ĐẾN TẤT CẢ CHÚNG SANH
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Đức Như Lai xua đi điều bất lợi và đem lại điều lợi ích cho tất cả chúng sanh.’ Và thêm nữa, ngài còn nói rằng: ‘Trong khi bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửađang được thuyết giảng, máu nóng đã trào ra từ miệng của các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị.’ Thưa ngài, trong khi đức Như Lai đang thuyết giảng bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa, Ngài đã xua đi điều lợi ích và đem lại điều bất lợi cho các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị. Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai xua đi điều bất lợi và đem lại điều lợi ích cho tất cả chúng sanh, như thế thì lời nói rằng: ‘Trong khi bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa đang được thuyết giảng, máu nóng đã trào ra từ miệng của các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị’ là sai trái. Nếu trong khi bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa đang được thuyết giảng, máu nóng đã trào ra từ miệng của các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Như Lai xua đi điều bất lợi và đem lại điều lợi ích cho tất cả chúng sanh’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, đức Như Lai xua đi điều bất lợi và đem lại điều lợi ích cho tất cả chúng sanh. Trong khi bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa đang được thuyết giảng, máu nóng đã trào ra từ miệng của các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị. Tuy nhiên, điều ấy không phải do việc đã làm của đức Như Lai, mà do việc đã làm của bản thân chính các vị ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai không thuyết giảng bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa, phải chăng máu nóng có thể trào ra từ miệng của các vị ấy?”
“Tâu đại vương, không thể. Tâu đại vương, đối với các vị đã thực hành sai trái ấy thì sau khi lắng nghe bài Pháp của đức Thế Tôn có sự nóng nảy đã sanh khởi. Do sự nóng nảy ấy của các vị ấy mà máu nóng đã trào ra từ miệng.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì do việc đã làm của chính đức Như Lai mà máu nóng đã trào ra từ miệng của các vị ấy. Trong trường hợp ấy chính đức Như Lai là tác nhân đưa đến sự tổn hại cho những vị ấy. Thưa ngài Nāgasena, giống như câu chuyện con rắn đi vào hang mối, rồi có người đàn ông nọ cần dùng đất nên phá vỡ gò mối rồi đem đất đi. Do việc đem đất đi của người ấy làm lấp lại các lỗ hổng của gò mối. Và con rắn, ở ngay tại chỗ ấy, trong khi không đạt được hơi thở vào nên bị chết. Thưa ngài, không lẽ con rắn đi đến sự chết vì việc đã làm của người ấy?”
“Tâu đại vương, đúng vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế trong trường hợp ấy chính đức Như Lai là tác nhân đưa đến sự tổn hại cho những vị ấy.”
BJT 3“Tâu đại vương, đức Như Lai trong khi thuyết giảng Giáo Pháp không thể hiện sự ưa thích hay ghét bỏ. Được thoát khỏi hẳn sự ưa thích hay ghét bỏ, Ngài thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng như vậy, tại nơi ấy những người nào thực hành đúng đắn thì được giác ngộ, trái lại những người nào thực hành sai trái thì rơi xuống. Tâu đại vương, giống như người đàn ông trong lúc làm lay động cây xoài, cây mận, hoặc cây cam thảo, thì ở nơi ấy những trái nào có phẩm chất, có sự gắn bó chắc chắn, thì còn tồn tại ở chính nơi ấy không bị tổn hại; trái lại, ở nơi ấy những trái nào có cuống hay cọng bị thối rữa thì rơi xuống. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai trong khi thuyết giảng Giáo Pháp không thể hiện sự ưa thích hay ghét bỏ. Được thoát khỏi hẳn sự ưa thích hay ghét bỏ, Ngài thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng như vậy, tại nơi ấy những người nào thực hành đúng đắn thì được giác ngộ, trái lại những người nào thực hành sai trái thì rơi xuống. Tâu đại vương, hoặc là giống như người nông dân có ý định gieo hạt bắp nên cày thửa ruộng. Khi người ấy đang cày thì hàng trăm ngàn cỏ dại bị chết. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai đã được thoát khỏi hẳn sự ưa thích hay ghét bỏ, Ngài thuyết giảng Giáo Pháp để giác ngộ các chúng sanh có tâm ý đã được chín muồi. Trong khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng như vậy, tại nơi ấy những người nào thực hành đúng đắn thì được giác ngộ; trái lại những người nào thực hành sai trái thì rơi xuống, ví như các cỏ dại ấy bị chết. Tâu đại vương, hoặc là giống như những người ép cây mía bằng máy ép vì nguyên nhân nước cốt. Khi những người ấy đang ép cây mía, những con sâu bọ nào đi vào miệng máy ép thì bị ép nát. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai ép máy ép Giáo Pháp để giác ngộ các chúng sanh có tâm ý đã được chín muồi. Tại nơi ấy những người nào thực hành sai trái thì bị chết giống như các con sâu bọ.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, không lẽ các tỳ khưu ấy bị rơi xuống vì sự thuyết giảng Giáo Pháp ấy?”
“Tâu đại vương, phải chăng người thợ đẽo gỗ trong khi bảo vệ khúc cây thì làm cho ngay thẳng và hoàn toàn trơn tru?”
“Thưa ngài, không đúng. Người thợ đẽo gỗ sau khi bỏ đi chỗ hư hỏng rồi mới làm cho khúc cây ngay thẳng và hoàn toàn trơn tru.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai trong khi (chỉ lo) bảo vệ hội chúng thì không thể giác ngộ các chúng sanh có khả năng giác ngộ; sau khi loại ra các chúng sanh thực hành sai trái như vậy rồi mới giác ngộ các chúng sanh có khả năng giác ngộ này. Tâu đại vương, hơn nữa những người thực hành sai trái ấy rơi xuống do việc đã làm của bản thân. Tâu đại vương, giống như cây chuối, cây tre, con la khi thành quả được tạo ra bởi bản thân thì bị chết, tâu đại vương, tương tợ y như thế những người thực hành sai trái ấy bị chết, và rơi xuống do việc đã làm của bản thân. Tâu đại vương, giống như những kẻ trộm gánh chịu sự móc mắt, đặt trên giáo nhọn, chặt đầu do việc đã làm của bản thân, tâu đại vương, tương tợ y như thế những người thực hành sai trái ấy bị chết và rơi khỏi Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng do việc đã làm của bản thân.
Tâu đại vương, đối với các tỳ khưu số lượng sáu mươi vị có máu nóng đã trào ra từ miệng, điều ấy không phải do việc đã làm của đức Thế Tôn, không phải do việc đã làm của những người khác, khi ấy là do việc đã làm của chính bản thân các vị ấy. Tâu đại vương, giống như người ban bố thuốc bất tử cho tất cả dân chúng, những người ấy sau khi ăn vào thuốc bất tử trở thành vô bệnh, sống lâu, có thể thoát khỏi tất cả các tai họa. Rồi có người nam khác sau khi ăn vào thuốc ấy theo cách hành xử ẩu tả có thể gánh lấy cái chết. Tâu đại vương, phải chăng người cho thuốc bất tử do nguyên cớ ấy có thể đạt đến tội lỗi nào đó?”
“Thưa ngài, không đúng.”
BJT 5“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai ban bố món quà Giáo Pháp là sự Bất Tử đến cho chư Thiên và nhân loại ở mười ngàn thế giới. Những chúng sanh nào có khả năng thì được giác ngộ nhờ vào Giáo Pháp Bất Tử, trái lại những chúng sanh nào không có khả năng thì chúng bị chết, bị rơi xuống bởi vì Giáo Pháp Bất Tử. Tâu đại vương, vật thực duy trì mạng sống cho tất cả chúng sanh. Một số người ăn vật thực bị chết vì cơn thổ tả. Tâu đại vương, phải chăng người bố thí vật thực ấy do nguyên cớ ấy có thể đạt đến tội lỗi nào đó?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai ban bố món quà Giáo Pháp là sự Bất Tử đến cho chư Thiên và nhân loại ở mười ngàn thế giới. Những chúng sanh nào có khả năng thì được giác ngộ nhờ vào Giáo Pháp Bất Tử, trái lại những chúng sanh nào không có khả năng thì bị chết, bị rơi xuống bởi vì Giáo Pháp Bất Tử.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự ban phát điều lợi ích
đến tất cả chúng sanh là thứ nhì.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘tathāgato sabbasattānaṁ ahitamapanetvā hitamupadahatī’ti.
Puna ca bhaṇatha aggikkhandhūpame dhammapariyāye bhaññamāne ‘saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggatan’ti.
Aggikkhandhūpamaṁ, bhante, dhammapariyāyaṁ desentena tathāgatena saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ hitamapanetvā ahitamupadahitaṁ.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgato sabbasattānaṁ ahitamapanetvā hitamupadahati, tena hi aggikkhandhūpame dhammapariyāye bhaññamāne saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggatanti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi aggikkhandhūpame dhammapariyāye bhaññamāne saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggataṁ, tena hi tathāgato sabbasattānaṁ ahitamapanetvā hitamupadahatīti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Tathāgato, mahārāja, sabbasattānaṁ ahitamapanetvā hitamupadahati, aggikkhandhūpame dhammapariyāye bhaññamāne saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggataṁ, tañca pana na tathāgatassa katena, tesaṁyeva attano katenā”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, tathāgato aggikkhandhūpamaṁ dhammapariyāyaṁ na bhāseyya, api nu tesaṁ uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggaccheyyā”ti.
“Na hi, mahārāja, micchāpaṭipannānaṁ tesaṁ bhagavato dhammapariyāyaṁ sutvā pariḷāho kāye uppajji, tena tesaṁ pariḷāhena uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggatan”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, tathāgatasseva katena tesaṁ uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggataṁ, tathāgatoyeva tattha adhikāro tesaṁ nāsanāya, yathā nāma, bhante nāgasena, ahi vammikaṁ paviseyya, athaññataro paṁsukāmo puriso vammikaṁ bhinditvā paṁsuṁ hareyya, tassa paṁsuharaṇena vammikassa susiraṁ pidaheyya, atha tattheva so assāsaṁ alabhamāno mareyya, nanu so, bhante, ahi tassa purisassa katena maraṇappatto”ti.
“Āma, mahārājā”ti.
“Evameva kho, bhante nāgasena, tathāgatoyeva tattha adhikāro tesaṁ nāsanāyā”ti.
“Tathāgato, mahārāja, dhammaṁ desayamāno anunayappaṭighaṁ na karoti, anunayappaṭighavippamutto dhammaṁ deseti, evaṁ dhamme desīyamāne ye tattha sammāpaṭipannā, te bujjhanti.
Ye pana micchāpaṭipannā, te patanti.
Yathā, mahārāja, purisassa ambaṁ vā jambuṁ vā madhukaṁ vā cālayamānassa yāni tattha phalāni sārāni daḷhabandhanāni, tāni tattheva accutāni tiṭṭhanti, yāni tattha phalāni pūtivaṇṭamūlāni dubbalabandhanāni, tāni patanti;
evameva kho, mahārāja, tathāgato dhammaṁ desayamāno anunayappaṭighaṁ na karoti, anunayappaṭighavippamutto dhammaṁ deseti, evaṁ dhamme desīyamāne ye tattha sammāpaṭipannā, te bujjhanti.
Ye pana micchāpaṭipannā, te patanti.
Yathā vā pana, mahārāja, kassako dhaññaṁ ropetukāmo khettaṁ kasati, tassa kasantassa anekasatasahassāni tiṇāni maranti;
evameva kho, mahārāja, tathāgato paripakkamānase satte bodhento anunayappaṭighavippamutto dhammaṁ deseti, evaṁ dhamme desīyamāne ye tattha sammāpaṭipannā, te bujjhanti.
Ye pana micchāpaṭipannā, te tiṇāni viya maranti.
Yathā vā pana, mahārāja, manussā rasahetu yantena ucchuṁ pīḷayanti, tesaṁ ucchuṁ pīḷayamānānaṁ ye tattha yantamukhagatā kimayo, te pīḷiyanti;
evameva kho, mahārāja, tathāgato paripakkamānase satte bodhento dhammayantamabhipīḷayati, ye tattha micchāpaṭipannā, te kimī viya marantī”ti.
“Nanu, bhante nāgasena, te bhikkhū tāya dhammadesanāya patitā”ti?
“Api nu kho, mahārāja, tacchako rukkhaṁ tacchanto ujukaṁ parisuddhaṁ karotī”ti?
“Na hi, bhante, vajjanīyaṁ apanetvā tacchako rukkhaṁ ujukaṁ parisuddhaṁ karotī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tathāgato parisaṁ rakkhanto na sakkoti bodhaneyye satte bodhetuṁ, micchāpaṭipanne pana satte apanetvā bodhaneyye satte bodheti, attakatena pana te, mahārāja, micchāpaṭipannā patanti.
Yathā, mahārāja, kadalī veḷu assatarī attajena haññati;
evameva kho, mahārāja, ye te micchāpaṭipannā, te attakatena haññanti patanti.
Yathā, mahārāja, corā attakatena cakkhuppāṭanaṁ sūlāropanaṁ sīsacchedanaṁ pāpuṇanti;
evameva kho, mahārāja, ye te micchāpaṭipannā, te attakatena haññanti patanti.
Yesaṁ, mahārāja, saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggataṁ, tesaṁ taṁ neva bhagavato katena, na paresaṁ katena, atha kho attanoyeva katena.
Yathā, mahārāja, puriso sabbajanassa amataṁ dadeyya, te taṁ amataṁ asitvā arogā dīghāyukā sabbītito parimucceyyuṁ, athaññataro puriso durupacārena taṁ asitvā maraṇaṁ pāpuṇeyya, api nu kho so, mahārāja, amatadāyako puriso tatonidānaṁ kiñci apuññaṁ āpajjeyyā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tathāgato dasasahassiyā lokadhātuyā devamanussānaṁ amataṁ dhammadānaṁ deti, ye te sattā bhabbā, te dhammāmatena bujjhanti.
Ye pana te sattā abhabbā, te dhammāmatena haññanti patanti.
Bhojanaṁ, mahārāja, sabbasattānaṁ jīvitaṁ rakkhati, tamekacce bhuñjitvā visūcikāya maranti, api nu kho so, mahārāja, bhojanadāyako puriso tatonidānaṁ kiñci apuññaṁ āpajjeyyā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tathāgato dasasahassiyā lokadhātuyā devamanussānaṁ amataṁ dhammadānaṁ deti, ye te sattā bhabbā, te dhammāmatena bujjhanti.
Ye pana te sattā abhabbā, te dhammāmatena haññanti patantī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Sabbasattahitapharaṇapañho dutiyo.
PTS vp En 234 PTS cs 5 ‘Venerable Nāgasena, you Bhikkhus say that the Tathāgata averts harm from all beings, and does them good. And again you say that when he was preaching the discourse based on the simile of the burning fire hot blood was ejected from the mouths of about sixty Bhikkhus. By his delivery of that discourse he did those Bhikkhus harm and not good. So if the first statement is correct, the second is false; and if the second is correct, the first PTS vp Pali 165 is false. This too is a double-pointed problem put to you, which you have to solve.’
PTS cs 6 ‘Both are true. What happened to them was not the Tathāgata’s doing, but their own.’
‘But, Nāgasena, if the Tathāgata had not delivered that discourse, then would they have vomited up hot blood?’
‘No. When they took wrongly what he said, then was there a burning kindled within them, and hot blood was ejected from their mouths.’
‘Then that must have happened, Nāgasena, through the act of the Tathāgata, it must have been the Tathāgata who was the chief cause to destroy them. Suppose a serpent, Nāgasena, had crept into an anthill, and a man in want of earth were to break into the anthill, and take the earth of it away. And by his doing so the entrance-hole to the anthill PTS vp En 235 were closed up, and the snake were to die in consequence from want of air. Would not the serpent have been killed by that man’s action?’
‘Yes, O king.’
‘Just so, Nāgasena, was the Tathāgata the prime cause of their destruction.’
PTS cs 7 ‘When the Tathāgata delivered a discourse, O king, he never did so either in flattery or in malice. In freedom both from the one and from the other did he speak. And they who received it aright were made wise, but they who received it wrongly, fell. Just, O king, as when a man shakes a mango tree or a jambu tree or a mee tree, such of the fruits on it as are full of sap and strongly fastened to it remain undisturbed, but such as have rotten stalks, and are loosely attached, fall to the ground—PTS vp Pali 166 so was it with his preaching. It was, O king, as when a husbandman, wanting to grow a crop of wheat, ploughs the field, but by that ploughing many hundreds and thousands of blades of grass are killed—or it was as when men, for the sake of sweetness, crush sugarcane in a mill, and by their doing so such small creatures as pass into the mouth of the mill are crushed also—so was it that the Tathāgata making wise those whose minds were prepared, preached the Dhamma without flattery and without malice. And they who received it aright were made wise, but they who received it wrongly, fell.’
PTS cs 8 Then did not those Bhikkhus fall, Nāgasena, just because of that discourse?’ PTS vp En 236
‘How, then, could a carpenter by doing nothing to a piece of timber, and simply laying it by, make it straight and fit for use?’
‘No, Sir. He would have to get rid of the bends out of it, if he wanted it straight and ready for use.’
‘Just so, O king, the Tathāgata could not, by merely watching over his disciples, have opened the eyes of those who were ready to see. But by getting rid of those who took the word wrongly he saved those prepared to be saved. And it was by their own act and deed, O king, that the evil-minded fell; just as a plantain tree, or a bambū, or a she-mule are destroyed by that to which they themselves give birth. And just, O king, as it is by their own acts that robbers come to have their eyes plucked out, or to impalement, or to the scaffold, just so were the evil-minded destroyed by their own act, and fell from the teaching of the Conqueror.’
PTS cs 9 ‘And so PTS vp Pali 167 with those sixty Bhikkhus, they fell neither by the act of the Tathāgata nor of any one else, but solely by their own deed. Suppose, O king, a man were to give ambrosia to all the people, and they, eating of it, were to become healthy and long-lived and free from every bodily ill. But one man, on eating it, were by his own bad digestion, to PTS vp En 237 die. Would then, O king, the man who gave away the ambrosia be guilty therein of any offence?’
‘No, Sir.’
‘Just so, O king, does the Tathāgata present the gift of his ambrosia to the men and gods in the ten thousand world systems; and those beings who are capable of doing so are made wise by the nectar of his law, while they who are not are destroyed and fall. Food, O king, preserves the lives of all beings. But some who eat of it die of cholera. Is the man who feeds the hungry guilty therein of any offence?’
‘No, Sir.’
‘Just so, O king, does the Tathāgata present the gift of his ambrosia to the men and gods in the ten thousand world systems; and those beings who are capable of doing so are made wise by the nectar of his law, while they who are not are destroyed and fall.’
‘Very good, Nāgasena! That is so, and I accept it as you say.’
Here ends the dilemma on the harm resulting from preaching.
ĐẾN TẤT CẢ CHÚNG SANH
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, ngài nói rằng: ‘Đức Như Lai xua đi điều bất lợi và đem lại điều lợi ích cho tất cả chúng sanh.’ Và thêm nữa, ngài còn nói rằng: ‘Trong khi bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửađang được thuyết giảng, máu nóng đã trào ra từ miệng của các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị.’ Thưa ngài, trong khi đức Như Lai đang thuyết giảng bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa, Ngài đã xua đi điều lợi ích và đem lại điều bất lợi cho các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị. Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai xua đi điều bất lợi và đem lại điều lợi ích cho tất cả chúng sanh, như thế thì lời nói rằng: ‘Trong khi bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa đang được thuyết giảng, máu nóng đã trào ra từ miệng của các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị’ là sai trái. Nếu trong khi bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa đang được thuyết giảng, máu nóng đã trào ra từ miệng của các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị, như thế thì lời nói rằng: ‘Đức Như Lai xua đi điều bất lợi và đem lại điều lợi ích cho tất cả chúng sanh’ cũng là sai trái. Câu hỏi này cũng có cả hai khía cạnh, được dành cho ngài. Nó nên được giải quyết bởi ngài.”
BJT 2“Tâu đại vương, đức Như Lai xua đi điều bất lợi và đem lại điều lợi ích cho tất cả chúng sanh. Trong khi bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa đang được thuyết giảng, máu nóng đã trào ra từ miệng của các tỳ khưu có số lượng sáu mươi vị. Tuy nhiên, điều ấy không phải do việc đã làm của đức Như Lai, mà do việc đã làm của bản thân chính các vị ấy.”
“Thưa ngài Nāgasena, nếu đức Như Lai không thuyết giảng bài Pháp Ví Dụ Về Đống Lửa, phải chăng máu nóng có thể trào ra từ miệng của các vị ấy?”
“Tâu đại vương, không thể. Tâu đại vương, đối với các vị đã thực hành sai trái ấy thì sau khi lắng nghe bài Pháp của đức Thế Tôn có sự nóng nảy đã sanh khởi. Do sự nóng nảy ấy của các vị ấy mà máu nóng đã trào ra từ miệng.”
“Thưa ngài Nāgasena, như thế thì do việc đã làm của chính đức Như Lai mà máu nóng đã trào ra từ miệng của các vị ấy. Trong trường hợp ấy chính đức Như Lai là tác nhân đưa đến sự tổn hại cho những vị ấy. Thưa ngài Nāgasena, giống như câu chuyện con rắn đi vào hang mối, rồi có người đàn ông nọ cần dùng đất nên phá vỡ gò mối rồi đem đất đi. Do việc đem đất đi của người ấy làm lấp lại các lỗ hổng của gò mối. Và con rắn, ở ngay tại chỗ ấy, trong khi không đạt được hơi thở vào nên bị chết. Thưa ngài, không lẽ con rắn đi đến sự chết vì việc đã làm của người ấy?”
“Tâu đại vương, đúng vậy.”
“Thưa ngài Nāgasena, tương tợ y như thế trong trường hợp ấy chính đức Như Lai là tác nhân đưa đến sự tổn hại cho những vị ấy.”
BJT 3“Tâu đại vương, đức Như Lai trong khi thuyết giảng Giáo Pháp không thể hiện sự ưa thích hay ghét bỏ. Được thoát khỏi hẳn sự ưa thích hay ghét bỏ, Ngài thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng như vậy, tại nơi ấy những người nào thực hành đúng đắn thì được giác ngộ, trái lại những người nào thực hành sai trái thì rơi xuống. Tâu đại vương, giống như người đàn ông trong lúc làm lay động cây xoài, cây mận, hoặc cây cam thảo, thì ở nơi ấy những trái nào có phẩm chất, có sự gắn bó chắc chắn, thì còn tồn tại ở chính nơi ấy không bị tổn hại; trái lại, ở nơi ấy những trái nào có cuống hay cọng bị thối rữa thì rơi xuống. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai trong khi thuyết giảng Giáo Pháp không thể hiện sự ưa thích hay ghét bỏ. Được thoát khỏi hẳn sự ưa thích hay ghét bỏ, Ngài thuyết giảng Giáo Pháp. Trong khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng như vậy, tại nơi ấy những người nào thực hành đúng đắn thì được giác ngộ, trái lại những người nào thực hành sai trái thì rơi xuống. Tâu đại vương, hoặc là giống như người nông dân có ý định gieo hạt bắp nên cày thửa ruộng. Khi người ấy đang cày thì hàng trăm ngàn cỏ dại bị chết. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai đã được thoát khỏi hẳn sự ưa thích hay ghét bỏ, Ngài thuyết giảng Giáo Pháp để giác ngộ các chúng sanh có tâm ý đã được chín muồi. Trong khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng như vậy, tại nơi ấy những người nào thực hành đúng đắn thì được giác ngộ; trái lại những người nào thực hành sai trái thì rơi xuống, ví như các cỏ dại ấy bị chết. Tâu đại vương, hoặc là giống như những người ép cây mía bằng máy ép vì nguyên nhân nước cốt. Khi những người ấy đang ép cây mía, những con sâu bọ nào đi vào miệng máy ép thì bị ép nát. Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai ép máy ép Giáo Pháp để giác ngộ các chúng sanh có tâm ý đã được chín muồi. Tại nơi ấy những người nào thực hành sai trái thì bị chết giống như các con sâu bọ.”
BJT 4“Thưa ngài Nāgasena, không lẽ các tỳ khưu ấy bị rơi xuống vì sự thuyết giảng Giáo Pháp ấy?”
“Tâu đại vương, phải chăng người thợ đẽo gỗ trong khi bảo vệ khúc cây thì làm cho ngay thẳng và hoàn toàn trơn tru?”
“Thưa ngài, không đúng. Người thợ đẽo gỗ sau khi bỏ đi chỗ hư hỏng rồi mới làm cho khúc cây ngay thẳng và hoàn toàn trơn tru.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai trong khi (chỉ lo) bảo vệ hội chúng thì không thể giác ngộ các chúng sanh có khả năng giác ngộ; sau khi loại ra các chúng sanh thực hành sai trái như vậy rồi mới giác ngộ các chúng sanh có khả năng giác ngộ này. Tâu đại vương, hơn nữa những người thực hành sai trái ấy rơi xuống do việc đã làm của bản thân. Tâu đại vương, giống như cây chuối, cây tre, con la khi thành quả được tạo ra bởi bản thân thì bị chết, tâu đại vương, tương tợ y như thế những người thực hành sai trái ấy bị chết, và rơi xuống do việc đã làm của bản thân. Tâu đại vương, giống như những kẻ trộm gánh chịu sự móc mắt, đặt trên giáo nhọn, chặt đầu do việc đã làm của bản thân, tâu đại vương, tương tợ y như thế những người thực hành sai trái ấy bị chết và rơi khỏi Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng do việc đã làm của bản thân.
Tâu đại vương, đối với các tỳ khưu số lượng sáu mươi vị có máu nóng đã trào ra từ miệng, điều ấy không phải do việc đã làm của đức Thế Tôn, không phải do việc đã làm của những người khác, khi ấy là do việc đã làm của chính bản thân các vị ấy. Tâu đại vương, giống như người ban bố thuốc bất tử cho tất cả dân chúng, những người ấy sau khi ăn vào thuốc bất tử trở thành vô bệnh, sống lâu, có thể thoát khỏi tất cả các tai họa. Rồi có người nam khác sau khi ăn vào thuốc ấy theo cách hành xử ẩu tả có thể gánh lấy cái chết. Tâu đại vương, phải chăng người cho thuốc bất tử do nguyên cớ ấy có thể đạt đến tội lỗi nào đó?”
“Thưa ngài, không đúng.”
BJT 5“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai ban bố món quà Giáo Pháp là sự Bất Tử đến cho chư Thiên và nhân loại ở mười ngàn thế giới. Những chúng sanh nào có khả năng thì được giác ngộ nhờ vào Giáo Pháp Bất Tử, trái lại những chúng sanh nào không có khả năng thì chúng bị chết, bị rơi xuống bởi vì Giáo Pháp Bất Tử. Tâu đại vương, vật thực duy trì mạng sống cho tất cả chúng sanh. Một số người ăn vật thực bị chết vì cơn thổ tả. Tâu đại vương, phải chăng người bố thí vật thực ấy do nguyên cớ ấy có thể đạt đến tội lỗi nào đó?”
“Thưa ngài, không đúng.”
“Tâu đại vương, tương tợ y như thế đức Như Lai ban bố món quà Giáo Pháp là sự Bất Tử đến cho chư Thiên và nhân loại ở mười ngàn thế giới. Những chúng sanh nào có khả năng thì được giác ngộ nhờ vào Giáo Pháp Bất Tử, trái lại những chúng sanh nào không có khả năng thì bị chết, bị rơi xuống bởi vì Giáo Pháp Bất Tử.”
“Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”
Câu hỏi về sự ban phát điều lợi ích
đến tất cả chúng sanh là thứ nhì.
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
‘tathāgato sabbasattānaṁ ahitamapanetvā hitamupadahatī’ti.
Puna ca bhaṇatha aggikkhandhūpame dhammapariyāye bhaññamāne ‘saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggatan’ti.
Aggikkhandhūpamaṁ, bhante, dhammapariyāyaṁ desentena tathāgatena saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ hitamapanetvā ahitamupadahitaṁ.
Yadi, bhante nāgasena, tathāgato sabbasattānaṁ ahitamapanetvā hitamupadahati, tena hi aggikkhandhūpame dhammapariyāye bhaññamāne saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggatanti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Yadi aggikkhandhūpame dhammapariyāye bhaññamāne saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggataṁ, tena hi tathāgato sabbasattānaṁ ahitamapanetvā hitamupadahatīti tampi vacanaṁ micchā.
Ayampi ubhato koṭiko pañho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
“Tathāgato, mahārāja, sabbasattānaṁ ahitamapanetvā hitamupadahati, aggikkhandhūpame dhammapariyāye bhaññamāne saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggataṁ, tañca pana na tathāgatassa katena, tesaṁyeva attano katenā”ti.
“Yadi, bhante nāgasena, tathāgato aggikkhandhūpamaṁ dhammapariyāyaṁ na bhāseyya, api nu tesaṁ uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggaccheyyā”ti.
“Na hi, mahārāja, micchāpaṭipannānaṁ tesaṁ bhagavato dhammapariyāyaṁ sutvā pariḷāho kāye uppajji, tena tesaṁ pariḷāhena uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggatan”ti.
“Tena hi, bhante nāgasena, tathāgatasseva katena tesaṁ uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggataṁ, tathāgatoyeva tattha adhikāro tesaṁ nāsanāya, yathā nāma, bhante nāgasena, ahi vammikaṁ paviseyya, athaññataro paṁsukāmo puriso vammikaṁ bhinditvā paṁsuṁ hareyya, tassa paṁsuharaṇena vammikassa susiraṁ pidaheyya, atha tattheva so assāsaṁ alabhamāno mareyya, nanu so, bhante, ahi tassa purisassa katena maraṇappatto”ti.
“Āma, mahārājā”ti.
“Evameva kho, bhante nāgasena, tathāgatoyeva tattha adhikāro tesaṁ nāsanāyā”ti.
“Tathāgato, mahārāja, dhammaṁ desayamāno anunayappaṭighaṁ na karoti, anunayappaṭighavippamutto dhammaṁ deseti, evaṁ dhamme desīyamāne ye tattha sammāpaṭipannā, te bujjhanti.
Ye pana micchāpaṭipannā, te patanti.
Yathā, mahārāja, purisassa ambaṁ vā jambuṁ vā madhukaṁ vā cālayamānassa yāni tattha phalāni sārāni daḷhabandhanāni, tāni tattheva accutāni tiṭṭhanti, yāni tattha phalāni pūtivaṇṭamūlāni dubbalabandhanāni, tāni patanti;
evameva kho, mahārāja, tathāgato dhammaṁ desayamāno anunayappaṭighaṁ na karoti, anunayappaṭighavippamutto dhammaṁ deseti, evaṁ dhamme desīyamāne ye tattha sammāpaṭipannā, te bujjhanti.
Ye pana micchāpaṭipannā, te patanti.
Yathā vā pana, mahārāja, kassako dhaññaṁ ropetukāmo khettaṁ kasati, tassa kasantassa anekasatasahassāni tiṇāni maranti;
evameva kho, mahārāja, tathāgato paripakkamānase satte bodhento anunayappaṭighavippamutto dhammaṁ deseti, evaṁ dhamme desīyamāne ye tattha sammāpaṭipannā, te bujjhanti.
Ye pana micchāpaṭipannā, te tiṇāni viya maranti.
Yathā vā pana, mahārāja, manussā rasahetu yantena ucchuṁ pīḷayanti, tesaṁ ucchuṁ pīḷayamānānaṁ ye tattha yantamukhagatā kimayo, te pīḷiyanti;
evameva kho, mahārāja, tathāgato paripakkamānase satte bodhento dhammayantamabhipīḷayati, ye tattha micchāpaṭipannā, te kimī viya marantī”ti.
“Nanu, bhante nāgasena, te bhikkhū tāya dhammadesanāya patitā”ti?
“Api nu kho, mahārāja, tacchako rukkhaṁ tacchanto ujukaṁ parisuddhaṁ karotī”ti?
“Na hi, bhante, vajjanīyaṁ apanetvā tacchako rukkhaṁ ujukaṁ parisuddhaṁ karotī”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tathāgato parisaṁ rakkhanto na sakkoti bodhaneyye satte bodhetuṁ, micchāpaṭipanne pana satte apanetvā bodhaneyye satte bodheti, attakatena pana te, mahārāja, micchāpaṭipannā patanti.
Yathā, mahārāja, kadalī veḷu assatarī attajena haññati;
evameva kho, mahārāja, ye te micchāpaṭipannā, te attakatena haññanti patanti.
Yathā, mahārāja, corā attakatena cakkhuppāṭanaṁ sūlāropanaṁ sīsacchedanaṁ pāpuṇanti;
evameva kho, mahārāja, ye te micchāpaṭipannā, te attakatena haññanti patanti.
Yesaṁ, mahārāja, saṭṭhimattānaṁ bhikkhūnaṁ uṇhaṁ lohitaṁ mukhato uggataṁ, tesaṁ taṁ neva bhagavato katena, na paresaṁ katena, atha kho attanoyeva katena.
Yathā, mahārāja, puriso sabbajanassa amataṁ dadeyya, te taṁ amataṁ asitvā arogā dīghāyukā sabbītito parimucceyyuṁ, athaññataro puriso durupacārena taṁ asitvā maraṇaṁ pāpuṇeyya, api nu kho so, mahārāja, amatadāyako puriso tatonidānaṁ kiñci apuññaṁ āpajjeyyā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tathāgato dasasahassiyā lokadhātuyā devamanussānaṁ amataṁ dhammadānaṁ deti, ye te sattā bhabbā, te dhammāmatena bujjhanti.
Ye pana te sattā abhabbā, te dhammāmatena haññanti patanti.
Bhojanaṁ, mahārāja, sabbasattānaṁ jīvitaṁ rakkhati, tamekacce bhuñjitvā visūcikāya maranti, api nu kho so, mahārāja, bhojanadāyako puriso tatonidānaṁ kiñci apuññaṁ āpajjeyyā”ti?
“Na hi, bhante”ti.
“Evameva kho, mahārāja, tathāgato dasasahassiyā lokadhātuyā devamanussānaṁ amataṁ dhammadānaṁ deti, ye te sattā bhabbā, te dhammāmatena bujjhanti.
Ye pana te sattā abhabbā, te dhammāmatena haññanti patantī”ti.
“Sādhu, bhante nāgasena, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Sabbasattahitapharaṇapañho dutiyo.