BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm.’
Và thêm nữa, trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, đức Như Lai đã vui mừng, hoan hỷ, phấn khởi tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân rằng:
‘Này Sela, Ta là đức vua, đấng Pháp vương vô thượng. Ta chuyển vận bánh xe theo Giáo Pháp, là bánh xe không thể bị chuyển vận nghịch lại.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, đức Như Lai đã vui mừng, hoan hỷ, phấn khởi tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân’ là sai trái.
Nếu trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, đức Như Lai đã vui mừng, hoan hỷ, phấn khởi tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân, như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm.’ Và trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, Ngài đã tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân rằng:
‘Này Sela, Ta là đức vua, đấng Pháp vương vô thượng. Ta chuyển vận bánh xe theo Giáo Pháp, là bánh xe không thể bị chuyển vận nghịch lại.’
Tâu đại vương, trong khi đang giải thích về hiện tướng của bản thể luôn cả cốt lõi, về bản thể, về sự hiển hiện, về sự hiện hữu, về thực thể, về trạng thái thật của Giáo Pháp, đức Thế Tôn đã nói lên câu thứ nhất rằng: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm.’
Trái lại, trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, đức Thế Tôn đã tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân rằng: ‘Này Sela, Ta là đức vua, đấng Pháp vương vô thượng,’ điều ấy không do nhân lợi lộc, không do nhân danh vọng, không do nhân phe nhóm, không vì lòng mong mỏi đệ tử. Khi ấy, vì lòng thương tưởng, vì lòng bi mẫn, vì ước muốn điều lợi ích (nghĩ rằng): ‘Như vầy sẽ có sự lãnh hội cho người này và ba trăm thanh niên Bà-la-môn,’ nên Ngài đã công bố nhiều hơn, vượt trội hơn về đức hạnh của bản thân rằng: ‘Này Sela, Ta là đức vua, đấng Pháp vương vô thượng.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc nói lời ca ngợi là thứ mười.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘mamaṁ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā, saṅghassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi na ānando, na somanassaṁ, na cetaso uppilāvitattaṁ karaṇīyan’ti puna ca tathāgato selassa brāhmaṇassa yathābhucce vaṇṇe bhaññamāne ānandito sumano uppilāvito bhiyyo uttariṁ sakaguṇaṁ pakittesi—
‘Rājāhamasmi selāti,
dhammarājā anuttaro;
Dhammena cakkaṁ vattemi,
cakkaṁ appaṭivattiyan’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘mamaṁ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā saṅghassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi na ānando, na somanassaṁ, na cetaso uppilāvitattaṁ karaṇīyan’ti, tena hi selassa brāhmaṇassa yathābhucce vaṇṇe bhaññamāne ānandito sumano uppilāvito bhiyyo uttariṁ sakaguṇaṁ pakittesīti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi selassa brāhmaṇassa yathābhucce vaṇṇe bhaññamāne ānandito sumano uppilāvito bhiyyo uttariṁ sakaguṇaṁ pakittesi, tena hi ‘mamaṁ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā saṅghassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi na ānando, na somanassaṁ, na cetaso uppilāvitattaṁ karaṇīyan’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘mamaṁ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā saṅghassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi na ānando, na somanassaṁ, na cetaso uppilāvitattaṁ karaṇīyan’ti.
Selassa ca brāhmaṇassa yathābhucce vaṇṇe bhaññamāne bhiyyo uttariṁ sakaguṇaṁ pakittitaṁ—
‘Rājāhamasmi selāti,
dhammarājā anuttaro;
Dhammena cakkaṁ vattemi,
cakkaṁ appaṭivattiyan’ti.
Paṭhamaṁ, mahārāja, bhagavatā dhammassa sabhāvasarasalakkhaṇaṁ sabhāvaṁ avitathaṁ bhūtaṁ tacchaṁ tathatthaṁ paridīpayamānena bhaṇitaṁ—
‘mamaṁ vā bhikkhave, pare vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā saṅghassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi na ānando, na somanassaṁ, na cetaso uppilāvitattaṁ karaṇīyan’ti.
Yaṁ pana bhagavatā selassa brāhmaṇassa yathābhucce vaṇṇe bhaññamāne bhiyyo uttariṁ sakaguṇaṁ pakittitaṁ—
‘rājāhamasmi selāti, dhammarājā anuttaro’ti taṁ na lābhahetu, na yasahetu, na attahetu, na pakkhahetu, na antevāsikamyatāya, atha kho anukampāya kāruññena hitavasena evaṁ imassa dhammābhisamayo bhavissati tiṇṇañca māṇavakasatānanti, evaṁ bhiyyo uttariṁ sakaguṇaṁ bhaṇitaṁ—
‘rājāhamasmi selāti, dhammarājā anuttaro’”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Vaṇṇabhaṇanapañho dasamo.
PTS vp En 253 PTS cs 33 ‘Venerable Nāgasena, the Blessed One said: “If, O Bhikkhus, any one should speak in praise of me, or of our religion (Dhamma), or of the Order, you should not thereupon indulge in joy, or delight, or exultation of mind “. And on the other hand the Tathāgata was so delighted, and pleased, and exultant at the deserved praise bestowed on him by Sela the Brahman, that he still further magnified his own goodness in that he said:
“A king am I, Sela, the king supreme
Of righteousness. The royal chariot wheel
In righteousness do I set rolling on—
That wheel that no one can turn back again!”
Now if the passage first quoted be right then must the second be wrong, but if that be right then must the first be wrong. This too is a double-edged problem now put to you, and you have to solve it.’
PTS cs 34 PTS vp Pali 184 ‘Both your quotations, O king, are correct. But the first passage was spoken by the Blessed One with the intention of setting forth truthfully, exactly, in accordance with reality, and fact, and PTS vp En 254 sense, the real nature, and essence, and characteristic marks of the Dhamma. And the second passage was not spoken for the sake of gain or fame, nor out of party spirit, nor in the lust of winning over men to become his followers. But it was in mercy and love, and with the welfare of others in view, conscious that thereby three hundred young Brahmans would attain to the knowledge of the truth, that he said: “A king am I, Sela, the king supreme of righteousness.”’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the problem as to exultation of mind.
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm.’
Và thêm nữa, trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, đức Như Lai đã vui mừng, hoan hỷ, phấn khởi tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân rằng:
‘Này Sela, Ta là đức vua, đấng Pháp vương vô thượng. Ta chuyển vận bánh xe theo Giáo Pháp, là bánh xe không thể bị chuyển vận nghịch lại.’
Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Thế Tôn đã nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm,’ như thế thì lời nói rằng: ‘Trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, đức Như Lai đã vui mừng, hoan hỷ, phấn khởi tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân’ là sai trái.
Nếu trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, đức Như Lai đã vui mừng, hoan hỷ, phấn khởi tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân, như thế thì lời nói rằng: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm.’ Và trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, Ngài đã tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân rằng:
‘Này Sela, Ta là đức vua, đấng Pháp vương vô thượng. Ta chuyển vận bánh xe theo Giáo Pháp, là bánh xe không thể bị chuyển vận nghịch lại.’
Tâu đại vương, trong khi đang giải thích về hiện tướng của bản thể luôn cả cốt lõi, về bản thể, về sự hiển hiện, về sự hiện hữu, về thực thể, về trạng thái thật của Giáo Pháp, đức Thế Tôn đã nói lên câu thứ nhất rằng: ‘Này các tỳ khưu, nếu những người khác nói lời ca ngợi về Ta, nói lời ca ngợi về Giáo Pháp hoặc về Hội Chúng, trong trường hợp ấy các ngươi không nên thể hiện nỗi vui mừng, niềm hoan hỷ, hay tâm trạng phấn khởi của tâm.’
Trái lại, trong khi lời ca ngợi đúng theo sự thật của Bà-la-môn Sela đang được nói lên, đức Thế Tôn đã tuyên dương nhiều hơn, trội hơn về đức hạnh của bản thân rằng: ‘Này Sela, Ta là đức vua, đấng Pháp vương vô thượng,’ điều ấy không do nhân lợi lộc, không do nhân danh vọng, không do nhân phe nhóm, không vì lòng mong mỏi đệ tử. Khi ấy, vì lòng thương tưởng, vì lòng bi mẫn, vì ước muốn điều lợi ích (nghĩ rằng): ‘Như vầy sẽ có sự lãnh hội cho người này và ba trăm thanh niên Bà-la-môn,’ nên Ngài đã công bố nhiều hơn, vượt trội hơn về đức hạnh của bản thân rằng: ‘Này Sela, Ta là đức vua, đấng Pháp vương vô thượng.’”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về việc nói lời ca ngợi là thứ mười.
“Bhante nāgasena, bhāsitampetaṁ bhagavatā—
‘mamaṁ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā, saṅghassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi na ānando, na somanassaṁ, na cetaso uppilāvitattaṁ karaṇīyan’ti puna ca tathāgato selassa brāhmaṇassa yathābhucce vaṇṇe bhaññamāne ānandito sumano uppilāvito bhiyyo uttariṁ sakaguṇaṁ pakittesi—
‘Rājāhamasmi selāti,
dhammarājā anuttaro;
Dhammena cakkaṁ vattemi,
cakkaṁ appaṭivattiyan’ti.
Yadi, bhante nāgasena, bhagavatā bhaṇitaṁ—
‘mamaṁ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā saṅghassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi na ānando, na somanassaṁ, na cetaso uppilāvitattaṁ karaṇīyan’ti, tena hi selassa brāhmaṇassa yathābhucce vaṇṇe bhaññamāne ānandito sumano uppilāvito bhiyyo uttariṁ sakaguṇaṁ pakittesīti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi selassa brāhmaṇassa yathābhucce vaṇṇe bhaññamāne ānandito sumano uppilāvito bhiyyo uttariṁ sakaguṇaṁ pakittesi, tena hi ‘mamaṁ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā saṅghassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi na ānando, na somanassaṁ, na cetaso uppilāvitattaṁ karaṇīyan’ti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘mamaṁ vā, bhikkhave, pare vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā saṅghassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi na ānando, na somanassaṁ, na cetaso uppilāvitattaṁ karaṇīyan’ti.
Selassa ca brāhmaṇassa yathābhucce vaṇṇe bhaññamāne bhiyyo uttariṁ sakaguṇaṁ pakittitaṁ—
‘Rājāhamasmi selāti,
dhammarājā anuttaro;
Dhammena cakkaṁ vattemi,
cakkaṁ appaṭivattiyan’ti.
Paṭhamaṁ, mahārāja, bhagavatā dhammassa sabhāvasarasalakkhaṇaṁ sabhāvaṁ avitathaṁ bhūtaṁ tacchaṁ tathatthaṁ paridīpayamānena bhaṇitaṁ—
‘mamaṁ vā bhikkhave, pare vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā saṅghassa vā vaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi na ānando, na somanassaṁ, na cetaso uppilāvitattaṁ karaṇīyan’ti.
Yaṁ pana bhagavatā selassa brāhmaṇassa yathābhucce vaṇṇe bhaññamāne bhiyyo uttariṁ sakaguṇaṁ pakittitaṁ—
‘rājāhamasmi selāti, dhammarājā anuttaro’ti taṁ na lābhahetu, na yasahetu, na attahetu, na pakkhahetu, na antevāsikamyatāya, atha kho anukampāya kāruññena hitavasena evaṁ imassa dhammābhisamayo bhavissati tiṇṇañca māṇavakasatānanti, evaṁ bhiyyo uttariṁ sakaguṇaṁ bhaṇitaṁ—
‘rājāhamasmi selāti, dhammarājā anuttaro’”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Vaṇṇabhaṇanapañho dasamo.