Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘luân hồi,’ luân hồi ấy là gì?”
“Tâu đại vương, người sanh ra ở nơi đây, chết ngay tại nơi đây; chết tại nơi đây, sanh lên ở nơi khác; sanh ra ở nơi kia, chết ngay tại nơi kia; chết tại nơi kia, sanh lên ở nơi khác. Tâu đại vương, luân hồi là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó sau khi ăn trái xoài chín rồi ươm trồng cái hột, từ đó cây xoài nảy mầm, lớn lên, rồi cho các trái. Rồi người ấy sau khi ăn trái xoài chín cũng từ đó rồi ươm trồng cái hột, cũng từ đó cây xoài nảy mầm, lớn lên, rồi cho các trái. Như vậy, điểm tận cùng của các cây này không được biết đến. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người sanh ra ở nơi đây, chết ngay tại nơi đây; chết tại nơi đây, sanh lên ở nơi khác; sanh ra ở nơi kia, chết ngay tại nơi kia; chết tại nơi kia, sanh lên ở nơi khác. Tâu đại vương, luân hồi là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yaṁ panetaṁ brūsi ‘saṁsāro’ti, katamo so saṁsāro”ti?
“Idha, mahārāja, jāto idheva marati, idha mato aññatra uppajjati, tahiṁ jāto tahiṁyeva marati, tahiṁ mato aññatra uppajjati, evaṁ kho, mahārāja, saṁsāro hotī”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, kocideva puriso pakkaṁ ambaṁ khāditvā aṭṭhiṁ ropeyya, tato mahanto ambarukkho nibbattitvā phalāni dadeyya, atha so puriso tatopi pakkaṁ ambaṁ khāditvā aṭṭhiṁ ropeyya, tatopi mahanto ambarukkho nibbattitvā phalāni dadeyya, evametesaṁ rukkhānaṁ koṭi na paññāyati;
evameva kho, mahārāja, idha jāto idheva marati, idha mato aññatra uppajjati, tahiṁ jāto tahiṁyeva marati, tahiṁ mato aññatra uppajjati, evaṁ kho, mahārāja, saṁsāro hotī”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Saṁsārapañho navamo.
PTS cs 9 The king said: ‘When you speak of transmigration, Nāgasena, what does that mean?’
‘A being born here, O king, dies here. Having died here, it springs up elsewhere. Having been born there, there it dies. Having died there, it springs up elsewhere. That is what is meant by transmigration.’
‘Give me an illustration.’
‘It is like the case of a man who, after eating a mango, should set the seed in the ground. From that a great tree would be produced and give fruit. And there would be no end to the succession, in that way, of mango trees.’
‘Very good, Nāgasena!’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘luân hồi,’ luân hồi ấy là gì?”
“Tâu đại vương, người sanh ra ở nơi đây, chết ngay tại nơi đây; chết tại nơi đây, sanh lên ở nơi khác; sanh ra ở nơi kia, chết ngay tại nơi kia; chết tại nơi kia, sanh lên ở nơi khác. Tâu đại vương, luân hồi là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như người nào đó sau khi ăn trái xoài chín rồi ươm trồng cái hột, từ đó cây xoài nảy mầm, lớn lên, rồi cho các trái. Rồi người ấy sau khi ăn trái xoài chín cũng từ đó rồi ươm trồng cái hột, cũng từ đó cây xoài nảy mầm, lớn lên, rồi cho các trái. Như vậy, điểm tận cùng của các cây này không được biết đến. Tâu đại vương, tương tợ y như thế người sanh ra ở nơi đây, chết ngay tại nơi đây; chết tại nơi đây, sanh lên ở nơi khác; sanh ra ở nơi kia, chết ngay tại nơi kia; chết tại nơi kia, sanh lên ở nơi khác. Tâu đại vương, luân hồi là như vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, yaṁ panetaṁ brūsi ‘saṁsāro’ti, katamo so saṁsāro”ti?
“Idha, mahārāja, jāto idheva marati, idha mato aññatra uppajjati, tahiṁ jāto tahiṁyeva marati, tahiṁ mato aññatra uppajjati, evaṁ kho, mahārāja, saṁsāro hotī”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, kocideva puriso pakkaṁ ambaṁ khāditvā aṭṭhiṁ ropeyya, tato mahanto ambarukkho nibbattitvā phalāni dadeyya, atha so puriso tatopi pakkaṁ ambaṁ khāditvā aṭṭhiṁ ropeyya, tatopi mahanto ambarukkho nibbattitvā phalāni dadeyya, evametesaṁ rukkhānaṁ koṭi na paññāyati;
evameva kho, mahārāja, idha jāto idheva marati, idha mato aññatra uppajjati, tahiṁ jāto tahiṁyeva marati, tahiṁ mato aññatra uppajjati, evaṁ kho, mahārāja, saṁsāro hotī”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Saṁsārapañho navamo.