BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là tối thượng ở đời này ngay trong thời hiện tại và thời vị lai.’ Và thêm nữa, ‘người cư sĩ tại gia là bậc Nhập Lưu, có các đọa xứ đã được đóng lại, đã đạt chánh kiến, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị tỳ khưu hoặc sa-di phàm nhân.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là tối thượng ở đời này ngay trong thời hiện tại và thời vị lai,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Người cư sĩ tại gia là bậc Nhập Lưu, có các đọa xứ đã được đóng lại, đã đạt chánh kiến, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị tỳ khưu hoặc sa-di phàm nhân’ là sai trái. Nếu người cư sĩ tại gia là bậc Nhập Lưu, có các đọa xứ đã được đóng lại, đã đạt chánh kiến, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị tỳ khưu hoặc sa-di phàm nhân, như thế thì lời nói rằng: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là tối thượng ở đời này ngay trong thời hiện tại và thời vị lai’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là tối thượng ở đời này ngay trong thời hiện tại và thời vị lai,’ và ‘người cư sĩ tại gia là bậc Nhập Lưu, có các đọa xứ đã được đóng lại, đã đạt chánh kiến, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị tỳ khưu hoặc sa-di phàm nhân.’ Hơn nữa, ở trường hợp này là có lý do. Lý do ấy là gì?
Tâu đại vương, đây là hai mươi pháp tạo thành Sa-môn và hai đặc điểm của vị Sa-môn, do những điều ấy vị Sa-môn là xứng đáng với sự đảnh lễ, đứng dậy, kính nể, cúng dường.
Hai mươi pháp tạo thành Sa-môn và hai đặc điểm của vị Sa-môn là những pháp nào? Sự đặt để ở địa vị tối thượng, sự kềm chế tột đỉnh, sự thực hành, sự an trú (tứ vô lượng tâm), sự thu thúc (giác quan), sự phòng hộ (trong giới bổn), sự kham nhẫn, hiền hòa, thực hành sự đơn độc, thích thú sự đơn độc, ẩn cư thiền tịnh, tàm quý, tinh tấn, không xao lãng, thọ trì việc học tập, việc đọc tụng (Chánh Tạng), học hỏi (Chú Giải), thỏa thích Giới-Định-Tuệ, không mong cầu, có sự tròn đủ các điều học, việc mặc y ca-sa, và hình thức cạo tóc. Tâu đại vương, đây là hai mươi pháp tạo thành Sa-môn và hai đặc điểm của vị Sa-môn.
Vị tỳ khưu thọ trì và hành theo các đức tính này. Do tính chất không thiếu sót, do tính chất đã được tròn đủ, do trạng thái đã đạt đến đầy đủ, vị ấy tiến vào địa vị của bậc Vô Học, địa vị của bậc A-la-hán, tiến vào vị thế tối thượng khác nữa. (Nghĩ rằng): ‘Là vị đã đi đến gần phẩm vị A-la-hán,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy chính là bậc có lậu hoặc đã được cạn kiệt, đã tiến đến bản thể Sa-môn, cơ hội ấy chưa có đối với ta,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy đã tiến đến hội chúng tối cao, ta chưa tiến đến vị thế ấy,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy đạt được tư cách để nghe đọc tụng giới bổn Pātimokkha, ta chưa đạt được tư cách để nghe điều ấy,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy cho những người khác xuất gia, cho tu lên bậc trên, làm tăng trưởng Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, ta chưa đạt được tư cách để làm việc này,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Là vị có sự thực hành đầy đủ về các điều học nhiều vô số, ta không thực hành về các điều ấy,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy đã tiến đến biểu tượng của Sa-môn, đã tồn tại trong sự mong muốn của đức Phật, ta bị tách rời ra xa đối với biểu tượng ấy,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy có lông nách mọc dài, không thoa son, không trang sức, được bôi xức bằng hương thơm của giới, còn ta thì thích thú việc trang sức, tô điểm,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
Tâu đại vương, và thêm nữa (nghĩ rằng): ‘Hai mươi pháp tạo thành Sa-môn và hai đặc điểm ấy, tất cả các pháp này được hiện hữu ở vị tỳ khưu, chính vị ấy duy trì các pháp ấy, thậm chí còn cho những người khác học tập về việc ấy, sự truyền thừa ấy và việc huấn luyện (người khác) là không có đối với ta,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
BJT 3Tâu đại vương, giống như vị hoàng tử thu thập kiến thức và học tập lề lối của dòng dõi Sát-đế-lỵ nơi vị quân sư. Vị ấy, về sau này, đã được đăng quang, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị thầy (nghĩ rằng): ‘Người này là vị tạo điều kiện cho ta việc học tập.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế (nghĩ rằng): ‘Vị tỳ khưu là vị tạo điều kiện cho việc học tập, người duy trì truyền thống,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân. Tâu đại vương, hơn nữa theo cách thức này, đại vương hãy nhận biết trạng thái vĩ đại và bao la không sánh bằng này của địa vị tỳ khưu. Tâu đại vương, nếu người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu chứng ngộ phẩm vị A-la-hán, đối với người ấy chỉ có hai lối đi, không có lối khác: Hoặc là vô dư Niết Bàn nội trong ngày hôm ấy, hoặc là tiến đến trạng thái tỳ khưu. Tâu đại vương, bởi vì sự xuất gia ấy là không bị dao động, vĩ đại, vươn lên cao tột đỉnh, tức là địa vị tỳ khưu.”
“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi liên quan đến trí tuệ đã khéo được tháo gỡ bởi ngài là người có năng lực và vô cùng sáng suốt. Không có người nào khác có khả năng để tháo gỡ câu hỏi này như vậy, ngoại trừ bậc có sự giác ngộ như là ngài.”
Câu hỏi về Giáo Pháp tối thượng là thứ nhất.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāye cā’ti.
Puna ca ‘upāsako gihī sotāpanno pihitāpāyo diṭṭhippatto viññātasāsano bhikkhuṁ vā sāmaṇeraṁ vā puthujjanaṁ abhivādeti paccuṭṭhetī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāye cā’ti, tena hi ‘upāsako gihī sotāpanno pihitāpāyo diṭṭhippatto viññātasāsano bhikkhuṁ vā sāmaṇeraṁ vā puthujjanaṁ abhivādeti paccuṭṭhetī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi ‘upāsako gihī sotāpanno pihitāpāyo diṭṭhippatto viññātasāsano bhikkhuṁ vā sāmaṇeraṁ vā puthujjanaṁ abhivādeti paccuṭṭheti’, tena hi ‘dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāye cā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā ‘dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāye cā’ti, ‘upāsako ca gihī sotāpanno pihitāpāyo diṭṭhippatto viññātasāsano bhikkhuṁ vā sāmaṇeraṁ vā puthujjanaṁ abhivādeti paccuṭṭheti’.
Tattha pana kāraṇaṁ atthi.
Katamaṁ taṁ kāraṇaṁ?
Vīsati kho panime, mahārāja, samaṇassa samaṇakaraṇā dhammā dve ca liṅgāni, yehi samaṇo abhivādanapaccuṭṭhānasammānanapūjanāraho hoti.
Katame vīsati samaṇassa samaṇakaraṇā dhammā dve ca liṅgāni?
Seṭṭho dhammārāmo, aggo niyamo, cāro vihāro saṁyamo saṁvaro khanti soraccaṁ ekattacariyā ekattābhirati paṭisallānaṁ hiriottappaṁ vīriyaṁ appamādo sikkhāsamādānaṁ uddeso paripucchā sīlādiabhirati nirālayatā sikkhāpadapāripūritā, kāsāvadhāraṇaṁ, bhaṇḍubhāvo.
Ime kho, mahārāja, vīsati samaṇassa samaṇakaraṇā dhammā dve ca liṅgāni.
Ete guṇe bhikkhu samādāya vattati, so tesaṁ dhammānaṁ anūnattā paripuṇṇattā sampannattā samannāgatattā asekkhabhūmiṁ arahantabhūmiṁ okkamati, seṭṭhaṁ bhūmantaraṁ okkamati, arahattāsannagatoti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
‘Khīṇāsavehi so sāmaññaṁ upagato, natthi me so samayo’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
‘Aggaparisaṁ so upagato, nāhaṁ taṁ ṭhānaṁ upagato’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
‘Labhati so pātimokkhuddesaṁ sotuṁ, nāhaṁ taṁ labhāmi sotun’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
‘So aññe pabbājeti upasampādeti jinasāsanaṁ vaḍḍheti, ahametaṁ na labhāmi kātun’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
‘Appamāṇesu so sikkhāpadesu samattakārī, nāhaṁ tesu vattāmī’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
‘Upagato so samaṇaliṅgaṁ, buddhādhippāye ṭhito, tenāhaṁ liṅgena dūramapagato’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
‘Parūḷhakacchalomo so anañjitaamaṇḍito anulittasīlagandho, ahaṁ pana maṇḍanavibhūsanābhirato’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
Api ca, mahārāja, ‘ye te vīsati samaṇakaraṇā dhammā dve ca liṅgāni, sabbepete dhammā bhikkhussa saṁvijjanti, soyeva te dhamme dhāreti, aññepi tattha sikkhāpeti, so me āgamo sikkhāpanañca natthī’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
Yathā, mahārāja, rājakumāro purohitassa santike vijjaṁ adhīyati, khattiyadhammaṁ sikkhati, so aparena samayena abhisitto ācariyaṁ abhivādeti paccuṭṭheti ‘sikkhāpako me ayan’ti;
evameva kho, mahārāja, ‘bhikkhu sikkhāpako vaṁsadharo’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
Api ca, mahārāja, imināpetaṁ pariyāyena jānāhi bhikkhubhūmiyā mahantataṁ asamavipulabhāvaṁ.
Yadi, mahārāja, upāsako sotāpanno arahattaṁ sacchikaroti, dveva tassa gatiyo bhavanti anaññā tasmiṁyeva divase parinibbāyeyya vā, bhikkhubhāvaṁ vā upagaccheyya.
Acalā hi sā, mahārāja, pabbajjā, mahatī accuggatā, yadidaṁ bhikkhubhūmī”ti.
“Ñāṇagato, bhante nāgasena, pañho sunibbeṭhito balavatā atibuddhinā tayā, na yimaṁ pañhaṁ samattho añño evaṁ viniveṭhetuṁ aññatra tavādisena buddhimatā”ti.
Seṭṭhadhammapañho paṭhamo.
PTS vp En 229 PTS cs 1 ‘Venerable Nāgasena, it was said by the Blessed One: “For it is the Dhamma, O Vāsettha, which is ‘the best in the world,’ as regards both what we now see, and what is yet to come.” But again (according to your people) the devout layman who has entered the Excellent Way, for whom the possibility of rebirth in any place of woe has passed away, who has attained to insight, and to whom the doctrine is known, even such a one ought to salute and to rise from his seat in token of respect for, and to revere, any member of the Order, though a novice, and though he be unconverted. Now if the Dhamma be the best that rule of conduct is wrong, but if that be right then the first statement must be wrong. PTS vp En 230 This too is a double-pointed problem. It is now put to you, and you have to solve it.’ PTS vp Pali 162
PTS cs 2 ‘The Blessed One said what you have quoted, and you have rightly described the rule of conduct. But there is a reason for that rule, and that is this. There are these twenty personal qualities, making up the Samanaship of a Samana, and these two outward signs, by reason of which the Samana is worthy of salutation, and of respect, and of reverence. And what are they? the best form of self-restraint, the highest kind of self-control, right conduct, calm manners, mastery over (his deeds and words), subjugation (of his senses), long-suffering, sympathy, PTS vp En 231 The practice of solitude, love of solitude, meditation, modesty and fear of doing wrong, zeal, earnestness, the taking upon himself of the precepts, recitation (of the Scriptures), asking questions (of those wise in the Dhamma and Vinaya), rejoicing in the Sīlas and other (rules of morality), freedom from attachment (to the things of the world), fulfilment of the precepts—and the wearing of the yellow robe, and the being shaven. PTS vp Pali 163 In the practice of all these things does the member of the Order live. By being deficient in none of them, by being perfect in all, accomplished in all, endowed with all of them does he reach forward to the condition of Arahatship, to the condition of those who have nothing left to learn; he is marching towards the highest of all lands. Thus it is because he sees him to be in the company of the Worthy Ones (the Arahats) that the layman who has already entered on the Excellent Way thinks it worthy in him to PTS vp En 232 reverence and to show respect to the Bhikkhu, though he may be, as yet, unconverted. It is because he sees him to be in the company of those in whom all evil has been destroyed, because he feels that he is not in such society, that the converted layman thinks it worthy of him to do reverence and to show respect to the unconverted Bhikkhu. It is because he knows that he has joined the noblest brotherhood, and that he himself has reached no such state, that the converted layman holds it right to do reverence and to show respect to the unconverted Bhikkhu—because he knows that he listens to the recitation of the Pātimokkha, while he himself can not—because he knows that he receives men into the Order, and thus extends the teaching of the Conqueror, which he himself is incapable of doing—because he knows that he carries out innumerable precepts, which he himself cannot observe—because he knows that he wears the outward signs of Samaṇaship, and carries out the intention of the Buddha, while he himself is gone away far from that—because he knows that he, though he has given up his hair and beard, and is unanointed and wears no ornaments, yet is anointed with the perfume of righteousness, while he is himself addicted to jewelry and fine apparel—that the converted layman thinks it right to do reverence, and to show respect to the unconverted Bhikkhu.’
PTS cs 3 ‘And moreover, O king, it is because he knows that not only are all these twenty personal qualities which go to make a Samaṇa, and the two outward signs, found in the Bhikkhu, but that he carries them PTS vp En 233 on, and trains others in them, that the converted layman, realising that he has no part in that tradition, in that maintenance of the faith, thinks it right to reverence and to show respect to the converted Bhikkhu. PTS vp Pali 164 Just, O king, as a royal prince who learns his knowledge, and is taught the duties of a Khattiya, at the feet of the Brahman who acts as family chaplain, when after a time he is anointed king, pays, reverence and respect to his master in the thought of his being the teacher, and the carrier on of the traditions of the family, so is it right for the converted Bhikkhu to do reverence and to pay respect to the unconverted Bhikkhu.’
PTS cs 4 ‘And moreover, O king, you may know by this fact the greatness and the peerless glory of the condition of the Bhikkhus—that if a layman, a disciple of the faith, who has entered upon the Excellent Way, should attain to the realisation of Arahatship, one of two results must happen to him, and there is no other—he must either die away on that very day, or take upon himself the condition of a Bhikkhu. For immovable, O king, is that state of renunciation, glorious, and most exalted—I mean the condition of being a member of the Order!’
‘Venerable Nāgasena, this subtle problem has been thoroughly unravelled by your powerful and great wisdom. No one else could solve it so unless he were wise as you.’
Here ends the problem as to the precedence of the Dharma
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là tối thượng ở đời này ngay trong thời hiện tại và thời vị lai.’ Và thêm nữa, ‘người cư sĩ tại gia là bậc Nhập Lưu, có các đọa xứ đã được đóng lại, đã đạt chánh kiến, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị tỳ khưu hoặc sa-di phàm nhân.’ Thưa ngài Nāgasena, nếu điều đã được nói bởi đức Như Lai là: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là tối thượng ở đời này ngay trong thời hiện tại và thời vị lai,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Người cư sĩ tại gia là bậc Nhập Lưu, có các đọa xứ đã được đóng lại, đã đạt chánh kiến, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị tỳ khưu hoặc sa-di phàm nhân’ là sai trái. Nếu người cư sĩ tại gia là bậc Nhập Lưu, có các đọa xứ đã được đóng lại, đã đạt chánh kiến, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị tỳ khưu hoặc sa-di phàm nhân, như thế thì lời nói rằng: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là tối thượng ở đời này ngay trong thời hiện tại và thời vị lai’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này Vāseṭṭha, chính Giáo Pháp là tối thượng ở đời này ngay trong thời hiện tại và thời vị lai,’ và ‘người cư sĩ tại gia là bậc Nhập Lưu, có các đọa xứ đã được đóng lại, đã đạt chánh kiến, đã hiểu Giáo Pháp, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị tỳ khưu hoặc sa-di phàm nhân.’ Hơn nữa, ở trường hợp này là có lý do. Lý do ấy là gì?
Tâu đại vương, đây là hai mươi pháp tạo thành Sa-môn và hai đặc điểm của vị Sa-môn, do những điều ấy vị Sa-môn là xứng đáng với sự đảnh lễ, đứng dậy, kính nể, cúng dường.
Hai mươi pháp tạo thành Sa-môn và hai đặc điểm của vị Sa-môn là những pháp nào? Sự đặt để ở địa vị tối thượng, sự kềm chế tột đỉnh, sự thực hành, sự an trú (tứ vô lượng tâm), sự thu thúc (giác quan), sự phòng hộ (trong giới bổn), sự kham nhẫn, hiền hòa, thực hành sự đơn độc, thích thú sự đơn độc, ẩn cư thiền tịnh, tàm quý, tinh tấn, không xao lãng, thọ trì việc học tập, việc đọc tụng (Chánh Tạng), học hỏi (Chú Giải), thỏa thích Giới-Định-Tuệ, không mong cầu, có sự tròn đủ các điều học, việc mặc y ca-sa, và hình thức cạo tóc. Tâu đại vương, đây là hai mươi pháp tạo thành Sa-môn và hai đặc điểm của vị Sa-môn.
Vị tỳ khưu thọ trì và hành theo các đức tính này. Do tính chất không thiếu sót, do tính chất đã được tròn đủ, do trạng thái đã đạt đến đầy đủ, vị ấy tiến vào địa vị của bậc Vô Học, địa vị của bậc A-la-hán, tiến vào vị thế tối thượng khác nữa. (Nghĩ rằng): ‘Là vị đã đi đến gần phẩm vị A-la-hán,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy chính là bậc có lậu hoặc đã được cạn kiệt, đã tiến đến bản thể Sa-môn, cơ hội ấy chưa có đối với ta,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy đã tiến đến hội chúng tối cao, ta chưa tiến đến vị thế ấy,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy đạt được tư cách để nghe đọc tụng giới bổn Pātimokkha, ta chưa đạt được tư cách để nghe điều ấy,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy cho những người khác xuất gia, cho tu lên bậc trên, làm tăng trưởng Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng, ta chưa đạt được tư cách để làm việc này,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Là vị có sự thực hành đầy đủ về các điều học nhiều vô số, ta không thực hành về các điều ấy,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy đã tiến đến biểu tượng của Sa-môn, đã tồn tại trong sự mong muốn của đức Phật, ta bị tách rời ra xa đối với biểu tượng ấy,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
(Nghĩ rằng): ‘Vị ấy có lông nách mọc dài, không thoa son, không trang sức, được bôi xức bằng hương thơm của giới, còn ta thì thích thú việc trang sức, tô điểm,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
Tâu đại vương, và thêm nữa (nghĩ rằng): ‘Hai mươi pháp tạo thành Sa-môn và hai đặc điểm ấy, tất cả các pháp này được hiện hữu ở vị tỳ khưu, chính vị ấy duy trì các pháp ấy, thậm chí còn cho những người khác học tập về việc ấy, sự truyền thừa ấy và việc huấn luyện (người khác) là không có đối với ta,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân.
BJT 3Tâu đại vương, giống như vị hoàng tử thu thập kiến thức và học tập lề lối của dòng dõi Sát-đế-lỵ nơi vị quân sư. Vị ấy, về sau này, đã được đăng quang, vẫn đảnh lễ, vẫn đứng dậy đối với vị thầy (nghĩ rằng): ‘Người này là vị tạo điều kiện cho ta việc học tập.’ Tâu đại vương, tương tợ y như thế (nghĩ rằng): ‘Vị tỳ khưu là vị tạo điều kiện cho việc học tập, người duy trì truyền thống,’ người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu cần phải đảnh lễ, đứng dậy đối với vị tỳ khưu phàm nhân. Tâu đại vương, hơn nữa theo cách thức này, đại vương hãy nhận biết trạng thái vĩ đại và bao la không sánh bằng này của địa vị tỳ khưu. Tâu đại vương, nếu người nam cư sĩ là bậc Nhập Lưu chứng ngộ phẩm vị A-la-hán, đối với người ấy chỉ có hai lối đi, không có lối khác: Hoặc là vô dư Niết Bàn nội trong ngày hôm ấy, hoặc là tiến đến trạng thái tỳ khưu. Tâu đại vương, bởi vì sự xuất gia ấy là không bị dao động, vĩ đại, vươn lên cao tột đỉnh, tức là địa vị tỳ khưu.”
“Thưa ngài Nāgasena, câu hỏi liên quan đến trí tuệ đã khéo được tháo gỡ bởi ngài là người có năng lực và vô cùng sáng suốt. Không có người nào khác có khả năng để tháo gỡ câu hỏi này như vậy, ngoại trừ bậc có sự giác ngộ như là ngài.”
Câu hỏi về Giáo Pháp tối thượng là thứ nhất.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāye cā’ti.
Puna ca ‘upāsako gihī sotāpanno pihitāpāyo diṭṭhippatto viññātasāsano bhikkhuṁ vā sāmaṇeraṁ vā puthujjanaṁ abhivādeti paccuṭṭhetī’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāye cā’ti, tena hi ‘upāsako gihī sotāpanno pihitāpāyo diṭṭhippatto viññātasāsano bhikkhuṁ vā sāmaṇeraṁ vā puthujjanaṁ abhivādeti paccuṭṭhetī’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi ‘upāsako gihī sotāpanno pihitāpāyo diṭṭhippatto viññātasāsano bhikkhuṁ vā sāmaṇeraṁ vā puthujjanaṁ abhivādeti paccuṭṭheti’, tena hi ‘dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāye cā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā ‘dhammo hi, vāseṭṭha, seṭṭho janetasmiṁ diṭṭhe ceva dhamme abhisamparāye cā’ti, ‘upāsako ca gihī sotāpanno pihitāpāyo diṭṭhippatto viññātasāsano bhikkhuṁ vā sāmaṇeraṁ vā puthujjanaṁ abhivādeti paccuṭṭheti’.
Tattha pana kāraṇaṁ atthi.
Katamaṁ taṁ kāraṇaṁ?
Vīsati kho panime, mahārāja, samaṇassa samaṇakaraṇā dhammā dve ca liṅgāni, yehi samaṇo abhivādanapaccuṭṭhānasammānanapūjanāraho hoti.
Katame vīsati samaṇassa samaṇakaraṇā dhammā dve ca liṅgāni?
Seṭṭho dhammārāmo, aggo niyamo, cāro vihāro saṁyamo saṁvaro khanti soraccaṁ ekattacariyā ekattābhirati paṭisallānaṁ hiriottappaṁ vīriyaṁ appamādo sikkhāsamādānaṁ uddeso paripucchā sīlādiabhirati nirālayatā sikkhāpadapāripūritā, kāsāvadhāraṇaṁ, bhaṇḍubhāvo.
Ime kho, mahārāja, vīsati samaṇassa samaṇakaraṇā dhammā dve ca liṅgāni.
Ete guṇe bhikkhu samādāya vattati, so tesaṁ dhammānaṁ anūnattā paripuṇṇattā sampannattā samannāgatattā asekkhabhūmiṁ arahantabhūmiṁ okkamati, seṭṭhaṁ bhūmantaraṁ okkamati, arahattāsannagatoti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
‘Khīṇāsavehi so sāmaññaṁ upagato, natthi me so samayo’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
‘Aggaparisaṁ so upagato, nāhaṁ taṁ ṭhānaṁ upagato’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
‘Labhati so pātimokkhuddesaṁ sotuṁ, nāhaṁ taṁ labhāmi sotun’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
‘So aññe pabbājeti upasampādeti jinasāsanaṁ vaḍḍheti, ahametaṁ na labhāmi kātun’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
‘Appamāṇesu so sikkhāpadesu samattakārī, nāhaṁ tesu vattāmī’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
‘Upagato so samaṇaliṅgaṁ, buddhādhippāye ṭhito, tenāhaṁ liṅgena dūramapagato’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
‘Parūḷhakacchalomo so anañjitaamaṇḍito anulittasīlagandho, ahaṁ pana maṇḍanavibhūsanābhirato’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
Api ca, mahārāja, ‘ye te vīsati samaṇakaraṇā dhammā dve ca liṅgāni, sabbepete dhammā bhikkhussa saṁvijjanti, soyeva te dhamme dhāreti, aññepi tattha sikkhāpeti, so me āgamo sikkhāpanañca natthī’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
Yathā, mahārāja, rājakumāro purohitassa santike vijjaṁ adhīyati, khattiyadhammaṁ sikkhati, so aparena samayena abhisitto ācariyaṁ abhivādeti paccuṭṭheti ‘sikkhāpako me ayan’ti;
evameva kho, mahārāja, ‘bhikkhu sikkhāpako vaṁsadharo’ti arahati upāsako sotāpanno bhikkhuṁ puthujjanaṁ abhivādetuṁ paccuṭṭhātuṁ.
Api ca, mahārāja, imināpetaṁ pariyāyena jānāhi bhikkhubhūmiyā mahantataṁ asamavipulabhāvaṁ.
Yadi, mahārāja, upāsako sotāpanno arahattaṁ sacchikaroti, dveva tassa gatiyo bhavanti anaññā tasmiṁyeva divase parinibbāyeyya vā, bhikkhubhāvaṁ vā upagaccheyya.
Acalā hi sā, mahārāja, pabbajjā, mahatī accuggatā, yadidaṁ bhikkhubhūmī”ti.
“Ñāṇagato, bhante nāgasena, pañho sunibbeṭhito balavatā atibuddhinā tayā, na yimaṁ pañhaṁ samattho añño evaṁ viniveṭhetuṁ aññatra tavādisena buddhimatā”ti.
Seṭṭhadhammapañho paṭhamo.