Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa901-1000
SA990 Kinh 990. lộc trú (1)
SA901 Kinh 901. thiện pháp kiến lập SA902 Kinh 902. như lai đệ nhất SA903 Kinh 903. ly tham pháp đệ nhất SA904 Kinh 904. thanh văn đệ nhất SA905 Kinh 905. ngoại đạo SA906 Kinh 906. pháp tướng hoại SA907 Kinh 907. giá-la-châu-la SA908 Kinh 908. chiến đấu hoạt SA909 Kinh 909. điều mã SA910 Kinh 910. hung ác SA911 Kinh 911. ma-ni châu kế SA912 Kinh 912. vương đảnh SA913 Kinh 913. kiệt đàm SA914 Kinh 914. đao sư thị (1) SA915 Kinh 915. đao sư thị (2) SA916 Kinh 916. đao sư thị (3) SA917 Kinh 917. tam chủng điều mã SA918 Kinh 918. thuận lương mã SA919 KINH 919 SA920 Kinh 920. tam SA921 Kinh 921. tứ SA922 Kinh 922. tiên ảnh SA923 Kinh 923. chỉ-thi SA924 Kinh 924. hữu quá SA925 Kinh 925. bát chủng đức SA926 Kinh 926. sằn-đà ca-chiên-diên SA927 Kinh 927. ưu-bà-tắc SA928 Kinh 928. thâm diệu công đức SA929 Kinh 929. nhất thiết sự SA930 Kinh 930. tự khủng SA931 Kinh 931. tu tập trụ SA932 Kinh 932. thập nhất SA933 Kinh 933. thập nhị SA934 Kinh 934. giải thoát SA935 Kinh 935. sa-đà SA936 Kinh 936. bách thủ SA937 Kinh 937. huyết SA938 Kinh 938. lệ SA939 Kinh 939. mẫu nhũ SA940 Kinh 940. thảo mộc SA941 Kinh 941. thổ hoàn liệp SA942 Kinh 942. an lạc SA943 Kinh 943. khổ não SA944 Kinh 944. khủng bố SA945 Kinh 945. ái niệm SA946 Kinh 946. hằng hà SA947 Kinh 947. lụy cốt SA948 Kinh 948. thành trì SA949 Kinh 949. núi SA950 Kinh 950. quá khứ SA951 Kinh 951. vô hữu nhất xứ SA952 Kinh 952. vô bất nhất xứ SA953 Kinh 953. bong bóng nước mưa SA954 Kinh 954. cơn mưa trút SA955 Kinh 955. ngũ tiết luân SA956 Kinh 956. tỳ-phú-la SA957 Kinh 957. thân mạng SA958 Kinh 958. mục-liên SA959 Kinh 959. kỳ tai SA960 Kinh 960. kỳ đặc SA961 Kinh 961. hữu ngã SA962 Kinh 962. kiến SA963 Kinh 963. vô tri SA964 Kinh 964. xuất gia SA965 Kinh 965. uất-đê-ca SA966 Kinh 966. phú-lân-ni SA967 Kinh 967. câu-ca-na SA968 Kinh 968. cấp cô độc SA969 Kinh 969. trường trảo SA970 Kinh 970. xá-la-bộ SA971 Kinh 971. thượng tọa SA972 Kinh 972. tam đế SA973 Kinh 973. chiên-đà SA974 Kinh 974. bổ-lũ-đê-ca (1) SA975 Kinh 975. bổ-lũ-đê-ca (2) SA976 Kinh 976. thi-bà (1) SA977 Kinh 977. thi-bà (2) SA978 Kinh 978. thương chủ SA979 Kinh 979. tu-bạt-đà-la SA980 Kinh 980. niệm tam bảo SA981 Kinh 981. cây phướn SA982 Kinh 982. a-nan xá-lợi-phất (1) SA983 Kinh 983. a-nan xá-lợi-phất (2) SA984 Kinh 984. ái (1) SA985 Kinh 985. ái (2) SA986 Kinh 986. hai sự khó đoạn SA987 Kinh 987. hai pháp SA988 Kinh 988. đế thích (1) SA989 Kinh 989. đế thích (2) SA990 Kinh 990. lộc trú (1) SA991 Kinh 991. lộc trú (2) SA992 Kinh 992. phước điền SA993 Kinh 993. tán thượng tọa SA994 Kinh 994. bà-kỳ-xá tán phật SA995 Kinh 995. a-luyện-nhã SA996 Kinh 996. kiêu mạn SA997 Kinh 997. công đức tăng trưởng SA998 Kinh 998. cho gì được sức lớn SA999 Kinh 999. hoan hỷ SA1000 Kinh 1000. viễn du
SA990

Kinh 990. lộc trú (1)

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành Vương xá. Bấy giờ, sáng sớm, Tôn giả A-nan đắp y, ôm bát, đi đến thành Xá-vệ, lần lượt khất thực, đến nhà Ưu-bà-di Lộc Trụ. Ưu-bà-di Lộc Trụ từ xa trông thấy Tôn giả A-nan vội vàng sửa soạn chỗ ngồi và mời Tôn giả A-nan an tọa. Sau đó, Ưu-bà-di Lộc Trụ cúi đầu lễ dưới chân Tôn giả A-nan, rồi đứng lui qua một bên, bạch Tôn giả A-nan:

“Thưa Tôn giả, pháp của Thế Tôn cần được hiểu như thế nào? Cha của con là Phú-lan-na trước kia tu phạm hạnh, lìa dục, thanh tịnh, không đeo hương hoa, xa lìa những thứ phàm tục thô bỉ. Còn chú là Lê-sư-đạt-đa không tu phạm hạnh nhưng ông biết đủ. Cả hai người đều qua đời, mà Thế Tôn đều ký thuyết hai người sanh một nơi, cùng thọ sanh như nhau, đời sau đồng đắc Tư-đà-hàm, sanh về cõi trời Đâu-suất, một lần trở lại thế gian, cứu cánh biên tế của khổ.

“Tại sao, thưa A-nan, người tu phạm hạnh và người không tu phạm hạnh lại cùng sanh một nơi, cùng thọ sanh như nhau và đời sau của họ cũng giống nhau?”

A-nan đáp:

“Này cô, hãy thôi đi! Cô không thể biết được căn tánh sai biệt của chúng sanh thế gian. Như Lai tất biết rõ căn tính ưu, liệt của chúng sanh thế gian.”

Nói như vậy xong, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.

Tôn giả A-nan trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân, rồi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên, đem những gì Ưu-bà-di Lộc Trụ nói bạch hết lên Thế Tôn.

Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:

“Ưu-bà-di Lộc Trụ làm sao có thể biết được căn tính ưu, liệt của chúng sanh thế gian. A-nan, Như Lai tất biết rõ căn tánh ưu, liệt của chúng sanh thế gian. Này A-nan, hoặc có một người phạm giới. Người ấy không biết như thật đối với tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Nhưng sự phạm giới mà người ấy khởi lên đã diệt không còn, đã chìm mất không còn, dục hết không còn. Lại có một người phạm giới, do biết như thật tâm giải thoát, tuệ giải thoát, sự phạm giới mà người ấy khởi lên đã diệt không còn, đã chìm mất không còn, dục hết không còn. Đối với những người này, so sánh mà nói rằng: ‘Người này cũng có pháp như vậy, người kia cũng có pháp như vậy, ở đây cả hai phải cùng sanh một chỗ, đồng thọ sanh như nhau và đời sau cũng như nhau.’ Người nào so sánh như vậy, sẽ khổ lâu dài, không nghĩa, không lợi ích.

“Này A-nan, người phạm giới kia, đối với tâm giải thoát, tuệ giải thoát mà không biết như thật, nhưng sự phạm giới mà người ấy khởi lên đã diệt không còn, đã chìm mất không còn, dục hết không còn. Nên biết người này thoái đọa, không phải thăng tiến. Ta nói người này thuộc hạng thoái đọa.

“A-nan, có kẻ phạm giới, do biết như thật tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nên sự phạm giới mà người ấy khởi lên đã diệt không còn, đã chìm mất không còn, dục hết không còn; nên biết người này thăng tiến chứ không thoái đọa. Ta nói người này thuộc hạng thăng tiến. Nếu chẳng phải Như Lai thì ai có thể biết rõ sự gián cách giữa hai hạng người này?

“Cho nên, này A-nan, chớ nên so sánh người này với người kia mà thiên chấp người. Chớ so sánh người này với người kia gây bệnh người. Chớ so sánh người này với người kia thì tự chiêu lấy tai hại. Chỉ có Như Lai mới biết rõ người này với người kia mà thôi.

“Như hai hạng người phạm giới, hai hạng người trì giới cũng vậy. Người kia không biết như thật tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nhưng sự trì giới mà người ấy khởi lên thì đã diệt, không còn.

“Hoặc người trạo cử tháo động, không biết như thật đối với tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nhưng sự trạo cử của người ấy đã diệt không còn.

“Hoặc người kia sân hận, không biết như thật đối với tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nhưng tâm sân hận của họ đã diệt không còn.

“Hoặc người khổ tham, không biết như thật đối với tâm giải thoát, tuệ giải thoát, nhưng sự khổ tham của họ đã diệt không còn.”

Ô uế và thanh tịnh, cũng được nói như trên… cho đến “Chỉ có Như Lai mới biết rõ người này với người kia mà thôi.”

“Này A-nan, Ưu-bà-di Lộc Trụ ngu si, trí kém, nên đối với việc thuyết pháp nhất hướng của Như Lai tâm sanh hồ nghi. Thế nào, A-nan, những gì Như Lai dạy có phải là hai hướng không?”

A-nan bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, không!”

Phật bảo A-nan:

“Lành thay! Lành thay! Như Lai nói pháp nếu là hai thì điều này không thể có. Này A-nan, nếu Phú-lan-na trì giới, Lê-sư-đạt-đa cũng là người trì giới, mà chỗ thọ sanh, là điều Phú-lan-na không thể biết được, rằng Lê-sư-đạt-đa sanh nơi nào, thọ sanh thế nào, đời sau thế nào? Nếu Lê-sư-đạt-đa thành tựu trí tuệ và Phú-lan-na cũng thành tựu trí tuệ này, thì Lê-sư-đạt-đa cũng không thể biết Phú-lan-na sẽ sanh nơi nào, thọ sanh thế nào, đời sau thế nào? A-nan, Phú-lan-na trì giới hơn, còn Lê-sư-đạt-đa trí tuệ hơn, nếu cả hai mạng chung, thì Ta nói hai người cùng sanh một nơi, cùng thọ sanh như nhau, đời sau cùng đắc Tư-đà-hàm, sanh lên cõi trời Đâu-suất, chỉ một lần sanh trở lại nơi này cứu cánh biên tế của khổ.

“Giữa hai người này nếu chẳng phải Như Lai, thì ai có thể biết được? Cho nên A-nan, chớ nên so sánh người này với người kia. Nếu so sánh người này với người kia thì tự sanh tổn giảm. Chỉ có Như Lai mới có thể biết rõ người.”

Phật nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA991...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc