Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa901-1000
SA929 Kinh 929. nhất thiết sự
SA901 Kinh 901. thiện pháp kiến lập SA902 Kinh 902. như lai đệ nhất SA903 Kinh 903. ly tham pháp đệ nhất SA904 Kinh 904. thanh văn đệ nhất SA905 Kinh 905. ngoại đạo SA906 Kinh 906. pháp tướng hoại SA907 Kinh 907. giá-la-châu-la SA908 Kinh 908. chiến đấu hoạt SA909 Kinh 909. điều mã SA910 Kinh 910. hung ác SA911 Kinh 911. ma-ni châu kế SA912 Kinh 912. vương đảnh SA913 Kinh 913. kiệt đàm SA914 Kinh 914. đao sư thị (1) SA915 Kinh 915. đao sư thị (2) SA916 Kinh 916. đao sư thị (3) SA917 Kinh 917. tam chủng điều mã SA918 Kinh 918. thuận lương mã SA919 KINH 919 SA920 Kinh 920. tam SA921 Kinh 921. tứ SA922 Kinh 922. tiên ảnh SA923 Kinh 923. chỉ-thi SA924 Kinh 924. hữu quá SA925 Kinh 925. bát chủng đức SA926 Kinh 926. sằn-đà ca-chiên-diên SA927 Kinh 927. ưu-bà-tắc SA928 Kinh 928. thâm diệu công đức SA929 Kinh 929. nhất thiết sự SA930 Kinh 930. tự khủng SA931 Kinh 931. tu tập trụ SA932 Kinh 932. thập nhất SA933 Kinh 933. thập nhị SA934 Kinh 934. giải thoát SA935 Kinh 935. sa-đà SA936 Kinh 936. bách thủ SA937 Kinh 937. huyết SA938 Kinh 938. lệ SA939 Kinh 939. mẫu nhũ SA940 Kinh 940. thảo mộc SA941 Kinh 941. thổ hoàn liệp SA942 Kinh 942. an lạc SA943 Kinh 943. khổ não SA944 Kinh 944. khủng bố SA945 Kinh 945. ái niệm SA946 Kinh 946. hằng hà SA947 Kinh 947. lụy cốt SA948 Kinh 948. thành trì SA949 Kinh 949. núi SA950 Kinh 950. quá khứ SA951 Kinh 951. vô hữu nhất xứ SA952 Kinh 952. vô bất nhất xứ SA953 Kinh 953. bong bóng nước mưa SA954 Kinh 954. cơn mưa trút SA955 Kinh 955. ngũ tiết luân SA956 Kinh 956. tỳ-phú-la SA957 Kinh 957. thân mạng SA958 Kinh 958. mục-liên SA959 Kinh 959. kỳ tai SA960 Kinh 960. kỳ đặc SA961 Kinh 961. hữu ngã SA962 Kinh 962. kiến SA963 Kinh 963. vô tri SA964 Kinh 964. xuất gia SA965 Kinh 965. uất-đê-ca SA966 Kinh 966. phú-lân-ni SA967 Kinh 967. câu-ca-na SA968 Kinh 968. cấp cô độc SA969 Kinh 969. trường trảo SA970 Kinh 970. xá-la-bộ SA971 Kinh 971. thượng tọa SA972 Kinh 972. tam đế SA973 Kinh 973. chiên-đà SA974 Kinh 974. bổ-lũ-đê-ca (1) SA975 Kinh 975. bổ-lũ-đê-ca (2) SA976 Kinh 976. thi-bà (1) SA977 Kinh 977. thi-bà (2) SA978 Kinh 978. thương chủ SA979 Kinh 979. tu-bạt-đà-la SA980 Kinh 980. niệm tam bảo SA981 Kinh 981. cây phướn SA982 Kinh 982. a-nan xá-lợi-phất (1) SA983 Kinh 983. a-nan xá-lợi-phất (2) SA984 Kinh 984. ái (1) SA985 Kinh 985. ái (2) SA986 Kinh 986. hai sự khó đoạn SA987 Kinh 987. hai pháp SA988 Kinh 988. đế thích (1) SA989 Kinh 989. đế thích (2) SA990 Kinh 990. lộc trú (1) SA991 Kinh 991. lộc trú (2) SA992 Kinh 992. phước điền SA993 Kinh 993. tán thượng tọa SA994 Kinh 994. bà-kỳ-xá tán phật SA995 Kinh 995. a-luyện-nhã SA996 Kinh 996. kiêu mạn SA997 Kinh 997. công đức tăng trưởng SA998 Kinh 998. cho gì được sức lớn SA999 Kinh 999. hoan hỷ SA1000 Kinh 1000. viễn du
SA929

Kinh 929. nhất thiết sự

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật ở trong vườn Ni-câu-luật, tại nước Ca-tỳ-la-vệ. Bấy giờ, có người họ Thích, là Ma-ha-nam đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, sao gọi là Ưu-bà-tắc?”

Phật bảo Ma-ha-nam:

“Ưu-bà-tắc là người sống tại gia trong sạch,… cho đến suốt đời quy y Tam bảo, làm Ưu-bà-tắc. Xin chứng tri cho con.”

Ma-ha-nam bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, sao là làm thành mãn tất cả sự của Ưu-bà-tắc?”

Phật bảo Ma-ha-nam:

“Nếu Ưu-bà-tắc nào có tín, nhưng không có giới, đó là không đủ, mà hãy nỗ lực tinh cần, đủ tịnh giới. Có đủ tín và giới, nhưng không bố thí thì cũng chưa đủ; vì chưa đủ nên phải nỗ lực tinh cần, tu tập bố thí để làm được đủ. Tín, giới và thí đã đầy, nhưng nếu không tùy thời đến Sa-môn để lắng nghe lãnh thọ Chánh pháp, thì vẫn chưa đủ. Vì chưa đủ cho nên phải nỗ lực tinh cần. Tùy thời đến chùa tháp, nhưng gặp các Sa-môn mà không một lòng lắng nghe lãnh thọ Chánh pháp, thì vẫn chưa đủ. Tín, giới, thí và nghe tu tập đã đầy, nhưng nghe rồi mà không ghi giữ, thì vẫn chưa có đủ; vì không đủ nên phải nỗ lực tinh cần. Tùy thời đến Sa-môn, chuyên tâm lắng nghe pháp, nghe rồi thì phải khéo ghi giữ. Nếu không thể quán sát nghĩa lý sâu xa của các pháp, thì đó chưa phải là đủ; vì không có đủ nên phải nỗ lực tinh cần hơn, làm cho có đủ. Tín, giới, bố thí, nghe, nghe rồi thì khéo ghi giữ, ghi giữ rồi quán sát nghĩa lý sâu xa, mà không tùy thuận để biết hướng đến pháp và thứ pháp, thì đó vẫn chưa có đủ; vì chưa có đủ nên phải nỗ lực tinh cần. Tín, giới, bố thí, nghe, ghi giữ, quán sát, hiểu rõ nghĩa lý sâu xa và tùy thuận thực hành hướng đến pháp, thứ pháp. Ma-ha-nam, đó gọi là có đủ tất cả sự của Ưu-bà-tắc.”

Ma-ha-nam bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, sao là Ưu-bà-tắc hay tự an ủy mình, chẳng an ủy người khác?”

Phật bảo Ma-ha-nam:

“Nếu Ưu-bà-tắc nào có thể tự mình đứng vững trong giới nhưng không thể khiến cho người đứng vững trong chánh giới; tự mình giữ tịnh giới, nhưng không thể khiến cho người khác giữ giới có đủ; tự mình làm việc bố thí, nhưng không thể xác lập bố thí nơi người khác; tự mình đi chùa tháp, đến gặp các Sa-môn, nhưng không thể khuyên người khác đi chùa tháp, đến gặp Sa-môn; tự mình chuyên nghe pháp, nhưng không thể khuyên người thích nghe Chánh pháp; nghe Chánh pháp tự mình thọ trì, nhưng không thể khiến người khác thọ trì Chánh pháp; tự mình có thể quán sát nghĩa lý sâu xa, nhưng không thể khuyên người quán sát nghĩa lý sâu xa; tự mình biết pháp sâu xa có thể tùy thuận thực hành hướng đến pháp, thứ pháp, nhưng không thể khuyên người khiến họ tùy thuận thực hành hướng đến pháp, thứ pháp.

Này Ma-ha-nam, người thành tựu tám pháp như vậy, thì đó gọi là Ưu-bà-tắc có thể tự an ủy, nhưng không thể an ủy người khác.”

Ma-ha-nam bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, Ưu-bà-tắc thành tựu bao nhiêu pháp để tự an ủyï và giúp người được an ủy?”

Phật bảo Ma-ha-nam:

“Nếu Ưu-bà-tắc nào thành tựu mười sáu pháp, đó gọi là Ưu-bà-tắc tự an ủy và giúp người được an ủy.”

“Những gì là mười sáu pháp?

“Này Ma-ha-nam, nếu Ưu-bà-tắc đủ có chánh tín và cũng xác lập cho người khác; tự mình giữ tịnh giới, cũng xác lập tịnh giới cho người khác; tự mình hành bố thí và dạy người hành bố thí; tự mình đến chùa tháp gặp các Sa-môn, cũng dạy người khác đến gặp các Sa-môn; tự mình chuyên cần nghe pháp, cũng dạy người nghe; tự mình thọ trì pháp và dạy người khác thọ trì; tự mình quán sát nghĩa dạy người quán sát; tự mình biết nghĩa lý sâu xa tùy thuận tu, hành pháp thứ, pháp hướng, cũng lại dạy người hiểu rõ nghĩa lý sâu xa, tùy thuận tu hành hướng đến pháp, thứ pháp. Này Ma-ha-nam, người nào thành tựu mười sáu pháp như vậy, được gọi là Ưu-bà-tắc có thể tự an ủy và làm người khác được an ủy.

“Này Ma-ha-nam, nếu Ưu-bà-tắc nào thành tựu mười sáu pháp như vậy, thì tất cả người trong các chúng Bà-la-môn, chúng Sát-lợi, chúng Trưởng giả, chúng Sa-môn đều đến chỗ họ. Ở trong các chúng này, oai đức của họ sáng chói. Giống như mặt trời, ánh sáng chiếu soi cả sáng, trưa, chiều. Cũng vậy, Ưu-bà-tắc nào thành tựu mười sáu pháp, thì oai đức họ cũng tỏ rạng cả đầu, giữa và cuối. Như vậy, này Ma-ha-nam, nếu Ưu-bà-tắc nào thành tựu mười sáu pháp thì đó là một điều mà thế gian khó thành tựu được.”

Phật nói kinh này xong, Ma-ha-nam dòng họ Thích nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy làm lễ rồi lui.

⏳ Đang tải SA930...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc