Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa901-1000
SA915 Kinh 915. đao sư thị (2)
SA901 Kinh 901. thiện pháp kiến lập SA902 Kinh 902. như lai đệ nhất SA903 Kinh 903. ly tham pháp đệ nhất SA904 Kinh 904. thanh văn đệ nhất SA905 Kinh 905. ngoại đạo SA906 Kinh 906. pháp tướng hoại SA907 Kinh 907. giá-la-châu-la SA908 Kinh 908. chiến đấu hoạt SA909 Kinh 909. điều mã SA910 Kinh 910. hung ác SA911 Kinh 911. ma-ni châu kế SA912 Kinh 912. vương đảnh SA913 Kinh 913. kiệt đàm SA914 Kinh 914. đao sư thị (1) SA915 Kinh 915. đao sư thị (2) SA916 Kinh 916. đao sư thị (3) SA917 Kinh 917. tam chủng điều mã SA918 Kinh 918. thuận lương mã SA919 KINH 919 SA920 Kinh 920. tam SA921 Kinh 921. tứ SA922 Kinh 922. tiên ảnh SA923 Kinh 923. chỉ-thi SA924 Kinh 924. hữu quá SA925 Kinh 925. bát chủng đức SA926 Kinh 926. sằn-đà ca-chiên-diên SA927 Kinh 927. ưu-bà-tắc SA928 Kinh 928. thâm diệu công đức SA929 Kinh 929. nhất thiết sự SA930 Kinh 930. tự khủng SA931 Kinh 931. tu tập trụ SA932 Kinh 932. thập nhất SA933 Kinh 933. thập nhị SA934 Kinh 934. giải thoát SA935 Kinh 935. sa-đà SA936 Kinh 936. bách thủ SA937 Kinh 937. huyết SA938 Kinh 938. lệ SA939 Kinh 939. mẫu nhũ SA940 Kinh 940. thảo mộc SA941 Kinh 941. thổ hoàn liệp SA942 Kinh 942. an lạc SA943 Kinh 943. khổ não SA944 Kinh 944. khủng bố SA945 Kinh 945. ái niệm SA946 Kinh 946. hằng hà SA947 Kinh 947. lụy cốt SA948 Kinh 948. thành trì SA949 Kinh 949. núi SA950 Kinh 950. quá khứ SA951 Kinh 951. vô hữu nhất xứ SA952 Kinh 952. vô bất nhất xứ SA953 Kinh 953. bong bóng nước mưa SA954 Kinh 954. cơn mưa trút SA955 Kinh 955. ngũ tiết luân SA956 Kinh 956. tỳ-phú-la SA957 Kinh 957. thân mạng SA958 Kinh 958. mục-liên SA959 Kinh 959. kỳ tai SA960 Kinh 960. kỳ đặc SA961 Kinh 961. hữu ngã SA962 Kinh 962. kiến SA963 Kinh 963. vô tri SA964 Kinh 964. xuất gia SA965 Kinh 965. uất-đê-ca SA966 Kinh 966. phú-lân-ni SA967 Kinh 967. câu-ca-na SA968 Kinh 968. cấp cô độc SA969 Kinh 969. trường trảo SA970 Kinh 970. xá-la-bộ SA971 Kinh 971. thượng tọa SA972 Kinh 972. tam đế SA973 Kinh 973. chiên-đà SA974 Kinh 974. bổ-lũ-đê-ca (1) SA975 Kinh 975. bổ-lũ-đê-ca (2) SA976 Kinh 976. thi-bà (1) SA977 Kinh 977. thi-bà (2) SA978 Kinh 978. thương chủ SA979 Kinh 979. tu-bạt-đà-la SA980 Kinh 980. niệm tam bảo SA981 Kinh 981. cây phướn SA982 Kinh 982. a-nan xá-lợi-phất (1) SA983 Kinh 983. a-nan xá-lợi-phất (2) SA984 Kinh 984. ái (1) SA985 Kinh 985. ái (2) SA986 Kinh 986. hai sự khó đoạn SA987 Kinh 987. hai pháp SA988 Kinh 988. đế thích (1) SA989 Kinh 989. đế thích (2) SA990 Kinh 990. lộc trú (1) SA991 Kinh 991. lộc trú (2) SA992 Kinh 992. phước điền SA993 Kinh 993. tán thượng tọa SA994 Kinh 994. bà-kỳ-xá tán phật SA995 Kinh 995. a-luyện-nhã SA996 Kinh 996. kiêu mạn SA997 Kinh 997. công đức tăng trưởng SA998 Kinh 998. cho gì được sức lớn SA999 Kinh 999. hoan hỷ SA1000 Kinh 1000. viễn du
SA915

Kinh 915. đao sư thị (2)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở trong vườn Hảo y Yêm-la, tại thôn Na-la. Bấy giờ có thôn trưởng Đao Sư Thị, trước đây là đệ tử của Ni-kiền, đi đến chỗ Ni-kiền lễ sát chân Ni-kiền, rồi ngồi lui qua một bên. Bấy giờ, Ni-kiền bảo thôn trưởng:

“Ông có thể dùng ‘Tật-lê luận’ bàn luận cùng với Sa-môn Cù-đàm, để làm cho Sa-môn Cù-đàm nói cũng không được, không muốn nói cũng không được, được chăng?”

Thôn trưởng thưa Ni-kiền:

“Thưa thầy, thế nào là luận thuyết ‘Tật-lê luận’ có thể làm cho Sa-môn Cù-đàm muốn nói cũng không được, mà không muốn nói cũng không được?”

Ni-kiền bảo thôn trưởng:

“Ông hãy đến chỗ Sa-môn Cù-đàm nói như vầy: ‘Cù-đàm không thường muốn an ủi tất cả chúng sanh và khen ngợi an ủi tất cả chúng sanh phải không?’ Nếu nói là không, thì ông nên nói rằng: ‘Vậy, Cù-đàm có khác gì với kẻ phàm ngu si?’ Nếu trả lời là thường muốn an ủi tất cả chúng sanh và khen ngợi an ủi tất cả chúng sanh, thì ông nên hỏi lại rằng: ‘Nếu muốn an ủi tất cả chúng sanh, vậy thì vì sao chỉ vì một hạng người này nói pháp mà không vì một hạng người kia mà nói pháp?’ Hỏi như vậy thì đó gọi là ‘Tật-lê luận’ sẽ làm cho Sa-môn Cù-đàm muốn nói cũng không được, không muốn nói cũng không được.”

Bấy giờ, thôn trưởng Đao Sư Thị được sự khuyến khích của Ni-kiền rồi, đi đến chỗ Phật cung kính chào hỏi; sau khi cung kính chào hỏi xong ngồi lui qua một bên, bạch Phật:

“Thưa Cù-đàm, Ngài há không thường muốn an ủi tất cả chúng sanh và khen ngợi nói lời an ủi tất cả chúng sanh?”

Phật bảo thôn trưởng:

“Lúc nào Như Lai cũng thương xót, an ủi tất cả chúng sanh và lúc nào cũng khen ngợi nói lời an ủi tất cả chúng sanh.”

Thôn trưởng bạch Phật rằng:

“Nếu như vậy, thì tại sao Như Lai chỉ vì một hạng người này nói pháp, mà không vì một hạng người kia nói pháp?”

Phật bảo thôn trưởng:

“Bây giờ, Ta hỏi ông, ông cứ tùy ý mà đáp cho Ta.

“Này thôn trưởng, thí như có ba loại ruộng: Loại ruộng thứ nhất thì mầu mỡ, phì nhiêu; loại ruộng thứ hai thì trung bình; loại ruộng thứ ba thì cằn cỗi.

“Thế nào thôn trưởng, người chủ của những đám ruộng kia, trước tiên cày bừa, gieo giống vào đám ruộng nào?”

Thôn trưởng nói:

“Thưa Cù-đàm, trước tiên là phải cày bừa, gieo giống xuống đám ruộng mầu mỡ phì nhiêu nhất.”

“Này thôn trưởng, kế đến lại phải cày bừa, gieo giống xuống đám ruộng nào?”

Thôn trưởng nói:

“Thưa Cù-đàm, kế đến cày bừa, gieo giống xuống đám ruộng trung bình.”

Phật bảo thôn trưởng:

“Kế đến lại phải cày bừa, gieo giống xuống đám ruộng nào?”

Thôn trưởng thưa:

“Kế đến cày bừa, gieo giống xuống đám ruộng cằn cỗi xấu nhất.”

Phật bảo thôn trưởng:

“Vì sao như vậy?”

Thôn trưởng thưa:

“Vì họ không muốn bỏ phế ruộng chỉ giữ lại giống mà thôi!”

Phật bảo thôn trưởng:

“Ta cũng như vậy, như đám ruộng mầu mỡ, phì nhiêu kia, các Tỳ-kheo Tỳ-kheo-ni của Ta lại cũng như vậy. Ta thường vì họ mà giảng nói Chánh pháp, lúc đầu, khoảng giữa và sau cùng đều thiện, nghĩa thiện, vị thiện, thanh tịnh thuần nhất, phạm hạnh thanh bạch, khai thị rõ ràng. Sau khi họ nghe pháp rồi, nương vào nhà của Ta, đạo của Ta, sự che chở của Ta, bóng mát của Ta, đường hướng của Ta, lúc nào cũng dùng tịnh nhãn nhìn theo Ta mà sống và tự nghĩ như vầy: ‘Những pháp mà Phật đã nói ra, ta đều thọ trì, luôn luôn đem lại cho ta ý nghĩa lợi ích và sống an ổn an vui.’

“Này thôn trưởng, như đám ruộng trung bình kia, các đệ tử Ưu-bà-tắc và Ưu-bà-di của Ta cũng lại như vậy. Ta cũng vì họ giảng nói Chánh pháp ban đầu, khoảng giữa, sau cùng đều thiện, nghĩa thiện, vị thiện, thanh tịnh thuần nhất, phạm hạnh thanh bạch, khai thị rõ ràng. Sau khi họ nghe pháp xong, nương vào nhà của Ta, đạo của Ta, sự che chở của Ta, bóng mát của Ta, đường hướng của Ta, mà lúc nào cũng dùng tịnh nhãn nhìn theo Ta mà sống và nghĩ như vầy: ‘Những pháp Thế Tôn đã nói ra ta đều thọ trì luôn luôn đem lại cho ta ý nghĩa lợi ích, sống an ổn, an lạc.

“Này thôn trưởng, như đám ruộng xấu nhất của nhà nông kia, cũng vậy, Ta vì các dị học ngoại đạo Ni-kiền Tử, cũng vì họ mà nói pháp, pháp ban đầu, khoảng giữa, sau cùng đều thiện, nghĩa thiện, vị thiện, thanh tịnh thuần nhất, phạm hạnh thanh bạch, khai thị rõ ràng. Song đối với những người ít nghe pháp, Ta cũng vì họ mà nói và những người nghe pháp nhiều Ta cũng vì họ mà nói. Nhưng trong số những người này, đối với việc khéo nói pháp của Ta, đạt được một câu pháp mà biết được ý nghĩa của nó, thì cũng lại nhờ nghĩa lợi này mà sống yên ổn an lạc mãi mãi.”

Bấy giờ, thôn trưởng bạch Phật:

“Thật là kỳ diệu, Thế Tôn! Ngài đã khéo nói thí dụ về ba loại ruộng như vậyï.”

Phật bảo thôn trưởng:

“Ông hãy lắng nghe Ta cho thí dụ khác: Như một người có ba loại đồ vật đựng nước: loại thứ nhất không bị thủng, không bị hư, cũng không bị thấm rỉ; loại thứ hai tuy không bị thủng, không bị hư, nhưng bị thấm rỉ; loại thứ ba thì vừa bị thủng, vừa bị hư, lại vừa bị thấm rỉ nữa.

“Thế nào, thôn trưởng, trong ba loại đồ đó người kia sẽ chọn loại nào để đựng nước sạch?”

Thôn trưởng nói:

“Thưa Cù-đàm, trước hết là nên dùng loại không bị thủng, không bị hư, không bị thấm rỉ để đựng nước.”

Phật bảo thôn trưởng:

“Tiếp đến lại nên dùng loại nào để đựng nước?”

Thôn trưởng nói:

“Thưa Cù-đàm, kế đến nên đem loại không bị thủng, không bị hư, nhưng bị thấm rỉ để đựng nước.”

Phật bảo thôn trưởng:

“Hai loại kia đã đầy rồi, sau cùng lại dùng loại nào để đựng nước?”

Thôn trưởng nói:

“Sau cùng phải dùng loại vừa bị thủng, bị hư, bị thấm rỉ để đựng nước thôi! Vì sao? Vì chỉ tạm thời dùng vào việc nhỏ trong chốc lát.”

Phật bảo thôn trưởng:

“Giống như loại đồ của người kia không bị thủng, không bị hư, không bị thấm rỉ, các đệ tử Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni của Ta lại cũng như vậy. Ta thường vì họ giảng nói Chánh pháp,… cho đến luôn luôn vì nghĩa lợi, mà sống an ổn an vui.

“Giống như loại đồ thứ hai tuy không bị thủng, không bị hư, nhưng lại bị thấm rỉ, các đệ tử Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di của Ta lại cũng như vậy. Ta thường vì họ giảng nói Chánh pháp,… cho đến luôn luôn vì nghĩa lợi, mà sống an ổn an vui.

“Giống như loại đồ thứ ba vừa bị thủng, bị hư, bị thấm rỉ; các đệ tử dị học ngoại đạo của Ni-kiền lại cũng như vậy. Ta thường vì họ giảng nói Chánh pháp, ban đầu, khoảng giữa, sau cùng đều thiện, nghĩa thiện, vị thiện, hoàn toàn thanh tịnh thuần nhất, phạm hạnh thanh bạch, khai thị rõ ràng, dù nhiều hay ít Ta cũng vì họ mà nói. Nếu đối với một câu nói pháp của Ta mà họ biết được nghĩa của nó, thì cũng được sống an ổn, an vui mãi mãi.”

Lúc thôn trưởng Đao Sư Thị nghe những gì Phật nói, tâm sợ hãi vô cùng, lông toàn thân dựng đứng lên, liền đến trước Phật lễ dưới chân, sám hối những lỗi lầm:

“Bạch Thế Tôn, con như ngu, như si, không tốt, không hiểu biết; đối với Thế Tôn con đã nói những lời lừa dối hư trá không chân thật.”

Sau khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ tùy hỷ làm lễ mà lui.

⏳ Đang tải SA916...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc