī’”ti?
“Na sakkā, mahārāja, tāni kammāni dassetuṁ ‘idha vā idha vā tāni kammāni tiṭṭhantī’”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, yānimāni rukkhāni anibbattaphalāni, sakkā tesaṁ phalāni dassetuṁ ‘idha vā idha vā tāni phalāni tiṭṭhantī’”ti.
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, abbocchinnāya santatiyā na sakkā tāni kammāni dassetuṁ ‘idha vā idha vā tāni kammāni tiṭṭhantī’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Kammaphalaatthibhāvapañho aṭṭhamo.