BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Ba tính chất của loài ngỗng đỏ nên được hành trì,’ ba tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài ngỗng đỏ cho đến lúc chấm dứt mạng sống không lìa bỏ bạn tình. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập cho đến lúc chấm dứt mạng sống không nên lìa bỏ sự tác ý đúng đường lối. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của loài ngỗng đỏ nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài ngỗng đỏ có vật thực là rong rêu ở nước, và đạt được sự vừa lòng với điều ấy. Và nhờ vào sự vừa lòng ấy nó không suy giảm về sức lực và sắc đẹp. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên thể hiện sự hài lòng với lợi lộc có được. Tâu đại vương, được hài lòng với lợi lộc có được, vị hành giả thiết tha tu tập không suy giảm về giới, không suy giảm về định, không suy giảm về tuệ, không suy giảm về giải thoát, không suy giảm sự nhận thức về giải thoát, không suy giảm tất cả các thiện pháp. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của loài ngỗng đỏ nên được hành trì.
BJT 3Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài ngỗng đỏ không hãm hại các sinh mạng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập có gậy đã được bỏ xuống, có dao đã được bỏ xuống, có liêm sỉ, đã đạt được lòng trắc ẩn, có lòng thương tưởng đến sự lợi ích của tất cả các chủng loại có sinh mạng. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ ba của loài ngỗng đỏ nên được hành trì.
Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Bổn Sanh Cakkavāka:
‘Người nào không giết hại, không bảo giết hại, không thống trị, không bảo thống trị, do sự không hãm hại đối với tất cả chúng sanh, người ấy không có oán thù với bất cứ ai.’”
Câu hỏi về tính chất của loài ngỗng đỏ là thứ nhì.
“Bhante nāgasena, ‘cakkavākassa tīṇi aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni tīṇi aṅgāni gahetabbānīti”?
“Yathā, mahārāja, cakkavāko yāva jīvitapariyādānā dutiyikaṁ na vijahati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena yāva jīvitapariyādānā yoniso manasikāro na vijahitabbo.
Idaṁ, mahārāja, cakkavākassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, cakkavāko sevālapaṇakabhakkho, tena ca santuṭṭhiṁ āpajjati, tāya ca santuṭṭhiyā balena ca vaṇṇena ca na parihāyati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena yathālābhasantoso karaṇīyo, yathālābhasantuṭṭho kho, mahārāja, yogī yogāvacaro na parihāyati sīlena, na parihāyati samādhinā, na parihāyati paññāya, na parihāyati vimuttiyā, na parihāyati vimuttiñāṇadassanena, na parihāyati sabbehi kusalehi dhammehi.
Idaṁ, mahārāja, cakkavākassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, cakkavāko pāṇe na viheṭhayati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena nihitadaṇḍena nihitasatthena lajjinā dayāpannena sabbapāṇabhūtahitānukampinā bhavitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, cakkavākassa tatiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena cakkavākajātake—
‘Yo na hanti na ghāteti,
na jināti na jāpaye;
Mettaṁso sabbabhūtesu,
veraṁ tassa na kenacī’”ti.
Cakkavākaṅgapañho dutiyo.
PTS cs 8 ‘Venerable Nāgasena, those three qualities of the cakravāka bird you say he ought to take, which are they?’
‘Just, O king, as the cakravāka bird never forsakes his mate even to the close of his life; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, never, even PTS vp En 341 to the close of his life, give up the habit of thought. This, O king, is the first quality of the cakravāka bird he ought to have.
PTS cs 9 ‘And again, O king, as the cakravāka bird feeds on the Sevāla and Paṇaka (water-plants so called), and derives satisfaction therefrom, and being so satisfied, neither his strength nor his beauty grows less; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, find satisfaction in whatever he receives. And if he does so find satisfaction, O king, then does he decrease neither in power of meditation, nor in wisdom, nor in emancipation, nor in the insight that arises from the consciousness of emancipation, nor in any kind of goodness. PTS vp Pali 402 This, O king, is the second quality of the cakravāka bird he ought to have.
PTS cs 10 ‘And again, O king, as the cakravāka bird does no harm to living things; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, laying aside the cudgel, laying aside the sword, be full of modesty and pity, compassionate and kind to all creatures that have life. This, O king, is the third quality of the cakravāka bird he ought to have. For it was said, O king, by the Blessed One, the god over all gods, in the cakravāka Jātaka:
“The man who kills not, nor destroys,
Oppresses not, nor causes other men
To take from men that which is rightly theirs —- PTS vp En 342
And this from kindness to all things that live—
No wrath with any man disturbs his peace.”’
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Ba tính chất của loài ngỗng đỏ nên được hành trì,’ ba tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài ngỗng đỏ cho đến lúc chấm dứt mạng sống không lìa bỏ bạn tình. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập cho đến lúc chấm dứt mạng sống không nên lìa bỏ sự tác ý đúng đường lối. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của loài ngỗng đỏ nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài ngỗng đỏ có vật thực là rong rêu ở nước, và đạt được sự vừa lòng với điều ấy. Và nhờ vào sự vừa lòng ấy nó không suy giảm về sức lực và sắc đẹp. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên thể hiện sự hài lòng với lợi lộc có được. Tâu đại vương, được hài lòng với lợi lộc có được, vị hành giả thiết tha tu tập không suy giảm về giới, không suy giảm về định, không suy giảm về tuệ, không suy giảm về giải thoát, không suy giảm sự nhận thức về giải thoát, không suy giảm tất cả các thiện pháp. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của loài ngỗng đỏ nên được hành trì.
BJT 3Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài ngỗng đỏ không hãm hại các sinh mạng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập có gậy đã được bỏ xuống, có dao đã được bỏ xuống, có liêm sỉ, đã đạt được lòng trắc ẩn, có lòng thương tưởng đến sự lợi ích của tất cả các chủng loại có sinh mạng. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ ba của loài ngỗng đỏ nên được hành trì.
Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Bổn Sanh Cakkavāka:
‘Người nào không giết hại, không bảo giết hại, không thống trị, không bảo thống trị, do sự không hãm hại đối với tất cả chúng sanh, người ấy không có oán thù với bất cứ ai.’”
Câu hỏi về tính chất của loài ngỗng đỏ là thứ nhì.
“Bhante nāgasena, ‘cakkavākassa tīṇi aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni tīṇi aṅgāni gahetabbānīti”?
“Yathā, mahārāja, cakkavāko yāva jīvitapariyādānā dutiyikaṁ na vijahati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena yāva jīvitapariyādānā yoniso manasikāro na vijahitabbo.
Idaṁ, mahārāja, cakkavākassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, cakkavāko sevālapaṇakabhakkho, tena ca santuṭṭhiṁ āpajjati, tāya ca santuṭṭhiyā balena ca vaṇṇena ca na parihāyati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena yathālābhasantoso karaṇīyo, yathālābhasantuṭṭho kho, mahārāja, yogī yogāvacaro na parihāyati sīlena, na parihāyati samādhinā, na parihāyati paññāya, na parihāyati vimuttiyā, na parihāyati vimuttiñāṇadassanena, na parihāyati sabbehi kusalehi dhammehi.
Idaṁ, mahārāja, cakkavākassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, cakkavāko pāṇe na viheṭhayati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena nihitadaṇḍena nihitasatthena lajjinā dayāpannena sabbapāṇabhūtahitānukampinā bhavitabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, cakkavākassa tatiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena cakkavākajātake—
‘Yo na hanti na ghāteti,
na jināti na jāpaye;
Mettaṁso sabbabhūtesu,
veraṁ tassa na kenacī’”ti.
Cakkavākaṅgapañho dutiyo.