Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1101-1200
SA1177 Kinh 1177. sông tro
SA1101 Kinh 1101. sư tử SA1102 Kinh 1102. bát SA1103 Kinh 1103. nhập xứ SA1104 KINH 1104 SA1105 Kinh 1105. ma-ha-ly SA1106 Kinh 1106. do nhân gì SA1107 Kinh 1107. dạ-xoa SA1108 Kinh 1108. được mắt SA1109 Kinh 1109. được thiện thắng SA1110 Kinh 1110. cột trói SA1111 Kinh 1111. kính phật SA1112 Kinh 1112. kính pháp SA1113 Kinh 1113. kính tăng SA1114 Kinh 1114. tú-tỳ-lê SA1115 Kinh 1115. tiên nhân SA1116 Kinh 1116. diệt sân SA1117 Kinh 1117. ngày mồng tám SA1118 Kinh 1118. bệnh SA1119 Kinh 1119. bà-trĩ SA1120 Kinh 1120. thệ ước SA1121 Kinh 1121. thích thị SA1122 Kinh 1122. tật bệnh SA1123 Kinh 1123. bồ-đề SA1124 Kinh 1124. vãng sanh SA1125 Kinh 1125. tu-đà-hoàn (1) SA1126 Kinh 1126. tu-đà-hoàn (2) SA1127 Kinh 1127. bốn pháp SA1128 Kinh 1128. bốn quả (1) SA1129 Kinh 1129. bốn quả (2) SA1130 Kinh 1130. hàn xứ SA1131 Kinh 1131. bốn thức ăn SA1132 Kinh 1132. nhuận trạch (1) SA1133 Kinh 1133. nhuận trạch (2) SA1134 Kinh 1134. nhuận trạch (3) SA1135 Kinh 1135. bốn mươi thiên tử SA1136 Kinh 1136. nguyệt dụ SA1137 Kinh 1137. thí dữ SA1138 Kinh 1138. thắng SA1139 Kinh 1139. vô tín SA1140 Kinh 1140. phật là căn bản SA1141 Kinh 1141. quá già SA1142 Kinh 1142. nạp y nặng SA1143 Kinh 1143. khi ấy SA1144 Kinh 1144. chúng giảm thiểu SA1145 Kinh 1145. ưng thí SA1146 Kinh 1146. sáng tối SA1147 Kinh 1147. núi đá SA1148 Kinh 1148. xà-kỳ-la SA1149 Kinh 1149. bảy vua SA1150 Kinh 1150. thở suyển SA1151 Kinh 1151. a-tu-la SA1152 Kinh 1152. tân-kỳ-ca SA1153 Kinh 1153. mạ lỵ (1) SA1154 Kinh 1154. mạ lỵ (2) SA1155 Kinh 1155. trái nghĩa SA1156 Kinh 1156. bất hại SA1157 Kinh 1157. hỏa dữ SA1158 Kinh 1158. bà-tứ-tra SA1159 Kinh 1159. ma-cù SA1160 Kinh 1160. cầm lọng vàng SA1161 Kinh 1161. la-hán pháp SA1162 Kinh 1162. vợ chồng già SA1163 Kinh 1163. già chết SA1164 Kinh 1164. bà-la-diên SA1165 Kinh 1165. tân-đầu lô SA1166 Kinh 1166. ví dụ tay chân SA1167 Kinh 1167. con rùa SA1168 Kinh 1168. lúa SA1169 Kinh 1169. cây đàn SA1170 Kinh 1170. cùi hủi SA1171 Kinh 1171. sáu chúng sanh SA1172 Kinh 1172. rắn độc SA1173 Kinh 1173. khổ pháp SA1174 Kinh 1174. khúc gỗ trôi SA1175 Kinh 1175. khẩn-thú dụ SA1176 Kinh 1176. lậu pháp SA1177 Kinh 1177. sông tro SA1178 Kinh 1178. bà-tứ-tra SA1179 Kinh 1179. mất bò SA1180 Kinh 1180. trí giả SA1181 Kinh 1181. thiên tác SA1182 Kinh 1182. nghề ruộng SA1183 Kinh 1183. nhặt củi SA1184 Kinh 1184. tôn-đà-lợi (1) SA1185 Kinh 1185. tôn-đà-lợi (2) SA1186 Kinh 1186. búi tóc (1) SA1187 Kinh 1187. búi tóc (2) SA1188 Kinh 1188. tôn trọng SA1189 Kinh 1189. phạm thiên (1) SA1190 Kinh 1190. phạm chúa SA1191 Kinh 1191. không nhàn xứ SA1192 Kinh 1192. tập hội SA1193 Kinh 1193. cù-ca-lê SA1194 Kinh 1194. phạm thiên (2) SA1195 Kinh 1195. bà-cú phạm SA1196 Kinh 1196. tà kiến SA1197 Kinh 1197. nhập diệt SA1198 Kinh 1198. a-lạp-tỳ SA1199 Kinh 1199. tô-ma SA1200 Kinh 1200. cù-đàm-di
SA1177

Kinh 1177. sông tro

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Thí như có một sông tro, bờ Nam rất nóng, nhiều gai nhọn, ở nơi tối tăm, có nhiều tội nhân ở trong sông trôi dạt theo dòng. Trong đó có một người thông minh trí tuệ, không ngu si, ưa lạc chán khổ, ham sống sợ chết, tự nghĩ: ‘Hiện tại ta vì duyên gì mà ở sông tro này, bờ Nam thì nóng bức lại nhiều gai nhọn; ở nơi tối tăm, trôi dạt theo dòng như vậy? Ta sẽ dùng chân tay làm phương tiện, bơi ngược dòng lên.’ Dần dần thấy được chút ánh sáng, người ấy thầm nghĩ, ‘Ta đã gắng sức mới thấy được chút ánh sáng này.’ Rồi lại vận dụng tay chân, gắng thêm, nỗ lực thêm và thấy được đất bằng. Tức thì đứng lại đó quan sát chung quanh, thấy núi đá lớn nguyên vẹn không bị lở, không sụt, không bị đục thủng. Liền leo lên trên, lại thấy ao nước trong mát có đủ tám phần: mát lạnh, ngon ngọt, nhẹ nhàng, êm dịu, thơm tho, trong xanh, khi uống không bị nghẹn, không trở ngại trong cổ, đã uống vào rồi thì thân thể an lạc. Người ấy liền vào trong đó, hoặc uống hoặc tắm, xa lìa được phiền não. Sau đó, leo lên trên núi lớn, gặp bảy loài hoa: hoa Ưu-bát-la, hoa Bát-đàm-ma, hoa Câu-mâu-đầu, hoa Phân-đà-lợi, hoa Tu-kiên-đề, hoa Di-ly-đầu-kiên-đề, hoa A-đề-mục-đa, nghe thấy mùi hương thơm. Rồi lại lên núi đá, thấy tòa nhà bốn tầng cấp, liền ngồi trên ấy; thấy màn che có năm trụ, liền vào trong đó, điều thân ngồi ngay thẳng. Ở trong này, đầy đủ gối mền, rải hoa khắp nơi, trang hoàng đẹp đẽ; tự do ngồi nằm, gió mát bốn bề, làm cho thân thể an ổn. Ngồi trên cao, vị ấy nhìn xuống cất lớn tiếng xướng rằng:

“Hỡi chúng sanh, các Hiền chánh sĩ trong sông tro! Sông này bờ Nam nóng bức, phần nhiều là gai nhọn; nơi này tối tăm, nên tìm cách ra khỏi sông này!”

Có người nghe được những lời này, nương theo tiếng, hỏi rằng:

“Hướng nào ra được? Theo chỗ nào để ra?”

“Trong đó có lời nói:

“Ngươi cần gì hỏi, chỗ nào ra được? Cái người lớn tiếng gọi kia, chính nó cũng không biết, không thấy theo chỗ nào để ra. Nó cũng ở lại trong sông tro này, bờ Nam nóng bức, phần nhiều gai nhọn; ở đây tối tăm, theo dòng trôi xuống. Hỏi nó làm gì!

“Như vậy, Tỳ-kheo, Ta nói thí dụ này, nay Ta sẽ giải thích nghĩa của nó.

“Tro chỉ cho ba ác giác bất thiện. Những gì là ba? Là dục giác, nhuế giác và hại giác.

“Sông chỉ cho ba ái: Dục ái, sắc ái, vô sắc ái. Bờ Nam rất nóng bức chỉ cho nội ngoại sáu nhập xứ. Phần nhiều là gai nhọn chỉ cho năm công năng của dục. Chỗ tối tăm chỉ cho vô minh che lấp tuệ nhãn. Nhiều người chỉ cho phàm phu ngu si. Dòng là chỉ cho sông sanh tử. Trong đó có một người không ngu không si là chỉ cho Đại Bồ-tát. Dùng tay chân làm phương tiện bơi ngược dòng là chỉ cho tinh cần tu học. Thấy một chút ánh sáng ẩn hiện là được pháp nhẫn. Gặp được đất bằng là chỉ cho trì giới. Quan sát bốn phương là chỉ cho thấy được bốn Chân đế. Núi đá lớn là chỉ cho Chánh kiến. Nước tám phần là chỉ cho tám Thánh đạo. Bảy loài hoa là chỉ cho bảy Giác chi. Nhà bốn tầng cấp là chỉ cho bốn Như ý túc. Năm trụ màn che là chỉ cho năm Căn: Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ. Thân ngồi ngay thẳng là chỉ cho Vô dư Niết-bàn. Rải hoa khắp nơi là chỉ cho các thiền định, giải thoát, tam-muội, chánh thọ. Tự do ngồi nằm là chỉ cho Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác. Gió thổi bốn bề là chỉ cho bốn tâm tăng trưởng hiện pháp lạc trụ. Cất tiếng kêu gọi là chỉ cho Chuyển pháp luân. Kia có người hỏi: ‘Chư Hiền chánh sĩ ra chỗ nào?’ là chỉ cho Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên và các Tỳ-kheo Hiền thánh. Ở trong đó có lời nói: ‘Ngươi cần gì hỏi, chỗ nào ra được? Cái người kia cũng không biết, không thấy theo chỗ nào để ra. Nó cũng ở lại trong sông tro này, bờ Nam nóng bức, phần nhiều gai nhọn; và chỗ tối tăm theo dòng trôi xuống’, chỉ cho lục sư và các người tà kiến. Đó là Phú-lan-na Ca-diếp, Mạt-già-lê Cù-xá-lê Tử, Tán-xà-da Tỳ-la-chi Tử, A-kỳ-đa-chỉ-xá Khâm-bà-la, Già-câu-la Ca-đàn-diên, Ni-kiền-liên-đà-xà-đề Phất-đa-la và những người tà kiến khác.

“Như vậy, Tỳ-kheo, Đại Sư vì các đệ tử mà làm những việc cần làm. Nay Ta đã làm xong. Bây giờ, các ông phải làm những việc cần làm như Ta đã nói trong kinh Tráp Rắn Độc.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA1178...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc