PHẦN TÓM LƯỢC
“(Loài lừa) có tiếng kêu khủng khiếp, và loài gà trống, loài sóc, loài beo cái, loài beo đực, loài rùa, cây tre, cây cung, và loài quạ, rồi loài khỉ.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của dây bầu nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như dây bầu dùng những sợi tua đeo bám ở cọng cỏ, hoặc ở khúc cây, hoặc ở dây leo, rồi phát triển lên trên vật đó. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập, có ước muốn tiến triển ở phẩm vị A-la-hán, thì nên dùng ý đeo bám ở đối tượng (đề mục thiền), rồi tiến triển ở phẩm vị A-la-hán. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của dây bầu nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến:
‘Giống như cái gọi là dây bầu đeo bám ở cọng cỏ, ở khúc cây, hoặc ở dây leo bằng những sợi tua, rồi từ đó phát triển lên trên.
Y như thế ấy, người con trai của đức Phật, có ước muốn về quả vị A-la-hán, thì nên đeo bám ở đối tượng (đề mục thiền), rồi tiến triển ở quả vị Vô Học.’”
Câu hỏi về tính chất của dây bầu là thứ nhất.
“Bhante nāgasena, ‘lābulatāya ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, lābulatā tiṇe vā kaṭṭhe vā latāya vā soṇḍikāhi ālambitvā tassūpari vaḍḍhati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena arahatte abhivaḍḍhitukāmena manasā ārammaṇaṁ ālambitvā arahatte abhivaḍḍhitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, lābulatāya ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Yathā lābulatā nāma,
tiṇe kaṭṭhe latāya vā;
Ālambitvā soṇḍikāhi,
tato vaḍḍhati uppari.
Tatheva buddhaputtena,
Arahattaphalakāminā;
Ārammaṇaṁ ālambitvā,
Vaḍḍhitabbaṁ asekkhaphale’”ti.
Lābulataṅgapañho paṭhamo.
PTS vp En 294 PTS cs 1 ‘Venerable Nāgasena, that one quality of the gourd which you say he ought to take, which is it?’
‘Just, O king, as the gourd, climbing up with its tendrils on to some other plant—whether a grass, or a thorn, or a creeper—grows all over it; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, who desires to grow up into Arahatship, do so by climbing up with his mind over the ideas that present themselves (as subjects for the Kammaṭṭhāna meditations). This, O king, is the one quality of the gourd which he ought to have. For it was said, O king, by Sāriputta, the Elder, the Commander of the Faith:
“As the gourd, clambering up with its tendrils, grows
O’er the grass, or the thorn-bush, or creeper widespread,
So the son of the Buddha on Ar’hatship bent,
Climbs up o’er ideas, to perfection and peace.”’
PHẦN TÓM LƯỢC
“(Loài lừa) có tiếng kêu khủng khiếp, và loài gà trống, loài sóc, loài beo cái, loài beo đực, loài rùa, cây tre, cây cung, và loài quạ, rồi loài khỉ.”
“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Một tính chất của dây bầu nên được hành trì,’ một tính chất nên được hành trì ấy là điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như dây bầu dùng những sợi tua đeo bám ở cọng cỏ, hoặc ở khúc cây, hoặc ở dây leo, rồi phát triển lên trên vật đó. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập, có ước muốn tiến triển ở phẩm vị A-la-hán, thì nên dùng ý đeo bám ở đối tượng (đề mục thiền), rồi tiến triển ở phẩm vị A-la-hán. Tâu đại vương, điều này là một tính chất của dây bầu nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được trưởng lão Sāriputta, vị Tướng Quân Chánh Pháp, nói đến:
‘Giống như cái gọi là dây bầu đeo bám ở cọng cỏ, ở khúc cây, hoặc ở dây leo bằng những sợi tua, rồi từ đó phát triển lên trên.
Y như thế ấy, người con trai của đức Phật, có ước muốn về quả vị A-la-hán, thì nên đeo bám ở đối tượng (đề mục thiền), rồi tiến triển ở quả vị Vô Học.’”
Câu hỏi về tính chất của dây bầu là thứ nhất.
“Bhante nāgasena, ‘lābulatāya ekaṁ aṅgaṁ gahetabban’ti yaṁ vadesi, katamaṁ taṁ ekaṁ aṅgaṁ gahetabban”ti?
“Yathā, mahārāja, lābulatā tiṇe vā kaṭṭhe vā latāya vā soṇḍikāhi ālambitvā tassūpari vaḍḍhati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena arahatte abhivaḍḍhitukāmena manasā ārammaṇaṁ ālambitvā arahatte abhivaḍḍhitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, lābulatāya ekaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, therena sāriputtena dhammasenāpatinā—
‘Yathā lābulatā nāma,
tiṇe kaṭṭhe latāya vā;
Ālambitvā soṇḍikāhi,
tato vaḍḍhati uppari.
Tatheva buddhaputtena,
Arahattaphalakāminā;
Ārammaṇaṁ ālambitvā,
Vaḍḍhitabbaṁ asekkhaphale’”ti.
Lābulataṅgapañho paṭhamo.