BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Hai tính chất của loài chim cú nên được hành trì,’ hai tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài chim cú chống đối lại các con quạ, ban đêm đi đến bầy quạ, rồi còn giết chết nhiều con quạ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên thể hiện sự chống đối lại sự thiếu trí, nên ngồi xuống một mình ở nơi vắng vẻ rồi nên nghiền nát hoàn toàn sự thiếu trí, nên cắt đứt tận gốc rễ. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của loài chim cú nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài chim cú là vô cùng cô tịch. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên có sự ưa thích thiền tịnh, được thích thú thiền tịnh. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của loài chim cú nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Tương Ưng Bộ cao quý:
‘Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu có sự ưa thích thiền tịnh, được thích thú thiền tịnh, nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’”
Câu hỏi về tính chất của loài chim cú là thứ năm.
“Bhante nāgasena, ‘ulūkassa dve aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni dve aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, ulūko kākehi paṭiviruddho, rattiṁ kākasaṅghaṁ gantvā bahūpi kāke hanati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena aññāṇena paṭiviruddho kātabbo, ekena raho nisīditvā aññāṇaṁ sampamadditabbaṁ, mūlato chinditabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, ulūkassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, ulūko suppaṭisallīno hoti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena paṭisallānārāmena bhavitabbaṁ paṭisallānaratena.
Idaṁ, mahārāja, ulūkassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena saṁyuttanikāyavare—
‘Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisallānārāmo paṭisallānarato “idaṁ dukkhan”ti yathābhūtaṁ pajānāti, “ayaṁ dukkhasamudayo”ti yathābhūtaṁ pajānāti, “ayaṁ dukkhanirodho”ti yathābhūtaṁ pajānāti, “ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā”ti yathābhūtaṁ pajānātī’”ti.
Ulūkaṅgapañho pañcamo.
PTS cs 14 ‘Venerable Nāgasena, those two qualities of the owl you say he ought to take, which are they?’
‘Just, O king, as the owl, being at enmity with the crows, goes at night where the flocks of crows are, and kills numbers of them; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, be PTS vp En 345 at enmity with ignorance; seated alone and in secret, he should crush it out of existence, cut it off at the root. This, O king, is the first quality of the owl he ought to have.
PTS cs 15 ‘And again, O king, as the owl is a solitary bird; just so, O king, should the strenuous Bhikshu, earnest in effort, be devoted to solitude, take delight in solitude. This, O king, is the second quality of the owl he ought to have. For it was said, O king, by the Blessed One, the god over all gods, in the most excellent Saṁyutta Nikāya:
“Let the Bhikshu, my brethren, be devoted to solitude, take delight in solitude, to the end that he may realise what sorrow really is, and what the origin of sorrow really is, PTS vp Pali 404 and what the cessation of sorrow really is, and what the path that leads to the cessation of sorrow really is.”’
BJT 1“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài nói là: ‘Hai tính chất của loài chim cú nên được hành trì,’ hai tính chất nên được hành trì ấy là các điều nào?”
“Tâu đại vương, giống như loài chim cú chống đối lại các con quạ, ban đêm đi đến bầy quạ, rồi còn giết chết nhiều con quạ. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên thể hiện sự chống đối lại sự thiếu trí, nên ngồi xuống một mình ở nơi vắng vẻ rồi nên nghiền nát hoàn toàn sự thiếu trí, nên cắt đứt tận gốc rễ. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhất của loài chim cú nên được hành trì.
BJT 2Tâu đại vương, còn có điều khác nữa, loài chim cú là vô cùng cô tịch. Tâu đại vương, tương tợ y như thế vị hành giả thiết tha tu tập nên có sự ưa thích thiền tịnh, được thích thú thiền tịnh. Tâu đại vương, điều này là tính chất thứ nhì của loài chim cú nên được hành trì. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn, vị Trời vượt trội các vị Trời, nói đến ở Tương Ưng Bộ cao quý:
‘Này các tỳ khưu, ở đây vị tỳ khưu có sự ưa thích thiền tịnh, được thích thú thiền tịnh, nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là nhân sanh Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự diệt tận Khổ,’ nhận biết đúng theo thực thể rằng: ‘Đây là sự thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ.’”
Câu hỏi về tính chất của loài chim cú là thứ năm.
“Bhante nāgasena, ‘ulūkassa dve aṅgāni gahetabbānī’ti yaṁ vadesi, katamāni tāni dve aṅgāni gahetabbānī”ti?
“Yathā, mahārāja, ulūko kākehi paṭiviruddho, rattiṁ kākasaṅghaṁ gantvā bahūpi kāke hanati;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena aññāṇena paṭiviruddho kātabbo, ekena raho nisīditvā aññāṇaṁ sampamadditabbaṁ, mūlato chinditabbaṁ.
Idaṁ, mahārāja, ulūkassa paṭhamaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Puna caparaṁ, mahārāja, ulūko suppaṭisallīno hoti;
evameva kho, mahārāja, yoginā yogāvacarena paṭisallānārāmena bhavitabbaṁ paṭisallānaratena.
Idaṁ, mahārāja, ulūkassa dutiyaṁ aṅgaṁ gahetabbaṁ.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā devātidevena saṁyuttanikāyavare—
‘Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisallānārāmo paṭisallānarato “idaṁ dukkhan”ti yathābhūtaṁ pajānāti, “ayaṁ dukkhasamudayo”ti yathābhūtaṁ pajānāti, “ayaṁ dukkhanirodho”ti yathābhūtaṁ pajānāti, “ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā”ti yathābhūtaṁ pajānātī’”ti.
Ulūkaṅgapañho pañcamo.